Bản án số 1/2026/HC-ST ngày 24/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 1/2026/HC-ST ngày 24/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 1/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/07/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: DƯƠNG THÀNH N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1/2026/HC-ST Bản án số 1/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1/2026/HC-ST Bản án số 1/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 01/2026/HC-ST
Ngày: 23/7/2026
V/v “Khiếu kiện Quyết định
hành chính trong lĩnh vực đất đai”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hoà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tạ Văn Đài – Cán bộ hưu trí.
2. Ông Nguyễn Quí Hạc Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Phương Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 3 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai xét
xử thẩm công khai vụ án hành chính thụ số: 08/2025/TLST-HC ngày 23
tháng 10 năm 2025, về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực
đất đai” giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Dương Thành N, sinh năm 1940;
Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố Đ;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thành M, sinh năm 1968. Địa
chỉ: D S, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; Ông Nguyễn Tiến V, sinh năm
1982. Địa chỉ: 1 V, phường G, thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền
ngày 20/3/2025).
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ.
Địa chỉ: Số B, đường N, phường T, thành phố Đ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trường S Phó chủ tịch Ủy ban
nhân dân thành phố Đ.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Ông Vương Đình H Trưởng
phòng Kinh tế Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1946 (đã chết).
Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố Đ;
Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đ gồm:
+ Ông Dương Thành N, sinh năm 1940;
2
Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố Đ;
+ Ông Dương Thành T, sinh năm 1966.
Địa chỉ: B.1.2 P, khu phố A, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Ông Dương Thành M, sinh năm 1968.
Địa chỉ: D S, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Ông Dương Thanh T1, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố Đ.
+ Bà Dương Thị Thúy H1, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố Đ.
+ Ông Dương Thanh H2, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố Đ.
+ Ông Dương Thanh H3, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố Đ.
+ Ông Dương Trung H4, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố Đ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thành M, sinh năm 1968. Địa
chỉ: D S, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; Ông Nguyễn Tiến V, sinh năm
1982. Địa chỉ: 146/37/31 V, phường G, thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Chủ tịch ủy ban nhân dân phường T.
Địa chỉ: Đường N, khu phố C, phường T, thành phố Đ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Trung T2 Phó chủ tịch Ủy ban
nhân dân phường T, thành phố Đ.
(Ông M, ông V và ông H có mặt; ông S, ông T2 có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Người khởi kiện - ông Dương Thành N do người đại diện theo uỷ quyền
ông Dương Thành M, ông Nguyễn Tiến V trình bày:
Thực hiện Dự án xây dựng đường N tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai
(nay phường T, thành phố Đ), theo Quyết định số 1221/QĐ-UBND ngày
29/3/2021 của Ủy ban nhân dân huyện T, hộ ông Dương Thành N bị thu hồi 111m²
đất thuộc thửa đất số 79, tờ bản đồ số 34. Sau khi thu hồi, diện tích đất còn lại
60,8m², trong đó 54,3m² thuộc quy hoạch đất 6,5m² thuộc quy hoạch
giao thông. Ông N cho rằng sau khi loại trừ diện tích thuộc quy hoạch giao thông
thì diện tích đất còn lại chỉ còn 54,3m², nhỏ hơn diện tích tối thiểu được tách
thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Đồng thời, ông đã đơn đề nghị
Nhà nước thu hồi, bồi thường toàn bộ phần diện tích đất còn lại nên đủ điều kiện
được bố trí tái định cư.
Tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Văn bản số
3100/UBND-PTQĐ ngày 24/3/2023 không chấp thuận giao đất tái định cho
ông N. Không đồng ý với văn bản này, ông N khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân
dân huyện T. Ngày 21/8/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết
định số 3445/-UBND giải quyết khiếu nại lần đầu, không chấp nhận nội dung
khiếu nại và giữ nguyên Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ.
3
Tiếp tục không đồng ý, ông N khiếu nại lần hai đến Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh Đ. Ngày 22/8/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết
định số 2503/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần hai, không công nhận nội dung
khiếu nại của ông N và giữ nguyên Quyết định số 3445/QĐ-UBND của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân huyện T.
Người khởi kiện cho rằng Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ được ban hành không đúng trình tự, thủ tục theo quy
định của Luật Khiếu nại chưa thực hiện đầy đviệc xác minh, không tổ chức
đối thoại với người khiếu nại. Đồng thời, việc xác định diện tích đất còn lại sau
thu hồi đxem xét điều kiện bố trí tái định không đúng quy định, do cơ quan
có thẩm quyền không loại trừ diện tích 6,5m² thuộc quy hoạch giao thông khi xác
định diện tích tối thiểu được tách thửa. Theo người khởi kiện, nếu loại trừ phần
diện tích này tdiện tích đất còn lại chỉ còn 54,3m², không đủ điều kiện tách
thửa và thuộc trường hợp được bố trí tái định cư theo quy định của pháp luật.
Do đó, người khởi kiện yêu cầu Tòa án:
Hủy Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 22/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh Đ về việc giải quyết khiếu nại lần hai.
Hủy Quyết định số 3445/QĐ-UBND ngày 21/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân huyện T (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T) về việc giải quyết
khiếu nại lần đầu.
Hủy Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ ngày 24/3/2023 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân huyện T về việc trả lời đơn của hộ ông Dương Thành N.
* Người bị kiện - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ do người đại
diện theo ủy quyền ông Lê Trường S trình bày:
Thực hiện Dự án đầu tư xây dựng đường N oạn song song Quốc lộ A từ
đường Đ đến ngã ba C), ngày 29/3/2021, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành
Quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông
Dương Thành N; sau đó ban hành quyết định bồi thường bổ sung để thực hiện dự
án.
Không đồng ý việc không được bố trí tái định cư, ông Dương Thành N
đơn đề nghị được giao đất tái định được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện
T trả lời tại Văn bản s3100/UBND-PTQĐ ngày 24/3/2023. Sau khi ông N khiếu
nại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 3445/QĐ-UBND
ngày 21/8/2023 giải quyết khiếu nại lần đầu. Tiếp đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 22/8/2024 giải quyết khiếu
nại lần hai, giữ nguyên Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.
Theo người bị kiện, hồ sơ địa chính, hồ bồi thường, kết quả đo đạc và
xác minh đều xác định thửa đất của ông Dương Thành N tổng diện tích
171,8m²; diện tích bị thu hồi 111m²; diện tích còn lại sau thu hồi 60,8m².
Phần diện tích còn lại đủ điều kiện được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, đủ điều kiện cấp phép xây dựng nhà ở và có diện tích lớn hơn diện tích
tối thiểu được tách thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
4
Người bị kiện cho rằng hộ ông Dương Thành N không thuộc trường hợp
được bố trí tái định cư theo quy định của pháp luật; việc ban hành Quyết định số
2503/QĐ-UBND ngày 22/8/2024 là đúng trình tự, thủ tục và đúng quy định pháp
luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương
Thành N.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Chủ tịch Ủy ban nhân dân
phường T, thành phố Đ do người đại diện theo ủy quyền ông Phan Trung T2
trình bày:
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất với quan điểm của người
bị kiện. Theo kết quả rà soát hồ sơ bồi thường, hồ sơ địa chính, kết quả đo đạc và
xác minh, diện tích đất n lại sau khi Nhà nước thu hồi của hộ ông Dương Thành
N 60,8m². Diện tích này đủ điều kiện được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, đủ điều kiện xây dựng nhà và lớn hơn diện tích tối thiểu được tách
thửa theo quy định.
Do đó, xác định hộ ông Dương Thành N không thuộc trường hợp được bố
trí tái định cư; việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T trước đây ban hành Văn
bản số 3100/UBND-PTQĐ ngày 24/3/2023 Quyết định số 3445/QĐ-UBND
ngày 21/8/2023 căn cứ. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanNguyễn Thị Đ do những
người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng trình bày:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ thực hiện không đúng trình tự, thủ tục,
giải quyết khiếu nại điều quan trọng đã cố tình áp dụng không đúng quy
định, cụ thể: Không căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 3 về diện tích tối thiểu đối
với loại đất của Quyết định số 22/2020/QĐ-UBND ngày 08/06/2020 đkết luận
ông Dương Thành N không đủ điều kiện được bố trí tái định cư hộ chính. vậy,
đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thành N.
* Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai phát biểu quan điểm về việc
tuân theo pháp luật và hướng giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật ttụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
đã thực hiện đúng theo các quy định của Luật Tố tụng hành chính.
- Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ
ông Trường S người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường T là ông Phan Trung T2 có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của Luật Tố tụng
hành chính.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Quyết định hành chính số 2503/QĐ-UBND
ngày 22/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ, Quyết định số
3445/QĐ-UBND ngày 21/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T Văn
bản số 3100/UBND-PTQĐ ngày 24/03/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
5
phường T được ban hành đúng trình tự, thủ tục phù hợp với các quy định của
pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thành N là không có cơ sở, đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng
Sau khi nhận được Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ ngày 24/3/2023 của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T về việc không chấp nhận yêu cầu giao đất tái
định cư, ông Dương Thành N đã thực hiện quyền khiếu nại theo quy định của Luật
Khiếu nại. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 3445/QĐ-
UBND ngày 21/8/2023 giải quyết khiếu nại lần đầu; sau đó Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 22/8/2024 giải quyết
khiếu nại lần hai. Không đồng ý với các quyết định văn bản nêu trên, ông
Dương Thành N khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 2503/QĐ-UBND,
Quyết định số 3445/QĐ-UBND và Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ.
Căn cứ các Điều 115 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, xác định
người khởi kiện có quyền khởi kiện và còn thời hiệu khởi kiện.
Đối tượng khởi kiện trong vụ án là Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai,
Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ có nội
dung không chấp nhận yêu cầu bố trí tái định của người khởi kiện. Mặc Văn
bản số 3100 không mang tên“quyết định”, nhưng văn bản này được ban hành
bởi người thẩm quyền trong hoạt động quản hành chính, áp dụng đối với
một đối tượng cụ thể, giải quyết dứt điểm yêu cầu của công dân và trực tiếp làm
phát sinh hậu quả pháp đối với quyền, lợi ích của người khởi kiện trong việc
được xem xét bố trí tái định cư. Do đó, Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ cùng với
Quyết định số 3445/QĐ-UBND và Quyết định số 2503/QĐ-UBND đều đối
tượng khởi kiện của ván hành chính; quan hệ pháp luật được xác định “Khiếu
kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”.
Về tư cách tham gia tố tụng, Quyết định số 2503/QĐ-UBND do Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính
thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ người kế thừa quyền, nghĩa vụ t
tụng. Đối với Quyết định số 3445/QĐ-UBND và Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ
do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ban hành, sau khi thực hiện việc chuyển
giao nhiệm vụ, quyền hạn theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP hướng dẫn tại
Công văn số 285/TANDTC-PC ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân phường T tham gia tố tụng với cách người kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T đối với các quyết định,
văn bản nêu trên.
6
Do đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ và của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
phường T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3
- Đồng Nai theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2025.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện
[2.1] Về thẩm quyền ban hành các quyết định, văn bản bị khởi kiện
Quyết định s3445/QĐ-UBND ngày 21/8/2023 được Chủ tịch Ủy ban nhân
dân huyện T ban hành để giải quyết khiếu nại lần đầu đối với Văn bản số
3100/UBND-PTQĐ; Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 22/8/2024 được Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành để giải quyết khiếu nại lần hai theo trình tự
Luật Khiếu nại năm 2011. Đối chiếu các Điều 17, 18, 21, 37 và 39 Luật Khiếu nại
năm 2011, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hai quyết định giải quyết khiếu
nại được ban hành đúng thẩm quyền.
Đối với Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ ngày 24/3/2023, mặc dù tên gọi
“Văn bản trả lời đơn”, nhưng nội dung thể hiện việc Chủ tịch y ban nhân dân
huyện T giải quyết dứt điểm yêu cầu giao đất tái định của ông Dương Thành
N, không chấp nhận yêu cầu của người dân và chấm dứt việc xem xét cấp huyện.
vậy, xét về bản chất pháp lý, đây là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản
lý đất đai và thuộc đối tượng kiểm tra tính hợp pháp của Tòa án trong cùng vụ án
này.
[2.2] Về trình tự, thủ tục ban hành các quyết định bị khởi kiện
Người khởi kiện cho rằng Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ không thực
hiện đầy đtrình tự giải quyết khiếu nại, không tổ chức đối thoại ban hành
Quyết định số 2503/QĐ-UBND khi chưa có kết quả xác minh.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Đối với nội dung cho rằng Quyết định số
2503/QĐ-UBND được ban hành trước khi kết quả soát theo Công văn số
11117/UBND-TCD, đâytài liệu được ban hành trong quá trình chỉ đạo, rà soát
nội bộ nhằm tiếp tục kiểm tra, hoàn thiện việc quản lý nhà nước; không phải
n cứ làm phát sinh hay thay đổi trình tự giải quyết khiếu nại đã được Luật Khiếu
nại quy định. Hồ sơ thể hiện trước khi ban hành Quyết định số 2503/QĐ-UBND,
Thanh tra tỉnh đã tiến hành xác minh, lập Báo cáo số 33/BC-TT ngày 08/3/2024,
Văn bản số 1693/TT-NV1 ngày 30/7/2024 và đã tổ chức đối thoại với người
khiếu nại. Do đó, không căn cứ xác định việc ban hành Quyết định số 2503/QĐ-
UBND vi phạm trình tự giải quyết khiếu nại. Đối với nội dung cho rằng Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh không tổ chức đối thoại, hồ thể hiện việc giải quyết khiếu
nại đã có quá trình xác minh, làm việc với người khiếu nại, thu thập tài liệu từ các
quan chuyên môn tổ chức đối thoại theo quy định. Người khởi kiện cũng
7
không cung cấp được tài liệu chứng minh quyền tham gia đối thoại của mình bị
hạn chế hoặc việc không tham gia đối thoại đã làm ảnh hưởng đến nội dung giải
quyết khiếu nại. vậy, Hội đồng xét xử không căn cứ chấp nhận nội dung
này.
[2.3] Về nội dung các quyết định b khởi kiện
Người khởi kiện cho rằng phần diện tích còn lại sau thu hồi 60,8m² nhưng
trong đó 6,5m² thuộc quy hoạch giao thông, nên khi áp dụng điểm c khoản 1
Điều 3 Quyết định số 22/2020/QĐ-UBND phải loại trừ diện tích này; diện tích
còn lại thực tế chỉ còn 54,3m², nhỏ hơn diện tích tối thiểu được tách thửa là 60m²,
từ đó cho rằng hộ ông đủ điều kiện được bố trí tái định theo điểm a khoản 2
Điều 4 Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND.
Hội đồng xét xử xét thấy lập luận trên không có căn cứ.
Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND quy định điều kiện btrí tái định đối
với trường hợp bị thu hồi đất mà phần đất ở còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu
được tách thửa. Tiêu chí so sánh là diện tích đất ở còn lại sau thu hồi, không phải
diện tích đất sau khi tiếp tục loại trừ phần diện tích nằm trong quy hoch giao
thông.
Điểm c khoản 1 Điều 3 Quyết định số 22/2020/QĐ-UBND được ban hành
nhằm xác định điều kiện tách thửa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quy định diện tích tối thiểu sau tách thửa không tính phần diện tích thuộc hành
lang bảo vệ công trình diện tích thuộc quy hoạch thực hiện dự án, công trình
nhưng chưa thu hồi. Quy định này điều chỉnh hoạt động đăng đất đai, không
phải là căn cứ độc lập để xác định điều kiện bố trí tái định cư theo Quyết định số
27/2020/QĐ-UBND.
Hơn nữa, toàn bộ hchuyên môn do Văn phòng Đ1, Phòng T3, Phòng
Quản đô thị các quan liên quan lập trong quá trình xác minh đều thống
nhất xác định:
- Diện tích còn lại sau thu hồi là 60,8m²;
- Phần diện tích này đủ điều kiện xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất;
- Đủ điều kiện cấp phép xây dựng nhà ở trên phần diện tích đất ở;
- Việc 6,5m² thuộc quy hoạch giao thông không làm thay đổi diện tích
đất còn lại sau thu hồi cũng không làm cho thửa đất thuộc trường hợp không
đủ điều kiện để ở theo Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND.
Người khởi kiện không xuất trình được tài liệu chuyên môn hoặc kết luận
của quan thẩm quyền chứng minh diện tích đất còn lại sau thu hồi không
8
phải 60,8 hoặc chứng minh việc áp dụng Quyết định số 22/2020/QĐ-UBND
theo cách hiểu của mình là đúng quy định pháp luật.
Từ đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định việc Chủ tịch Ủy ban nhân
dân huyện T ban hành Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện T ban hành Quyết định số 3445/QĐ-UBND; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Đ ban hành Quyết định số 2503/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận yêu
cầu bố trí tái định cư của ông Dương Thành N là có căn cứ pháp luật và phù hợp
với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thành N không căn cứ để chấp
nhận.
[3] Về án phí
Do yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thành N không được chấp nhận nên
theo quy định của Luật Tố tụng hành chính Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ông Dương Thành N phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Tuy nhiên, ông N là người cao tuổi và đơn đề nghị miễn án phí nên thuộc
trường hợp được miễn án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai đề nghị không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thành N. Xét thấy quan điểm của
Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại
phiên tòa, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 3, 30, 32, 115, 116, 157, 158, 193, 194, 204 Điều 206
Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ các Điều 17, 18, 21, 27, 29, 30, 31, 36, 38, 39 và 40 Luật Khiếu nại
năm 2011;
Căn cứ Điều 6 Nghđịnh số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính
phủ;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 3 Quyết định s22/2020/QĐ-UBND ngày
08/6/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ;
Căn cứ khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 4 Quy định ban hành kèm theo
Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 26/6/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thành N về việc:
9
- Hủy Quyết định giải quyết khiếu nại (lần hai) số 2503/QĐ-UBND ngày
22 tháng 8 năm 2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
- Hủy Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 3445/QĐ-UBND ngày
21 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T.
- Hủy Văn bản số 3100/UBND-PTQĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân huyện T về việc trả lời đơn của hộ ông Dương Thành N.
2. Về án phí: Ông Dương Thành N thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt
khi tuyên án do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính t ngày nhận
được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
- TAND thành phố Đồng Nai;
- VKSND khu vực 3 Đồng Nai;
- THADS thành phố Đồng Nai;
- UBND phường Trảng Bom;
- Các đương sự;
- Lưu HS-VP.
Phan Thị Hoà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1/2026/HC-ST Bản án số 1/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1/2026/HC-ST Bản án số 1/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất