Bản án số 238/2026/HS-ST ngày 18/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 238/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 238/2026/HS-ST ngày 18/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 238/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: ĐIỂU T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 238/2026/HS-ST Bản án số 238/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 238/2026/HS-ST Bản án số 238/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI
Bản án số: 238/2026/HS-ST
Ngày: 18-8-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Quang Hoạch Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban dân số, gia đình
và trẻ em huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai;
2. Thị Thu Giáo viên Trường THCS Tự Trọng, phường
Trảng Bom, thành phố Đồng Nai.
- Thư phiên tòa: Cao Thị Phương Trinh Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 3 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Đồng Nai tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng
Nai xét xử kín và tuyên án công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ số:
254/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2026; Theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử sơ thẩm số: 233/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2026 đối với:
Bị cáo Điểu T; Tên gọi khác: Sáu T1; Giới tính: Nam; Sinh ngày
01/01/1966, tại Đồng Nai; Căn cước công dân số ************; Nơi thường
trú: Tổ A, ấp D, P, thành phố Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chơ ro; Tôn
giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Không đi học;
Họ tên cha: Điểu Đ, sinh năm 1942 (đã chết); Họ tên mẹ: Điểu Thị H, sinh năm
1937 (còn sống); Gia đình 10 anh chị em, bị cáo là con thứ m; v
Điểu Thị X, sinh năm 1967 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh
năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú tạm giữ ngày 23/12/2025,
chuyển tạm giam ngày 30/12/2025 theo Lệnh số 6396/LTG của quan CSĐT
Công an tỉnh Đ (nay thành phố Đ), hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số
01 - ng an thành phố Đ. (có mặt)
2
- Bị hại: Cháu Điểu Thị Quỳnh A, sinh ngày 31/3/2009.
Địa chỉ: Tổ A, ấp D, xã P, thành phố Đ (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại (cha, mẹ): Điểu Thị Thanh T2,
sinh năm 1985 (có mặt) và ông Điểu T3, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp D, xã P, thành phố Đ.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Bùi Thị H1 Trợ
giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Đ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Điểu Tanh cháu Điểu Thị Quỳnh A, sinh ngày 31/3/2009 cùng ngụ tại
tổ A, ấp D, P nên quen biết nhau. Khoảng tháng 5/2025, Điểu T nhờ cháu
Điểu Thị Quỳnh A chăn bò giúp T để T chămc vợ là Điểu Thị X1 bị bệnh.
Khoảng 12 giờ (không nhớ ngày) tháng 5/2025, sau khi uống rượu xong, T điều
khiển xe mô tô (không nhớ biển số) đi từ nhà tại ấp D, xã P đến rẫy cao su thuộc
ấp D, P thấy cháu A đang chăn một mình nên T nảy sinh ý định giao cấu
với cháu A. Tanh để xe mô ngoài đường rồi đi đến ôm cháu A đè nằm ngửa
xuống đất, cháu A giãy dụa nói “thả ra” đồng thời dùng tay tát vào mặt T thì
T dùng tay trái giữ tay cháu A và tay phải cởi quần của T cháu A ra. Tanh
tiếp tục nhấc chân cháu A chạng ra hai bên và đưa dương vật vào âm đạo cháu A
thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của cháu A khoảng 02 phút thì
xuất tinh vào âm đạo cháu A rồi tự mặc lại quần sau đó T đi về. Khoảng 02 tuần
sau (không nhỡ ngày), T thấy cháu A chăn tại rẫy cao su thuộc ấp D, P
nên T đi đến ôm, dùng tay sờ và bộ phận sinh dục của cháu A mục đích quan
hệ tình dục nhưng do cháu A vùng vẫy bỏ chạy nên T chưa thực hiện được hành
vi hiếp dâm. Đến khoảng 8 giờ (không nhớ ngày cụ thể) tháng 10/2025, sau khi
uống rượu xong, T điều khiển xe đi đến vườn tràm thuộc ấp D, P thấy
cháu A đang chăn một mình nên T đi đến chỗ cháu A thì cháu A bỏ chạy.
Tanh đuổi theo ôm cháu A lại đè cháu A xuống đất rồi dùng tay cởi quần T
cháu A ra đồng thời đưa dương vật vào âm đạo cháu A thực hiện hành vi
quan hệ tình dục, T xuất tinh ra quần cháu A rồi tự mặc quần và đi về.
Ngày 22/12/2025, bà Điểu Thị Thanh T2, sinh năm 1985 (mẹ của cháu A)
thấy cháu A biểu hiện bất thường nên đã hỏi được cháu A cho biết bị Điểu T
hiếp dâm. T2 đưa cháu A đi khám phát hiện cháu A thai khoảng 29 tuần
tuổi nên đã đến Công an P tố giác tội phạm. Biết hành vi bị phát hiện, ngày
3
23/12/2025, Điểu T đến Công an P đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, lực
lượng Công an tiếp nhận nguồn tin, người phạm tội ra đầu thú lập hồ chuyển
quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (nay thành phố Đ) giải quyết theo
thẩm quyền.
- Tang vật, tài sản tạm giữ: Giấy khai sinh bản sao và kết quả siêu âm của
Điểu Thị Quỳnh A ngày 22/12/2025.
- Tại Kết luận giám định xâm hại nh dục số 0789.02/KLXHTD-
TTPYĐN ngày 25/12/2025 của Giám định viên Trung tâm P kết luận giám định
xâm hại tình dục của cháu Điểu Thị Quỳnh A, sinh ngày 31/3/2009.
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám lâm sàng:
+ Màng trinh: Hình chóp, đường kính lỗ trinh 01cm. Màng trinh rách vị
trí 03 giờ, bờ mép vết rách không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.
- Kết quả cận lâm sàng:
+ Kết quả siêu âm: Một thai # 27 đến 28 tuần trong tử cung.
2. Kết luận:
+ Màng trinh: Hình chóp, đường kính lỗ trinh 01cm. Màng trinh rách vị
trí 03 giờ, bờ mép vết rách không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.
- Kết quả cận lâm sàng:
+ Kết quả siêu âm: Một thai # 27 đến 28 tuần trong tử cung.
- Tại Kết luận giám định số 1082/KL-KTHS ngày 02/4/2026 của Giám
định viên Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Điểu
Thị Quỳnh A và trai sinh ngày 24/02/2026 quan hệ huyết thống mẹ - con;
Điểu T và bé trai sinh ngày 24/02/2026 không có quan hệ huyết thống cha - con.
- Xử vật chứng: Giấy khai sinh bản sao kết quả siêu âm của Điểu
Thị Quỳnh A u vào hồ sơ vụ án.
- Trách nhiệm dân sự: Gia đình Điểu T đã bồi thường về danh dự, nhân
phẩm bị xâm hại cho cháu Điểu Thị Quỳnh A 15.000.000 đồng. Điểu Th
Thanh T2 cháu A không yêu cầu bồi thường thêm và đơn bãi nại xin giảm
nhẹ hình phạt cho Điểu T.
Quá trình điều tra, cháu Điểu Thị Quỳnh A khai nhận trước khi bĐiểu T
thực hiện hành vi hiếp dâm thì khoảng đầu tháng 5/2025, cháu A còn bị Điểu N
- sinh năm 1962 ngụ tại tổ A, ấp D, P, thành phố Đ 02 lần thực hiện hành vi
hiếp dâm tại khu vực Bàu Điền thuộc ấp D, P. quan Cảnh sát điều tra tiến
4
hành làm việc với Điểu N nhưng N không thừa nhận hành vi hiếp dâm cháu A.
Ngày 22/4/2026, quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ trưng cầu
giám định ADN giữa Điểu N và bé trai do cháu A sinh ra.
Tại Kết luận giám định số 1763/KL-KTHS ngày 26/5/2026 của Giám
định viên Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Điểu
Nhạc bé trai sinh ngày 24/02/2026 được lưu tại Kết luận giám định số
1082/KL-KTHS ngày 02/4/202 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố
Hồ Chí Minh có quan hệ huyết thống cha - con.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số 152/CT-VKS-TB ngày 27/7/2026 của Viện Kiểm sát
nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Điểu T về tội “Hiếp dâm” theo
quy định tại điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017 và năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai giữ
nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025), xử
phạt bị cáo Điểu T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
- Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo mặt không ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát.
3. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Điểu Th
Quỳnh A do Bùi Thị H1 Trợ giúp viên pháp thuộc Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước thành phố Đ trình bày:
Tôi thống nhất về nội dung truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 141
Bộ luật hình snăm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 năm 2025) khung
hình phạt của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai đối với bị cáo Điểu
T. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo đúng qui định pháp luật. Về trách
nhiệm dân sự, bị hại đại diện gia đình đã nhận bồi thường về danh dự, nhân
phẩm bị xâm hại cho cháu Điểu Thị Quỳnh A 15.000.000 đồng. Điểu Thị
Thanh T2 cháu Quỳnh A không yêu cầu bồi thường thêm và đơn xin giảm
nhẹ hình phạt cho Điểu T nên không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét.
4. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo
trạng đã tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình xin giảm nhhình
phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành phố
Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Đồng Nai, kiểm sát viên
trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra tại phiên
tòa bị cáo những người tham gia tố tụng khác không người nào ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh các tình tiết liên quan đến việc
quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều
tra b cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo
phù hợp lời khai trong biên bản tiếp nhận người đầu thú, biên bản hỏi cung bị
can, biên bản lấy lời khai bị hại, nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có
trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ
cơ sở kết luận:
Từ khoảng tháng 5/2025 đến tháng 10/2025, tại ấp D, P, thành phố Đ,
Điểu T dùng lực 02 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục và 01 lần thực
hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn với cháu Điểu Thị Quỳnh A,
sinh ngày 31/3/2009. Tại thời điểm Điểu T thực hiện hành vi quan hệ tình dục
thì cháu Điểu Thị Quỳnh A đủ 16 tuổi.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Điểu T phạm tội “Hiếp
dâm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Như vậy, bản cáo trạng số 152/CT-VKS-TB ngày 27/7/2026 của Viện
Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai kết luận của Kiểm sát viên đnghị
truy tố bị cáo Điểu T về tội “Hiếp dâm” theo điều khoản tương ứng nêu trên
có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức đnghiêm trọng của hành vi phạm tội lỗi: Hành
vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm
đến quyền tự do tình dục, danh dự, nhân phẩm sự bất khả xâm phạm về thân
thể của người bị hại, gây tổn thương sâu sắc về thể chất, tinh thần, ảnh hưởng
lâu dài đến cuộc sống của nạn nhân gia đình. Bị cáo người đủ năng lực
hành vi chịu trách nhiệm hình sự, biết việc dùng lực để quan hệ tình dục trái
6
với ý muốn của bị hại là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội
với lỗi cố ý trực tiếp.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi
thường khắc phục hậu quả; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đầu
thú, bị hại người đại diện đơn xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại
điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:
Gia đình Điểu T đã bồi thường về danh dự, nhân phẩm bị xâm hại cho
cháu Điểu Thị Quỳnh A 15.000.000 đồng. Điểu Thị Thanh T2 cháu
Quỳnh A không yêu cầu bồi thường thêm và đơn xin giảm nhhình phạt cho
Điểu T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Các vấn đề khác:
Đối với hành vi dấu hiệu phạm tội của Điểu N, quan Cảnh sát điều
tra Công an thành phố Đ đã tách hành vi tài liệu liên quan để tiếp tục giải
quyết theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
[5] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật T tụng Hình sự; Nghị quyết số:
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên những người
tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội
danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận;
- Đối với phần trình bày của người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho
bị hại là phù hợp nên được chấp nhận;
- Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử
xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều
51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và
năm 2025);
7
Tuyên bố bị cáo Điểu T phạm tội “Hiếp dâm”.
Xử phạt Điểu T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ
ngày 23 tháng 12 năm 2025.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Điểu T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự.
Bị cáo Điểu T, bị hại người đại diện hợp pháp của bị hại quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại người dưới 18 tuổi
quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của bị hại
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản
án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Nai;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
- Ủy ban nhân dân và Công an xã Phú Lý;
- Phòng PV06 Công an tỉnh Đồng Nai;
- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; Phan Thị Hòa
- Lưu hồ sơ vụ án.
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 238/2026/HS-ST Bản án số 238/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 238/2026/HS-ST Bản án số 238/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất