Bản án số 192/2025/DS-ST ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 192/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 192/2025/DS-ST ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 192/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T đối với bị đơn bà Phan Thị Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 192/2025/DS-ST Bản án số 192/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 192/2025/DS-ST Bản án số 192/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 192/2025/DS-ST
Ngày: 23-9-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hải Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư phiên tòa: Bà Phùng Kim Ngân - Thư Tòa án nhân dân Khu vực
16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại sở 1 - Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số: 372/2025/TLST-
DS ngày 05 tháng 6 năm 2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản tranh
chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
110/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 m 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số:
14/2025/QĐST - DS ngày 28 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Thị T, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số B N, khu K, phường
Đ, thành phố D, tỉnh Bình ơng nay phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; Bà T
vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Phan Thị Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số B N, khu K, phường Đ,
thành phố D, tỉnh Bình Dương nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện nộp ngày 09 tháng 5 năm 2025, trong quá trình tham gia
tố tụng, nguyên đơn T trình bày:
T Phan Thị Đ quen biết nhau do nhà gần nhau. Trước ngày
01/3/2023 khoảng một vài ngày thì Đ hỏi mượn tiền T để xử công việc gia
đình của bà Đ nhưng khi đó T chưa tiền. Đến ngày 01/3/2023 thì T tiền
nên có nhắn tin qua zalo cho Đ biết. Ngày hôm sau bà Đ qua nhà bà T hỏi mượn
5.000.000 đồng nhưng khi qua tới nơi thì thấy T 40.000.000 đồng (tiền này
tiền T dùng để mua hàng để buôn bán tạp hoá) thì Đ mượn hết hẹn ngày 10 hốt
2
hụi trả, thì T mới đồng ý. Bà T lấy một cuốn sổ ghi những ghi chú như mật khẩu
zalo, facebook, số tài khoản ra kêu Đ ghi việc vay tiền thì Đ ghi nội
dung: Phan Thị Đ mượn của chtịnh 40,0000 bốn mươi triệu đồng chẵncòn chữ
“2/3/2023” do T ghi để nhớ. Ngoài ra, ngày vay tiền 02/3/2023 thể hiện trong
tin nhắn zalo giữa bà T và bà Đ.
Đ thoả thuận với bà T lãi 3%/tháng (bằng với mức lãi T đi cầm
vàng) hẹn ngày 10/3/2023 khi hốt hụi thì sẽ trả cho T. Tuy nhiên, đến ngày
10/3/2023 thì Đ không trả được tiền cho T qua gặp T xin đóng lãi hàng
tháng 3%/tháng còn tiền gốc thì cứ hẹn hết lần này tới lần khác không trả. Sau
khi nhận tiền vay của T, Đ chỉ trả cho T được 04 tháng tiền lãi với số tiền
1.200.000 đồng/tháng (4 tháng 4.800.000 đồng, trả bằng tiền mặt) cụ thể o các
ngày 02/4/2023; 02/5/2023; 02/6/2023 02/7/2023. Từ sau ngày 02/7/2023 cho đến
nay thì bà Đ không trả tiền lãi cho bà T.
Sau khi, T nộp đơn kiện ra Toà thì Đ chuyển khoản trả thêm cho T
được 3.000.000 đồng lúc 20 giờ 28 phút ngày 13/6/2025 qua tài khoản. Đến ngày
15/6/2025 bà Đ có qua nhà bà T nói chuyện và xin bỏ bớt lãi tính tổng nợ
50.000.000 đồng và xin trả dần mỗi tháng 3 triệu đồng thì bà T đồng ý và yêu cầu bà Đ
ghi tiếp vào sổ đã ghi trước đó, thì bà Đ có ghi nội dung:
“15/6/2025
Em hứa em trả cho chị mỗi tháng 3 triệu cho chị T
Tổng em nợ chị 50 triệu”.
Sau đó bà Đ ghi họ tên. Bà T có thoả thuận yêu cầu bà Đ trả lãi 3%/tháng thì
Đ đồng ý nên T ghi nội dung: tính lãi suất 3%/tháng = cầm vàng”. Tuy
nhiên, do sót nên T không yêu cầu Đ xác nhận việc thoả thuận lãi suất.
Tuy nhiên, Đ không trả cho T được thêm khoản nào nữa bà T qua nhà hỏi
nhắn tin qua zalo đòi rất nhiều lần.
Ngoài ra, trong thời gian Đ vay tiền của T thì Đ mua hàng tạp hóa của
bà T như gạo, sữa, nước mắm, dầu ăn thiếu của T số tiền 800.000 đồng nhưng chưa
trả cho bà T. Việc mua tạp hoá thiếu thì do chỗ thân tình và thói quen mua bán thì bà T
cũng không yêu cầu bà Đ làm giấy tờ gì cả.
Ngày 25/4/2025, T gửi giấy thông báo cho Đ yêu cầu thanh toán nợ gốc,
lãi nhưng sau đó bà Đ vẫn không phản hồi thông báo đòi tiền của bà T.
Nay T xác định yêu cầu Toà án giải quyết buộc Phan Thị Đ thanh toán
cho T số tiền còn n50.000.000 đồng theo xác nhận ngày 15/6/2025, T không
yêu cầu lãi. Đề nghị Toà tuyên lãi chậm thi hành án theo quy định cho đến khi trả xong
nợ gốc.
Về tiền mua tạp hoá còn thiếu 800.000 đồng do không chứng cứ nên T
xin rút lại yêu cầu này.
Ngoài ra, nguyên đơn T không yêu cầu khác và xin vắng mặt trong quá
trình giải quyết vụ án.
* Bị đơn Phan Thị Đ: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An nay là Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành
đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn bà Phan
3
Thị Đ tham gia giải quyết vụ án nhưng Đ vắng mặt không có lý do. Đồng thời, Tòa
án đã yêu cầu Đ ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn nhưng Đ không ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ
về quá trình vay ợn tiền, cũng như việc trả tiền gốc i cho nguyên đơn. Do đó,
Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn bà Đ.
Quá trình xác minh, Công an phường Đ cung cấp thông tin bị đơn bà Đ có đăng
ký h khẩu thường trú và sinh sống tại địa phương.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử,
trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp
luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp nh đúng pháp luật tố
tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn không chấp hành đúng
pháp luật tố tụng. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”. Căn cứ o các tài
liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho
thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ vụ án đã được thẩm tra
công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Phan Thị
Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số B N, khu K, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương
nay phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh thanh toán tiền nợ vay tiền mua tạp hoá
còn thiếu. Do đó, căn cứ theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân
sự thì vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An,
tỉnh Bình Dương nay Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”.
[1.2] Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn Trần Thị T vắng mặt nhưng đã
đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn Phan Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
tham gia phiên tòa o các ngày 28/8/2025 ngày 23/9/2025 nhưng đều vắng mặt
không rõ lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự a án tiến hành xét
xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Phan Thị Đ không ý kiến cũng
như không cung cấp tài liệu, chứng cứ về quá trình vay mượn tiền, cũng như việc trả
tiền gốc lãi cho nguyên đơn. Việc bị đơn vắng mặt được xem từ bỏ quyền trình
bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình nên
phải chịu hậu quả do việc không cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 91, 96 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem t
trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
4
[1.4] Tại đơn kiện, nguyên đơn T yêu cầu Phan Thị Đ thanh toán số tiền
mua tạp hoá n thiếu 800.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn xin rút lại yêu cầu này. Việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện
về về việc mua hàng hoá đối với bị đơn là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều
5, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử.
[2] Về nội dung: Theo Giấy vay tiền c nhận ngày 15/6/2025 của Đ
trình bày của nguyên đơn có cơ sở xác định: Tính đến ngày 15/6/2025 Đ nợ T số
tiền 50.000.000 đồng cam kết mỗi tháng trả cho T 3.000.000 đồng. Tuy nhiên,
Đ không trả cho bà T được khoản nào theo cam kết.
Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: Bên vay tài sản là tiền thì phải tr
đủ tiền khi đến hạn…”. Bị đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh đã thanh
toán khoản nợ cho nguyên đơn. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn
yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nợ 50.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[3] Ý kiến của đại din Vin kim sát v nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng,
quá trình tiến hành t tng cũng như diễn biến ti phiên tòa phù hợp quy định của
pháp luật.
[4] Án phí dân sự thẩm: Bị đơn Đ phải chịu án phí đối với số tiền phải
thanh toán cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 5, 26, 35, 39, 71, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273
Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Khoản 2, Điều 26 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca
y ban Thường v Quc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và l phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị T đối với bị đơn
Phan Thị Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc Phan Thị Đ thanh toán cho Trần Thị T số tiền là: 50.000.000 đồng
(năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần
Thị T đối với bị đơn bà Phan Thị Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”.
3. Án phí dân sự thẩm: Phan Thị Đ phải chịu 2.500.000 đồng (hai triệu
năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Trần Thị T số tiền 1.620.000 đồng (một triệu sáu trăm hai mươi
nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008459 ngày 30 tháng 5
5
năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố An, tỉnh Bình ơng nay
Thi hành án dân sự Thành phố H.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên a quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Trần Hải Nam
6
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 192/2025/DS-ST Bản án số 192/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 192/2025/DS-ST Bản án số 192/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất