Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Số hiệu: 16/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Về quyền quản lý, sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất, nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng đất. 1.1. Ghi nhận sự thoả thuận giữa nguyên đơn ông Hoàng Văn C và bị đơn bà Nông Thị H1 về việc bị đơn bà Nông Thị H1 được quyền quản lý, sử dụng tổng diện tích 13.561m2 đất 1.2. Về nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng đất Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn C. Buộc bị đơn bà Nông Thị H1 phải thanh toán cho nguyên đơn ông Hoàng Văn C ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với tổng diện tích 13.561m2 là 33.902.500 đồng 2. Về nghĩa vụ trả lại tiền bồi thường, hỗ trợ về đất Chấp nhận yêu cầu khởi của nguyên đơn ông Hoàng Văn C. Buộc bị đơn bà Nông Thị H1 phải trả lại cho nguyên đơn ông Hoàng Văn C ½ tiền bồi thường về đất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm với số tiền là 15.020.000 đồng 3. Về xem xét huỷ quyết định cá biệt Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số Y 210913, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00012 QSDĐ/QĐ-UB (H) ngày 26/7/2024 cho hộ ông Hoàng Văn V2 đối với thửa đất số 06 tờ bản đồ 01, diện tích 10.000m2, mục đích sử dụng RTS, thời hạn sử dụng 7/2054. Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số Y 210918, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00005 QSDĐ/QĐ-UB (H) ngày 26/7/2024 cho hộ ông Nông Văn T2 đối với thửa đất số 07 tờ bản đồ 01, diện tích 30.000m2, mục đích sử dụng RTS, thời hạn sử dụng 7/2054.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5- LẠNG SƠN
Bản án số: 16/2025/DS - ST
Ngày 29 - 9 - 2025
V/v Tranh chp quyn s dụng đất
và tài sản trên đất, yêu cu thanh
toán giá tr quyn s dụng đất và
tr tin bồi thường, h tr v đất,
yêu cu hy Giy chng nhn
quyn s dụng đất
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Ngọc;
Bà Vy Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Nhật Trang - Thư Tòa án nhân dân khu
vực 5 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân n khu vực 5 - Lạng Sơn tham gia phiên
tòa: Ông Lương Minh Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trsTòa án nhân dân khu vực 5- Lạng Sơn
xét xử sơ thẩm công khai
vụ án dân sự sơ thẩm thụ s 17/2025/TLST-DS, ngày
14/5/2025 về Tranh chp quyn s dụng đt tài sản trên đất, yêu cu thanh
toán giá tr quyn s dụng đất tr tin bồi thường, h tr v đất, yêu cu hy
Giy chng nhn quyn s dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
11/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa s:
09/2025/QĐ-TA ngày 10 tháng 9 năm 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số:
12/2025/QĐ-TA ngày 19 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1955; đăng thưng trú:
Buôn B, xã Đ, tnh Lâm Đồng; ch hin nay: Thôn B, xã M, tnh Lạng Sơn; căn
cước công dân số 066055005***, do Cục Cảnh sát quản hành chính về trật tự
xã hội cấp ngày 21/9/2022; có mt.
- Ngưi bo v quyn và li ích hp pháp ca nguyên đơn ông Hoàng Văn C:
Ông Bế Quang H- Lut thuc Văn phòng Luật Hưng Vương, Đoàn
Luật tỉnh Lạng Sơn; có mt.
Ông Chu Thế V, Luật thuộc Văn phòng Luật Hưng Vương, Đoàn Luật
2
tỉnh Lạng Sơn; vng mt.
- B đơn: Bà Nông Th H1, sinh năm 1969, đa ch: Thôn N, xã K, tnh Lng Sơn;
có mt.
Ngưi bo v quyn li ích hp pháp cho b đơn: Luật Đinh Công T
thuc n phòng Luật Đinh Công T, Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; có mt.
- Ngưi có quyn li, nghĩa v liên quan:
1. U ban nhân dân K, tnh Lạng Sơn- Người đại din theo u quyn:
Ông Long Văn Đ, chuyên viên Phòng Kinh tế U ban nhân dân K, tnh Lng
Sơn (Quyết định u quyn s 261/QĐ-UBND ngày 25/8/2025 ca Ch tch
UBND xã K, tnh Lng Sơn); vng mt.
2. Bà Lành Th X, sinh năm 1955; căn cước côngn số 066155005***, do
Cục Cảnht quản lý nh cnh về trật tự xã hội cấp ngày 21/4/2022; vng mt.
3. Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1976; căn cước công dân số 020076004***,
do Cục Cảnh t quản hành chính về trật tự hội cấp ngày 12/8/2021; vng mt.
4. Hoàng Th H2, sinh năm 1988; cănớc công dân số 020188010***,
do Cục Cảnh t quản hành chính về trật tự hội cấp ngày 12/8/2021; vng mt.
5. Hoàng Th B1, sinh năm 1993; n ớc ng n số 020194009***,
do Cục Cảnh sát quản nh cnh vtrật tự hội cấp ny 01/11/2022; vng mt.
Cùng địa ch: Buôn B, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
6. Ông Hoàng n N, sinh m 1984, địa ch: Thôn 2, xã E, tnh Đ; vng mt.
7. Hoàng Th N1, sinh năm 1977, địa ch: Thôn B, M, tnh Lạng Sơn;
căn cước công dân số 020177001***, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật
tự xã hội cấp ngày 25/4/2021; vng mt.
8. Anh Hoàng Văn B2, sinh năm 1994; vng mt.
9. Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1992; vng mt.
10. Anh Hoàng Văn H3, sinh năm 1991; vng mt.
11. Anh Hoàng Chí V1, sinh năm 2005; vng mt.
Cùng địa ch: Thôn N, xã K, tnh Lạng Sơn.
12. Ông Nông Văn T2, sinh năm 1952; có mt.
13.Hoàng Th H4, sinh năm 1953; vng mt.
14. Anh ng Văn L, sinh năm 1975; căn cước công dân số 020075006***,
do Cục Cảnh t quản hành chính về trật tự hội cấp ngày 09/8/2021; vng mt.
15. Anh Nông Văn T3, sinh năm 1979; vng mt.
16. Anh Nông Văn B3, sinh năm 1990; vng mt.
17. Anh Nông Văn A, sinh năm 1994; vng mt.
18. Anh Vi Văn Q, sinh năm 1978; vng mt.
3
Cùng địa ch: Thôn N, xã K, tnh Lạng Sơn,
19. Ch Ma Th N2, sinh năm 1983; địa ch: Thôn B, xã M, tnh Lạng Sơn;
vng mt.
- Người làm chứng:
1. Bà Chu Th N3, sinh năm 1959; vng mt.
2. Ông Vi Văn C1, sinh năm 1969; vng mt.
3. Bà Hà Th L1, sinh năm 1957; vng mt.
4. Ông Nông Văn T4, sinh năm 1961; vng mt.
5. Ông Văn G, sinh năm 1968; vng mt.
Cùng địa ch: Thôn N, xã K, tnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/4/2024, cùng những lời khai tiếp theo tại
phiên toà nguyên đơn ông Hoàng Văn C trình bày:
Khoảng năm 1995-1996, Nhà nước ch trương giao đt, giao rng cho
người dân. Khi đó trưởng thôn N, T, huyn L, tnh Lạng Sơn (nay thôn N,
xã K, tnh Lạng Sơn) là ông Nông Văn T2t chc cho các h dân bốc thăm đ
giao mi h 02 đất rng. Ông Nông Văn T2 đã giúp nguyên đơn ông Hoàng
Văn C bốc thăm được 02 lô là 211 và 230. Sau đó, nguyên đơn ông Hoàng Văn C
đưc giao H giao quyền qun s dng rừng đất trng rng theo Quyết
định số 173/QĐ-UB ngày 03/10/1996 của Uỷ ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng
Sơn, biểu kê khai hiện trạng đất lâm nghiệp gồm 02 (hai) lô đất lô 211 địa danh
P diện tích 3,2ha 230 địa danh S din tích 5,8 ha, trong thi hn 50
năm. Trong đó, lô 230 được cp chung cho 08 h, đa ch tại đồi S, thôn N, xã T,
huyn L, tnh Lạng Sơn (nay thôn N, K, tnh Lạng Sơn). Tại đồn Biên phòng,
cán b kim m L bo vi nguyên đơn ông Hoàng Văn C là được s dụng đất
hai đồi là đồi P (lô 211) và đồi S (lô 230, chung 8 h). Mc dù vic giao nhận đất
không thc hin trên thực địa nhưng ông Hoàng Văn C thường xuyên chăn thả
trâu khu vc này nên đã biết được v trí đất đồi P và đồi S đâu, biết thc
trng ca lô 230 S khi đó chỉ có lác đác một s cây thông t mc, ch yếu là các
cây bụi như sim, mua. Lô 230 S là lô chung 08 hộ, trong đó có hộ ông Nông Văn
T2 được giao đất lin k với đất ca ông Hoàng Văn C. Ông Nông Văn T2 đã tự
làm ranh gii bằng rãnh đào với đất rng ca ông Hoàng Văn C ti 230 S. Thi
điểm được giao đất, giao rng h ông Hoàng Văn C gm các thành viên v
chng ông Hoàng Văn C, Lành Th Xcác con là Hoàng Văn B, Hoàng Văn
N, Hoàng Th H2, Hoàng Th B1, Hoàng Th N1.
T năm 1997 đến năm 1998, nguyên đơn ông Hoàng Văn C đi tìm các cây
thông con mang v trồng trên đất, mi ln trồng được khong 50 cây thông con,
trng dm nhiu ln, nay không nh trồng đưc tng cng bao nhiêu cây.
Vào năm 1999, nguyên đơn ông Hoàng Văn C tiếp tc trng thêm một đợt cây
thông con trên đồi S trong thi gian khoảng 2, 3 ngày nhưng không nh trng
4
đưc bao nhiêu cây. cuc sống khó khăn nên vào năm 1999, gia đình ông
Hoàng Văn C đã chuyển nhượng nhà ca, ruộng vườn để vào min Nam sinh
sng. Đối với 02 khu đt rừng được giao P và S thì nguyên đơn ông Hoàng Văn
C không chuyển nhưng li cho ai mà giao cho con gái là bà Hoàng Th N1 cũng
thành viên ca h quản lý, trông coi phòng trường hợp không làm ăn đưc
min Nam thì ông Hoàng Văn C li v qsinh sng thì vn còn rừng đất rng
để phát trin kinh tế.
Khoảng năm 2000-2001, nguyên đơn ông Hoàng Văn Cnghe bà Hoàng
Th N1 k s vic bà Hoàng Th N1 mang cây thông con lên đồi S trng thì b v
chng ông Hoàng Văn V2 ã chết) Nông Th H1 đui, không cho trng
cây. Do khoảng cách đa xa xôi, đi li khó khăn nên nguyên đơn ông Hoàng
Văn C không th đến các cơ quan thẩm quyền đ yêu cu gii quyết tranh chp
ngay được. Cho đến khoảng năm 2010 – 2012, nguyên đơn ông Hoàng Văn C v
xem lại đất đồi S, biết được gia đình Nông Th H1 đã chặt hết các cây thông
mc t nhiên và các cây thông ca ông trồng mang đi bán và trồng cây thông mi
trên đất. Nguyên đơn ông Hoàng Văn C đến nhà Nông Th H1 yêu cầu gia đình
Nông Th H1 tr lại đt S cho ông nhưng không được chp nhn. V chng
ông Hoàng Văn V2 (đã chết) và bà Nông Th H1 nói rằng đã được thôn bốc thăm
cho s dụng lô đt S này vào năm 2003 được cp Giy chng nhn quyn s
dụng đất ri nên không tr lại đt cho ông Hoàng Văn C. Ông Hoàng Văn C đã
làm đơn ra UBND , np li s bìa xanh (ch gi li bn phô tô) để gii quyết
tranh chp nhưng không được xem xét gii quyết dứt điểm. Năm 2017-2018 (khi
làm đường T N), v ông Hoàng Văn C Lành Th X v và có đơn ra thôn
tranh chp v tin bi thường v đất nhưng cũng không được gii quyết. Năm
2021, ông Hoàng Văn C có đơn khởi kin tại Toà án nhưng do dịch bnh Covid -
19 nên ông rút đơn, đến năm 2024 mới tiếp tc khi kin li.
Quá trình gii quyết v án, nguyên đơn ông Hoàng Văn C nhất trí với kết
quả đo đạc, chồng ghép bản đồ, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài
sản ngày 01/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 – Lạng Sơn: (1) Xác định đất
tranh chấp tổng diện tích 16.738m
2
thuộc một phần các thửa đất số 23, 24,
26, 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T (nay là xã K), địa chỉ tại: S,
thôn N, xã K, tỉnh Lạng Sơn. Trong đó, phần diện tích đt tranh chp thuc mt
phn các thửa đất s 26 và 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 T nay
K, tỉnh Lạng Sơn, các phía tiếp giáp với đất đường giao thông, giáp đt
rng ca ông Nông Văn T2 (hin do các con ông Nông Văn T3, ông Nông Văn
L qun lý, ranh giới là rãnh đào), giáp đt rung ca ông Ma Văn H5 (con gái là
Ma Th N2); tài sản trên đất (thuộc một phần thửa 27) 450 cây thông do bị
đơn Nông Thị H1 trồng, gồm: 240 cây thông đường kính gốc nhỏ hơn 05cm;
70 cây thông đường kính gốc t05cm - 10cm, 80 cây thông đường kính gốc
20cm - 30cm; 10 cây thông đường kính gốc trên 30cm, ngoài ra không có cây gỗ
tạp khác. Diện tích đất tranh chp thuc mt phn tha 26 mt phn các tha
đất s 23, 24 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T (nay là xã K), trên đất
không tài sản gì. (2) Đất rừng sản xuất giá 5.000 đồng/m
2
. (3) Kết quả chồng
ghép khu đất tranh chấp với các bản đồ qua các thời kỳ thể hiện: Chồng ghép khu
5
đất tranh chấp với bản đồ giao đất lâm nghiệp cho thấy khu đất tranh chấp không
trùng với lô 230 (địa danh S, lô chung 8 hộ). Chồng ghép khu đất tranh chấp với
bản đồ cấp GCNQSD đất năm 2004 thể hiện một phần thửa đất số 06 một phần
thửa đất số 07 nay thuộc một phần thửa đất số 27 tbản đồ địa chính đất lâm
nghiệp số 01 xã T (nay K). Trong đó thửa đất số 06 được cấp GCN cho hộ
ông Hoàng Văn V2, thửa đất số 07 được cấp GCN cho hộ ông Nông Văn T2ng
năm 2004.
Tại phiên toà, nguyên đơn ông Hoàng Văn C trình bày: Hiện nay ông tuổi
cao, sức yếu không có điều kiện để trực tiếp sử dụng đất tranh chấp tại đồi S nữa.
Ông Hoàng Văn C cũng thừa nhận bị đơn Nông Thị H1 công sức quản
đất từ năm 2003 đến nayn ông Hoàng Văn CNông Thị H1 mỗi người
½ quyền sử dụng đất tranh chấp. Nguyên đơn ông Hoàng Văn C đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét ghi nhận cho bị đơn bà Nông Thị H1 được sdụng toàn bộ diện
tích đất tranh chấp thanh toán cho ông Hoàng Văn C ½ giá trị quyền sử dụng
đất tranh chấp, ½ tiền bồi thường, htrợ về đất. Nguyên đơn ông Hoàng Văn C
thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau:
(1) Nguyên đơn ông Hoàng Văn C đồng ý cho bị đơn Nông Thị H1 được
quyền quản lý, sử dụng tổng diện tích 13.561m
2
đất, gồm: Diện tích 12.864m
2
(ký
hiệu tha tạm 27.1), diệnch 385m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.2) diện ch 312m
2
(ký
hiệu tha tạm 27.3) cùng thuộc một phần thửa đất số 27 tờ bn đồ địa chính đất m
nghiệp số 01 T nay là K, tỉnh Lạng Sơn; bà ng Thị H1 được sở hu tài sản
trên đất c y thông Nông ThH1 trồng trên đất; địa danh, địa chỉ: S, thôn
N, xã K, tỉnh Lạng n.
(2) Nguyên đơn ông Hoàng Văn C yêu cầu bị đơn Nông Thị H1 phải
thanh toán cho ông Hoàng Văn C ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với tổng diện tích
13.561m
2
33.902.500 đồng (ba ơi ba triệu chín trăm linh hai ngn m trăm
đồng), gồm c diện ch đất cthể sau: Diện tích 12.864m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.1),
diện tích 385m
2
(hiệu thửa tạm 27.2) và diện tích 312m
2
(hiệu thửa tạm 27.3)
ng thuộc một phần tha đất số 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T
nay xã K, tỉnh Lạng n.
(3) Nguyên đơn ông Hoàng Văn C yêu cầu bị đơn Nông Thị H1 trả lại
cho ông Hoàng Văn C ½ số tiền bồi tờng v đất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề
tạo việc làm số tiền 15.020.000 đồng (mười m triệu không trăm hai ơi
ngn đồng) đối vi diện tích 1.502m
2
thuộc một phần tha đất số 27 tờ bản đồ địa
chính đất lâm nghiệp số 01 T nay K, tỉnh Lạng n.
(4) Nguyên đơn ông Hoàng n C yêu cầu huỷ một phần Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất hiệu số Y 210913, o sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 00012 QS/QĐ-UB (H) ngày 26/7/2024 cho hộ ông Hoàng Văn V2 đối với
thửa đất số 06 tờ bản đồ 01, diện tích 10.000m
2
, mục đích sử dụng RTS, thời hạn s
dụng 7/2054. Đnghị xem t theo quy định đối với Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất ký hiệu số Y 210918, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00005
QSDĐ/-UB (H) ngày 26/7/2024 cho hộ ông ng n T2 đối với thửa đất số 07
tờ bn đồ 01, diện ch 30.000m
2
, mục đích sử dụng RTS, thời hạn sdụng 7/2054.
6
(5) Nguyên đơn ông Hoàng Văn C rút một phần yêu cầu khởi kiện được
quản lý, sử dụng đối với diện tích 269m
2
thuộc một phần thửa đất số 23 (ký hiệu
23.1), diện tích 1519m
2
thuộc một phần thửa đất số 24 (ký hiệu thửa tạm 24.1),
diện tích 961m
2
thuộc một phần thửa đất s24 (ký hiệu 24.2), diện tích 12m
2
thuộc một phần thửa đất số 26 (ký hiệu 26.1), diện tích 416m
2
thuộc một phần
thửa đất số 26 (ký hiệu 26.2) tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T nay là
K, tỉnh Lạng Sơn. Trên đất không có tài sản gì.
Về chi ptố tụng: Đề nghị gii quyết theo quy định.
Ván phí: Đề nghị được miễn toàn bộ án pcủa vụ án vì là người cao tuổi,
đã có đơn xin miễn án phí.
Ngoài ra, nguyên đơn ông Hoàng Văn C đưa ra phương án hoà giải như sau:
Tờng hợp Nông Thị H1 chấp nhận thanh toán cho ông ½ giá trị quyền sử dụng
đất, trả lại ½ tiền bồi thường, hỗ trợ thì ông Hoàng Văn C tự nguyện chịu toàn bộ
chi phí tố tụng của vụ án.
Bị đơn Nông Thị H1 có ý kiến không đồng ý phương án hoà giải của ông
Hoàng Văn C, không đưa ra phương án hoà giảio khác.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà, bị đơn Nông Thị H1 trình
bày như sau:
Khoảng năm 1995- 1996, khi Nhà nước chủ trương giao đất giao rừng
thì các hộ dân trong thôn N được cùng trưởng thôn là ông Nông Văn T2, cán bộ
kiểm lâm đi chỉ đất, nhận đất, mỗi hộ được nhận 02 (hai) lô. Gia đình Nông
Thị H1 (đại diện hộ là ông Hoàng Văn V2) được nhận 02 (hai) lô đất N K tại
thôn N, T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn N, xã K, tỉnh Lạng Sơn). Gia
đình bà Nông Thị H1 cũng được cấp sổ bìa xanh là H giao quyền qun lý và
s dng rừng và đất trng rừng đối vi 02 (hai) lô đất ở N và K.
Đối với diện tích đất tranh chấp giữa ông Hoàng Văn C và bà Nông Thị H1
hiện nay tại đồi S (còn tên khác T), thôn N, K, tỉnh Lạng Sơn đã được
giao cho ông Hoàng Văn C vào năm 1996 là lô 230 (lô chung 08 hộ). Tuy nhiên,
theo bà Nông Thị H1 thì ông Hoàng Văn C không bốc thăm mà nhờ trưởng thôn
ông Nông Văn T2 bốc thăm giúp, không đi nhận đất, không nhận sổ bìa xanh
mà sau đó đi vào miền Nam sinh sống. Vì vậy, ông Hoàng Văn C đã từ bỏ quyền
sử dụng đất đồi S này. Nông Thị H1 phủ nhận sự việc vợ chồng bà đuổi
Hoàng Thị N1 (con gái của ông Hoàng Văn C) khi này lên đồi S trồng cây
thông vào khoảng năm 2000-2001. Năm 2003, thôn N tổ chức bốc thăm để giao
lại quyền sử dụng đất đồi S của ông Hoàng Văn C thì người bốc thăm được ông
Hà Văn G từ chối nhận nên bà Nông Thị H1 nhận lại với thôn, đã đưa 1.000.000
đồng (một triệu đồng) cho thôn để mua lợn thịt ăn. Việc tổ chức bốc thăm nhận
đất của ông Hoàng Văn C không có sự liên lạc, hỏi ý kiến với ông Hoàng Văn C.
Nếu khi đó Nông Thị H1 biết khu đất S này tranh chấp tsẽ không
nhận đất.
Năm 2003, bà Nông Thị H1 nhận khu đồi S này từ thôn thì trên đất có lác
đác mt số cây thông nên gia đình quản lý các cây thông này và trồng thông t
7
năm 2003, do trâu bò hay giẫm chết cây thông con nên bà trồng dặm đến khi cây
lớn thì mới dừng. Năm 2004, gia đình bà hộ ông Hoàng Văn V2 kê khai xin
cấp GCNQSD đất đối với 02 gia được Nnước giao N, K 01 lô S
được thôn giao, sáu đó UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với c lô này, trong đó khu đất đồi S là thửa 06. Thời điểm đó, hộ gia đình
gồm vợ chồng bà ông Hoàng Văn V2, Nông Thị H1 các con Hoàng
Văn H6, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn B2, Hoàng Chí V1. Bố mẹ đẻ của ông Hoàng
Văn V2 đã chết trước ông Hoàng Văn V2. Ông Hoàng Văn V2 không có con đẻ,
con nuôi nào khác.
Khoảng năm 2010, ông Hoàng Văn C đến nhà Nông Thị H1 đòi lại
đất đồi S nhưng gia đình bà không trả vì đã giấy chuyển nhượng đất đồi rừng
lập ngày 25/3/2003 sổ đỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND
huyện L. Khoảng năm 2017-2018, Nhà nước làm đường N T thì có thu hồi đất
đồi S, bồi thường cho nhưng không nhớ bao nhiêu tiền, chỉ nhớ đã
nhận tiền bồi thường rồi.
B đơn Nông Th H1 nht trí vi kết qu đo đc, chng ghép bản đồ, xem
xét thẩm định ti ch và định giá tài sn ngày 01/8/2025 ca Toà án nhân dân khu
vc 5- Lạng Sơn; xác đnh tổng diện tích đất tranh chấp 16.738m
2
thuộc một
phần các thửa đất s23, 24, 26, 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T
nay K, tỉnh Lạng Sơn, địa danh, địa chỉ đất tại: S (T), thôn N, K, tỉnh
Lạng Sơn. Trong đó, phần diện tích đất tranh chp thuc mt phn các thửa đất
s 26 và 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T nay là xã K, tỉnh Lạng
Sơn các phía tiếp giáp với đất đường giao thông, giáp đt rng ca ông Nông
Văn T2 (hin do các con ông Nông Văn T3, ông Nông Văn L qun lý, ranh gii
là rãnh đào), giáp đt rung ca ông Ma Văn H5 (con gái là Ma Th N2). Trên đất
tranh chấp hiện nay 450 cây thông bao gồm: 240 cây thông đường kính gốc
nhỏ hơn 05cm; 70 cây thông đường kính gốc từ 05cm - 10cm, 80 cây thông
đường kính gốc 20cm - 30cm; 10 cây thông đường kính gốc trên 30cm, ngoài ra
không có cây gỗ tạp khác. Các cây thông này là do bà Nông Thị H1 trồng từ năm
2003, sau đó trồng dặm trong mấy năm tiếp theo.
Tại phiên toà, bị đơn bà Nông Thị H1 nhất trí với yêu cầu của nguyên đơn
ông Hoàng Văn C cho bà được quản lý, sử dụng toàn bộ đất tranh chấp tại đồi S.
Mặc Nông Thị H1 thừa nhận đất tranh chấp nguồn gốc ông Hoàng
Văn C được giao quyền quản lý, sử dụng tnăm 1996 nhưng không chấp nhận
thanh toán cho ông Hoàng Văn C ½ giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp, không
trả lại ½ tiền bồi thường, hỗ trợ về đất cho ông Hoàng Văn C. gia đình bà Nông
Thị H1 đã mua lại đất của ông Hoàng Văn C với thôn N được cấp sổ bìa đỏ
(Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) trong khi sổ bìa xanh (Hồ giao quyền
quản lý, sử dụng rừng và đất trồng rừng) của ông Hoàng Văn C đã bị UBND thu
lại. Đề nghị Toà án kng huỷ Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất của hông
Hoàng Văn V2 đối với thửa đất số 06 nay là một phần thửa đất số 27 t bản đồ địa
chính đất m nghiệp số 01 xã T nay K, tỉnh Lạng Sơn. Về việc ông Hoàng
Văn C rút một phần yêu cầu khởi kiện, chi phí tố tụng án phí thì đề nghị giải
quyết theo quy định.
8
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà, người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nông Văn T2 trình bày như sau:
Ông Hoàng Văn C người qgc thôn N, lập gia đình sinh sống
thôn khác nhưng vẫn được thôn N thng nhất giao cho 02 lô đất như các hộ khác
trong thôn. Thời điểm giao đt, giao rng thì ông Nông Văn T2 là trưởng thôn đã
giúp ông Hoàng Văn C bốc thăm được 02 lô là P và S (lô chung 08 h). Chính h
ông Nông Văn T2 ng là mt trong tám h đưc giao s bìa xanh đối vi lô 230
S này, đất rng ca ông Nông Văn T2 giáp với đất ca ông Hoàng Văn C, ranh
giới rãnh đất do ông Nông Văn T2 đào. Ông Nông Văn T2 khẳng định đất tranh
chp gia ông Hoàng Văn C bà Nông Th H1 hin nay ngun gốc đất là ca
ông Hoàng Văn C đưc giao s bìa xanh năm 1996 thuộc lô 230 (lô chung 08 h)
ti S, thôn N, xã K, tnh Lạng Sơn.
Theo ông Nông Văn T2 thì ông Hoàng Văn C không bốc thăm, không đi
nhận đt rng, không nhn s bìa xanh thc tế không qun lý, s dụng đt
đồi S t khi được giao vào năm 1996. Khoảng năm 1999, gia đình ông Hoàng Văn
C vào min Nam sinh sng, khu đất đi S ca ông Hoàng Văn C do dân thôn N
quản lý. Năm 2003, thôn N bốc thăm để giao đất ti S ca ông Hoàng Văn C cho
ngưi khác thì ông Văn G bốc được nhưng không nhận nên Nông Th H1
mi b ra 1.000.000 đng (mt triệu đồng) cho thôn mua lợn ăn để nhận đất. Ông
Nông Văn T2 không tham gia bốc thăm nhưng nht trí vi kết qu bốc thăm ca
thôn vic Nông Th H1 nhn lại đất ca ông Hoàng Văn C. Khi Nông
Th H1 đưa Giấy chuyển nhượng đồi rng ca ông Hoàng Văn C thì ông cũng ký
tên xác nhn. T năm 2003, gia đình Nông Th H1 trng cây thông và qun lý,
s dụng đất đồi S ti khi b ông Hoàng Văn C kiện đòi trả đất.
T năm 1996 đến nay, gia đình ông Nông Văn T2 vn qun lý, s dụng đt
đồi S trong chung 230 (08 h) giáp với khu đất ông Hoàng Văn C đưc giao
s bìa xanh năm 1996, sau đó năm 2003 thôn N nhưng li cho bà Nông Th H1.
Gia đình ông Nông Văn T2 đã được cấp đổi s bìa xanh sang bìa đỏ (giy chng
nhn quyn s dụng đt) tha s 07, thời điểm đó hộ gia đình ông gm v
chng ông Nông Văn T2 Hoàng Th H4, các con Nông Văn T3, Nông Văn
L, Nông Văn B3 Nông Văn N4. Tuy h gia đình ông được cp giy chng nhn
đối vi thửa đất s 07 t bản đồ s 01 T năm 2004 nhưng thc tế mt phn
thửa đất s 07 thuc mt phn thửa đt s 27 hin nay có tranh chp gia ông
Hoàng Văn Cbà Nông Th H1, gia đình ông không quản lý, s dụng đất tranh
chấp này, cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với đất tranh chp.
Nay, bà Nông Th H1 không tr lại đất cho ông Hoàng Văn C thì ông cũng
nht trí ông Hoàng Văn C s xanh nhưng đã bị thu hồi, còn gia đình Nông
Th H1 thì có s đỏ là giy chng nhn quyn s dụng đất.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn ông
Hoàng Văn C bà Lành Th X các con Hoàng Văn B, Hoàng Văn N, Hoàng
Th H2, Hoàng Th B1, Hoàng Th N1 cùng ý kiến, yêu cầu với nguyên đơn.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn ng ThH1
c anh Hoàng n H6, Hoàngn T1, Hoàng Văn B2, Hng Chí V1 tham gia
9
tố tụng tại sơ thẩm lần thứ nhất có cùng ý kiến,u cầu vi bị đơn, không tham gia
tố tụng tại qtrình thẩm lần thứ hai theo striệu tập của T án.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị H4, anh Nông
Văn L, anh Nông Văn T3, anh Nông Văn B3, anh Nông Văn A không trình bày ý
kiến, không tham gia tố tụng theo sự triệu tập của Toà án.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vi Văn Q, chMa Thị
N2 trình bày tại giai đoạn giải quyết sơ thẩm lần thứ nhất chỉ đất giáp ranh
với đất tranh chấp, không liên quan đến đất tranh chấp trong vụ án, không tham
gia tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm lần thứ hai theo sự triệu tập của Toà án.
Người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan y ban nhân dân K, tnh Lng
Sơn cung cấp thông tin tại Công văn số 211/UBND-KT ngày 25/8/2025 V/v cung
cp thông tin, ý kiến liên quan đến v án dân s như sau: Thửa đt s 27 tờ bản
đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T nay là K, tỉnh Lạng Sơn chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quy hoạch đất rừng sản xuất, quy chủ UBND
, tại thời điểm đo đạc bản đồ đất lâm nghiệp, khu vực y có nhiều hộ gia đình
đang sử dụng nhưng không dn đạc để xác định ranh giới. UBND khôngu giữ
hồ giao đất cho ông Hoàngn C m 1996, không lưu giữ c hồ cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng tha đất số 06, 07 bản đồ đất m nghiệp nay một phần
thửa đất số 27 bản đồ địa chính đất m nghiệp số 01 T nay K, tỉnh Lạng
Sơn, không u giữ hồ thu hồi, bồi thường về đất của hộ Nông ThH1 khi thực
dự án đường T N. Theo quy định của pháp luật v đất đai, trưởng thôn và tập thể
thôn không thẩm quyền tổ chc bốc thăm, mua n hay giao lại quyền sử dụng
đất đã được Nhà ớc giao cho nhân khác. Căn chồ bản đồ giao đất, giao
rừngm 1996 tvị trí thôn N n đất kng phải là vị t lô đất ông Hoàng n C
được giao theo bản đồ. Ngi ra, UBND huyện L đã có Quyết định số 3136/UBND
ngày 30/12/2009 v việc ng nhận quyền sử dụng đất, cấp đổi và cấp mới giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất m nghiệp xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
Ti nhng li khai trong h sơ, ni làm chng ông Hà Văn G trình bày:
Tại thời điểm năm 2002 ông Hoàng Văn V2 (chồng Nông Thị H1) trưởng
thôn N, ông Văn G pthôn N. Do ông Hoàng Văn C gia đình đã vào
miền Nam sinh sống từ năm 1999 nhưng trên khu đất đồi S ông Hoàng Văn C
được giao đã các cây thông đến tuổi khai thác nhựa nên thôn mới họp để bốc
thăm, ai bốc trúng sẽ được cạo nhựa thông, được hưởng 50%, còn 50% làm quỹ
cho thôn, khi nào ông Hoàng Văn C ra thì trả lại toàn bộ số cây đất cho ông
Hoàng Văn C. Ông Văn G người bốc thăm được nhưng không nhận khai
thác nhựa nên ông Hoàng Văn V2 trưởng thôn nhận. Sau đó, gia đình ông
Hoàng Văn V2bà Nông Thị H1 khai thác nhựa thông được 1, 2 vụ thì lấy một
con lợn về khao làng, lấy danh nghĩa mua đất rừng S của ông Hoàng Văn C với
thôn N. Ông Văn G khẳng định không có việc thôn bàn bạc, bán đất của ông
Hoàng Văn C cho ông Hoàng Văn V2. Quá trình Toà án giải quyết vụ án, bị đơn
Nông Thị H1 mang giấy chuyển nhượng đất rừng đến bảo ông Văn G
ký nhưng ông Hà Văn G không ký xác nhận vì không đúng sự thật.
Tại những lời khai trong hồ sơ, những người làm chứng Chu Thị N3,
10
ông Vi Văn C1, bà ThL1, ông Nông Văn T4, ông Ngọc Văn Đ1, anh Nông
Văn C2 trình bày: Đất đang tranh chấp giữa ông Hoàng Văn C và Nông Thị
H1 về nguồn gốc đất là năm 1996 ông Hoàng Văn C được Nhà nước giao Sổ bìa
xanh (lô chung 08 hộ). Khi đó trên đất đã một số cây thông mọc, một số y
do Hợp tác thôn N trồng từ trước năm 1979. Năm 1999 gia đình ông Hoàng
Văn C đi Miền Nam thì đất của ông Hoàng Văn C do nhân dân thôn N quản lý.
Năm 2003 thôn N chuyển nhượng đất cho gia đình Nông Thị H1 với số tiền
1.000.000 đồng (một triệu đồng), số tiền này thôn mua một con lợn về thịt cho cả
thôn ăn. Năm 2003 đến 2005 gia đình Nông Thị H1 trồng cây thông quản
lý, sử dụng đất tới nay. Đối với giấy chuyển nhượng đất đồi rừng lập ngày
25/3/2003, giấy này do ai viết thì các ông, bà không biết nhưng vào tháng 5/2024
Nông Thị H1 đưa giấy đến nhà các ông, vào và bảo ký nên các ông, bà
tên nhưng không đọc, không biết nội dung thế nào.
Tại Biên bản xác minh ngày 20/8/2025, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai khu vực L cung cấp thông tin: Thửa đất số 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm
nghiệp số 01 T (nay K) quy chủ UBND xã, một phần thuộc thửa đất
số 07 (được cấp GCN cho hộ ông ng Văn T2) và thửa đất số 06 ược cấp GCN
cho hộ ông Hoàng Văn V2). Thửa đất số 23 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp
số 01 xã T (nay là xã K) quy chủ UBND xã, thửa đất số 2426 cùng tờ bản đồ
địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T (nay là xã K) không quy chủ.
Tại Biên bản xác minh ngày 20/8/2025, Chi nhánh phát triển quỹ đất khu
vực L cung cấp thông tin: Tại biểu tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ tái
định cư dự án đầu tư công trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp đường T N, huyện
L, tỉnh Lạng Sơn (kèm theo Quyết định số 5644 ngày 15/02/2018 của UBND
huyện L) thể hiện hộ gia đình Nông Thị H1 được bồi thường tổng số tiền
56.026.400 đồng (năm mươi sáu triệu không trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm
đồng) cho việc thu hồi diện tích đất thuộc các thửa đất số 23, 27, 96 cùng tờ bản
đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 T. Nông Thị H1 đã nhận đủ số tiền
56.026.400 đồng (năm mươi sáu triệu không trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm
đồng) tại phiếu chi ngày 24/4/2019 phiếu chi ngày 12/6/2019. Trong đó,
Nông Thị H1 được bồi thường về đất thuộc thửa đất số 27 tờ bản đồ địa chính đất
lâm nghiệp số 01 xã T tổng số tiền 30.040.000 đồng (ba mươi triệu không trăm
bốn mươi nghìn đồng) do thu hồi 1.502m
2
đất với số tiền giá trị quyền sử dụng
đất 7.510.000 đồng tiền hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề tạo việc làm
22.530.000 đồng.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông
Hoàngn C phát biểu ý kiến tranh luận:
Trên sở các tài liệu, chứng cứ trong hồ thể hiện đất tranh chấp hiện nay
giữa ông Hoàng Văn C và bà Nông Thị H1 tổng diện tích 16.738m
2
thuộc một
phần các thửa đất s23, 24, 26, 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T
(nay K), địa chỉ tại: S, thôn N, K, tỉnh Lạng Sơn. Tài sản trên đất hiện
nay là các cây thông do bị đơn bà Nông Thị H1 trồng.
11
Do nguyên đơn ông Hoàng Văn C rút một phần yêu cầu khởi kiện được
quản lý, sử dụng đối với diện tích 269m
2
thuộc một phần thửa đất số 23 (ký hiệu
23.1), diện tích 1519m
2
thuộc một phần thửa đất số 24 (ký hiệu thửa tạm 24.1),
diện tích 961m
2
thuộc một phần thửa đất s24 (ký hiệu 24.2), diện tích 12m
2
thuộc một phần thửa đất số 26 (ký hiệu 26.1), diện tích 416m
2
thuộc một phần
thửa đất số 26 (ký hiệu 26.2) tờ bản đồ địa cnh đấtm nghiệp số 01 xã T nay là
K, tỉnh Lạng Sơn; trên đất khôngi sản gì. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ
giải quyết đối với các yêu cầu mà ngun đơn đã rút y.
Đối với tổng diện tích 13.561m
2
đất tranh chấp thuộc thuộc một phần thửa đất
số 27 tờ bản đồ địa chính đất m nghiệp số 01 T nay K, tỉnh Lạng Sơn (gồm
c thửa tạm 27.1, thửa tạm 27.2 và thửa tạm 27.3) qua chồng gp bản đồ các thời
kỳ, phân tích, so sánh, đối chiếu với c tài liu giao đất, giao rừng, hiện trạng sử
dụng đất và lời khai củac đương sự, người làm chng xác định được nguồn gốc
đất là m 1996 hộ ông Hoàng n C được Nhà nước giao đất, giao rừng lô 230 S
(lô chung 8 hộ). Từ năm 1996-1999, nguyên đơn ông Hoàng Văn C đã nhận sổ, nhận
đất và quản lý các cây tng có sẵn trên đất, trồng thêmc cây thông con th hin
ông Hoàng Văn C đã trực tiếp quản lý, sử dụng đt được Nhà nước giao. Như vy,
nguyên đơn ông Hng n C người quyền sử dng đất hợp pháp theo quy
định của pp luật về đất đai. Bị đơn bà ng Thị H1 gia đình không được Nhà
ớc giao quyền sử dụng đất hợp pháp; khoảng m 2002-2003, chồng ng Thị
H1 ông Hoàng Văn V2 lợi dụng vị trí là trưởng thôn N tự ý cho bốc thăm, tự lập
giấy chuyển nhượng đồi rừng S của hộ ông Hoàng n C cho cnh ông Hng n
V2 hành vi chiếm đất, vi phạm điều cấm của pháp luật, xâm phạm đến quyền
sử dụng đất hợp pháp của hông Hng n C. Tkhoảng năm 200-2001 đến nay,
hộ ông Hoàng Văn C kng thc hiện được quyền sử dụng đt đối với đt tranh chấp
ông Hoàng Văn C đi o miền Nam, con gái ông Hngn C là Hoàng Th
N1 cũng thành viên của hộ, có quyền sử dụng đất nng khi mang cây thông con
n trồng thì bị gia đình bị đơn bà ng Thị H1 ngăn cản, không cho sử dụng đất.
Tm 2010 đến nay, gia đình ông Hoàngn C nhiều lần đòi trả đất nhưngng
không được giải quyết dt điểm. Nvậy, việc gia đình bị đơn bà Nông Thị H1 lấn
chiếm đất của ông Hoàng Văn C để sử dụng đất là trái pháp luật. Do đó, năm 2004
UBND huyện L không thẩm tra, xác minh mà cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với đất của ông Hoàng Văn C đã được Nhà ớc giao quyền sử dụng tm
1996 cho hông Hoàng n V2 thửa 06 hộ ông ng Văn T2 tha 07 không
đúng quy định. Nông Thị H1 không có quyền sử dụng đt nhưng lại nhận tiền bồi
thường, hỗ trợ về đất thuộc thửa 27 khi Nhà ớc thu hồi đất m dự án cải tạo, ng
cấp đường N T vào năm 2017-2018 kng đúng pháp luật.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ các quy định của pháp luật về đất đai qua
các thời kỳ, đ ngh Hội đồng xét x gii quyết yêu cu khi kin của nguyên đơn
ông Hoàng Văn C như sau: Nguyên đơn ông Hng n C đã tự nguyện thừa nhận
bị đơn bà ng Thị H1 ng quản lý đất đai n xác định ông Hoàng Văn C
Nông ThH1 mỗi người ½ quyền quản lý, sử dụng din ch 13.561m
2
đất
thuộc một phần thửa đất số 27 tờ bản đồ địa chính đấtm nghiệp số 01 T nay là
K, tỉnh Lạng Sơn hợp tình, hợp lý. Đồng thời, do nguyên đơn ông Hoàngn
12
C nay tuổi cao, sức khoyếu trong khi bị đơn ng Thị H1 điều kiện thuận
tiện để quản lý, sdụng đất tranh chấp tại khu vực biên giới tốt hơn nên đề nghị Hội
đồng t xử ghi nhận u cầu của nguyên đơn ông Hoàng n C cho bị đơn ng
Thị H1 được quyền quản lý, sử dụng tổng diện tích 13.561m
2
đất, gồm: Diện ch
12.864m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.1), diện tích 385m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.2) và diện
ch 312m
2
(ký hiệu tha tạm 27.3) ng thuộc một phn tha đất số 27 tờ bản đồ địa
chính đất m nghiệp số 01 T nay K, tỉnh Lạng n; được sở hữu i sản trên
đất do bị đơn tạo lập. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận u cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông Hoàng n C về việc buộc bđơn Nông Thị H1 phải thanh toán
cho ông Hoàng Văn C ½ giá trị quyền s dụng đt đối với tổng din tích 13.561m
2
thuộc một phần thửa đất số 27 tờ bản đồ địa chính đấtm nghiệp số 01 T nay là
K 33.902.500 đồng (ba ơi ba triệu chín trăm linh hai nghìn năm trăm đồng);
buộc bị đơn Nông Thị H1 trả lại cho ông Hoàng Văn C ½ số tiền bồi thường
về đất, hỗ trđào tạo chuyển đổi nghề tạo việc làm 15.020.000 đồng (mưi m
triệu không tm hai mươi nghìn đồng) đối với diện tích 1.502m
2
thuộc một phần
thửa đất s27 tờ bản đđịa chính đất lâm nghiệp số 01 T nay K, tỉnh Lạng
Sơn; xem t huc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 06 cấp
cho hộ ông Hoàng Văn V2 thửa số 07 cấp cho hộ ông ng Văn T2 theo quy
định; về chi phí tố tụng: Đề nghị giải quyết theo quy định; v án phí: Đề nghị miễn
toàn bộ án phí của vụ án cho nguyên đơn vì là người cao tuổi, đã có đơn xin miễn
án phí.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Nông
Thị H1 phát biểu ý kiến tranh luận:
Trên sở các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các
đương sự, người làm chứng căn cứ các quy định của pháp luật về đất đai. Có
căn cứ để xác định đất tranh chấp giữa các bên có nguồn gốc Nhà nước đã giao
cho nguyên đơn, tuy nhiên bị đơn cũng có công sức quản lý, sử dụng, bảo vệ đất
đai trong thời gian tương đối i, đặc biệt đây là khu vực biên giới với Trung
Quốc nên việc quản lý, sử dụng đất có ý nghĩa rất quan trọng đối với an ninh trật
tự tại địa bàn biên giới. Đề nghị nguyên đơn bị đơn nên thoả thuận theo phương
án hoà giải mỗi bên ½ quyền sử dụng đất tranh chấp, bị đơn được sử dụng toàn
bộ đất tranh chấp, được khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì
nghĩa vụ thanh toán ½ giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo kết quả định
giá của Hội đồng định giá ngày 01/8/2025, trả cho nguyên đơn ½ tiền bồi thường
đã nhận khi làm đường N T năm 2017-2018, còn nguyên đơn chịu toàn bộ chi
phí tố tụng của vụ án. Tuy nhiên, nếu các bên không hoà giải được thì đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo quy định.
Bị đơn Nông Thị H1 không nhất trí hoà giải theo ý kiến của người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, giữ nguyên các ý kiến, yêu cầu như đã
trình bày.
Ý kiến của đại din Vin kim sát nhân dân khu vc 5 - Lạng Sơn:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ vụ án trong quá trình
giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa
13
án thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn,
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quy định tại các
Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham
gia tố tụng khác đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, tất cả những người tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng nội quy phiên tòa quy định tại Điều 234 của B luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đnghị Hội đồng t xử áp dụng khoản 1 Điều 2 Luật
Đất đai m 1993; khoản 6 Điều 50 Luật Đất đai m 2003; khoản 1, 2 Điều 26,
Điều 101, Điều 166, Điều 170, Điu 203 Luật Đất đai m 2013; Điều 4, 5, 17, 26
Luật Đất đai năm 2024; các Điều 105, 115, 116, 160, 161, 163, 164, 169, 182, 184,
221, 237 và 238 Bộ luật Dân sựm 2015; khoản 2 Điều 26, đim a khoản 1 Điều
35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụngn
sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điu 15 của Ngh quyết s:
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 ca U ban Thường v Quc hi khoá 14.
Đình chỉ giải quyết do nguyên đơn ông Hngn C t yêu cu khởi kiện đối với
diện tích 269m
2
thuộc một phần thửa đất số 23 (ký hiệu 23.1), din ch 1519m
2
thuộc
một phần thửa đất số 24 (ký hiệu tha tạm 24.1), diện tích 961m
2
thuộc một phần
thửa đất số 24 (ký hiệu 24.2), diện ch 12m
2
thuộc một phần thửa đất số 26 ( hiệu
26.1), diện tích 416m
2
thuộc một phần thửa đất số 26 ( hiệu 26.2) tờ bản đồ địa
chính đất m nghiệp số 01 T nay K, tỉnh Lạng n; trên đất không i
sản gì. Đề nghị: Tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông Hoàng n C về việc buộc bị đơn ng ThH1 phải thanh toán cho ông
Hoàng n C ½ giá tr quyền sử dụng đất đối với tổng diện tích 13.561m
2
thuộc một
phần tha đất s27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 T nay K
33.902.500 đồng (ba ơi ba triệu chín trăm linh hai ngn m trăm đồng); buộc
bị đơn bà Nông Thị H1 trả lại cho ông Hoàng n C ½ số tiền bồi thường về đất,
hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm là 15.020.000 đồng (ời lăm triệu
không trăm hai mươi ngn đồng) đối với diện ch 1.502m
2
thuộc một phần thửa đất
số 27 tờ bản đồ địa cnh đất m nghiệp s01 T nay K, tỉnh Lạng n;
không cần thiết huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 06 cấp
cho hộ ông Hoàngn V2; v chi p tố tụng: Ngun đơn ông Hoàng Văn C phải
chịu toàn bchi phí ttụng của vụ án; v án phí: Miễn toàn bộ án p của ván cho
nguyên đơn ông Hng Văn C người cao tuổi, có đơn xin min án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phn tòa vắng mặt những người quyn lợi
nghĩa vụ liên quan Lành Th X, ông Hoàng Văn B, ông Hoàng Văn N, bà Hoàng
Th H2, bà Hoàng Th B1, bà Hoàng Th N1 đều có đơn xin giải quyết vng mt;
vng mặt người đi din theo u quyn ca UBND xã K, tnh Lạng Sơn và vng
mt những người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan các anh Hoàng Văn H6, Hoàng
Văn T1, Hoàng Văn B2, Hoàng Chí V1, bà Hoàng Thị H4, anh Nông Văn L, anh
Nông Văn T3, anh Nông Văn B3, anh Nông Văn A, anh Vi Văn Q, chị Ma Thị
N2, những người làm chứng bà Chu Thị N3, ông Vi Văn C1, Thị L1, ông
Nông Văn T4, ông Văn G đã được triu tập hợp lđến phiên tòa lần thứ ba.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng
14
dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng
này. Đối với việc bà Lành Th X, ông Hoàng Văn B, bà Hoàng Th H2, bà Hoàng
Th B1, ông Hoàng Văn N văn bản u quyn tham gia t tng cho ông Hoàng
Văn C để gii quyết tranh chấp đất đai nhưng không lp văn bản theo quy định,
không có xác nhn ca quan có thẩm quyn, không có căn cứ xác đnh ch
tại văn bn u quyn là ca bà Lành Th X, ông Hoàng Văn B, bà Hoàng Th H2,
bà Hoàng Th B1, ông Hoàng Văn N nên không được xem xét chp nhn vic u
quyn.
[2] Quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết: Trên cơ syêu
cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết
trong vụ án này Tranh chp quyn s dụng đất tài sản trên đt, yêu cu
thanh toán gtr quyn s dụng đất và tr tin bồi thường, h tr v đt, yêu cu
hy Giy chng nhn quyn s dụng đất. Đất tranh chấp i sản trên đất tại
thôn N, K, tỉnh Lạng Sơn. Căn cứ quy định tại khoản 2 khoản 9 Điều 26,
Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Bộ luật Tố tụng dân
sự, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội
đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về tiếp nhận
nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân, thẩm quyền giải quyết
thuộc Tòa án nhân dân khu vực 5- Lạng Sơn.
[3] Ông Hoàng n C Lành ThX vợ chồng, có c con chung ông
Hoàng n B, bà Hoàng ThH2, Hoàng Thị B1, ông Hoàng Văn N, Hoàng
ThN1. Nông Thị H1 ông Hoàng n V2 ã chết) vợ chồng, có các con
chung anh Hoàng n H6, anh Hoàng n T1, anh Hoàng n B2, anh Hoàng
Chí V1, ngoài ra ông Hoàng Văn V2 không có con đẻ, con nuôi nào khác, bmẹ đ
của ông Hoàng Văn V2 đã chết tớc ông Hoàng Văn V2. Ông Nông Văn T2 và bà
Hoàng ThH4 vợ chồng, c con chung anh Nông n L, anh ng n T3,
anh ng n B3, anh ng n A.
[4] Về đất tranh chấp tài sản trên đất giữa nguyên đơn ông Hoàng Văn
C và bị đơn bà Nông Thị H1:
[4.1] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, các đương sự đều nhất trí
với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ theo biên bản ngày 01/8/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 5 – Lạng Sơn, kết quả đo đạc tại trích đo khu đất tranh chấp số
61-2025 của Công ty cổ phần trắc địa bản đồ môi trường sông chi nhánh
Lạng Sơn, thống nhất xác định: Đất tranh chấp tổng diện tích 16.738m
2
, gồm
các diện tích đất cụ thể như sau: Diện tích 12.864m
2
( hiệu thửa tạm 27.1), diện
ch 385m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.2) diện tích 312m
2
(ký hiệu tha tạm 27.3) ng
thuộc một phần thửa đất số 27 tờ bản đồ địa chính đấtm nghiệp số 01 T nay là
K, tỉnh Lạng Sơn; diện tích 269m
2
(ký hiệu thửa tạm 23.1) thuộc một phần tha
đất số 23 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 T nay xã K, tỉnh Lạng n;
diện ch 1.519m
2
( hiệu tha tạm 24.1) diện ch 961m
2
(ký hiệu thửa tạm 24.2)
ng thuộc một phần tha đất số 24 (ký hiệu thửa tạm 23.1); diện tích 12m
2
(ký hiệu
thửa tạm 26.1) và din tích 416m
2
( hiệu thửa tạm 26.2) thuộc một phần thửa đất
số 26 tbản đồ địa chính đất lâm nghiệp s01 T nay là xã K, tỉnh Lạng Sơn; địa
15
danh, địa chỉ: S, thôn N, K, tỉnh Lạng n. Trong đó, phần diện tích đất tranh
chấp thuộc một phần các thửa đất số 26 và 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp
số 01 T nay K, tỉnh Lạng Sơn các phía tiếp giáp với đất đường giao
thông, giáp đất rừng ca ông Nông Văn T2 (hiện do các con ông Nông Văn T3,
ông Nông Văn L quản lý, ranh giới là rãnh đào), giáp đất ruộng của ông Ma Văn
H5 (con là Ma Thị N2); hiện trạng là đất rừng sản xuất; tài sản trên đất gồm: 240
cây thông đường kính gốc nhỏ hơn 05cm; 70 cây thông có đường kính gốc từ
05cm - 10cm, 80 cây thông đường kính gốc 20cm - 30cm; 10 cây thông đường
kính gốc trên 30cm, ngoài ra không cây gỗ tạp khác (do bị đơn Nông Thị
H1 tạo lập). Diện tích đất thuộc một phần thửa 26 một phần các thửa đất số 23,
24 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 T (nay là xã K), trên đất không có
tài sản gì.
[4.2] Các đương sự đều nhất trí với kết quả định giá tài sản tại Biên bản
ngày 01/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 Lạng Sơn: Đất tranh chấp đất
rừng sản xuất thuộc nhóm III gNhà nước là 5.000 đồng/m
2
; 240 cây thông
đường kính gốc dưới 05cm giá trị là 4.320.000 đồng, 70 cây thông đường kính
gốc từ trên 05cm đến 10cm có gtrị là 1.960.000 đồng, 80 cây thông đường kính
gốc từ trên 10cm đến 20cm có gtrị là 6.480.000 đồng, 50 cây thông đường kính
gốc từ trên 20cm đến 30cm có giá trị 6.750.000 đồng, 10 cây thông đường kính
gốc trên 30cm có giá trị là 2.930.000 đồng.
[4.3] Các đương sđều nhất trí với kết quả chồng ghép bản đqua các thời
kỳ như sau: Chồng ghép khu đất tranh chấp với bản đồ cấp Giấy chứng nhận đất
lâm nghiệp năm 2004 thể hiện một phần thửa đất số 06 một phần thửa đất số
07 nay thuộc một phần thửa đất số 27 tờ bản đđịa chính đất lâm nghiệp số 01 xã
T (nay K). Trong đó thửa đất số 06 được cấp GCN cho hộ ông Hoàng Văn
V2, thửa đất số 07 được cấp GCN cho hộ ông Nông Văn T2 cùng năm 2004.
Chồng ghép khu đất tranh chấp với bản đồ giao đất lâm nghiệp cho thấy khu đất
tranh chấp không trùng với lô 230 (địa danh S, lô chung 8 hộ).
[5] Qtrình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn ông Hoàng Văn
C rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu được quản lý, sử dụng diện ch
269m
2
(ký hiệu thửa tạm 23.1) thuộc một phần thửa đất số 23 tờ bản đồ địa chính đất
m nghiệp số 01T nay là xã K, tỉnh Lạngn; diện tích 1.519m
2
(ký hiệu thửa
tạm 24.1) và diện tích 961m
2
(ký hiệu thửa tạm 24.2) cùng thuộc một phần thửa đất
số 24 (ký hiệu thửa tạm 23.1); diện ch 12m
2
(ký hiệu thửa tạm 26.1) và diện tích
416m
2
(ký hiệu thửa tạm 26.2) thuộc một phần thửa đất số 26 tờ bản đồ địa chính đất
m nghiệp số 01 T nay là K, tỉnh Lạng Sơn, trên đất không có i sản. Vì vậy,
Hội đồngt x đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiệny của nguyên đơn.
Đối với việc khoảng m 2003, gia đình bị đơn ng Thị H1 khai thác c y
thông trên đất thì nguyên đơn ông Hoàng n C không u cầu n Hội đồng t xử
không xem t.
[6] Đối với diệnch 12.864m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.1), diện tích 385m
2
(ký
hiệu thửa tạm 27.2) diện tích 312m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.3) ng thuộc một phn
16
thửa đất s27 tờ bản đđịa chính đất lâm nghiệp số 01 T nay K, tỉnh Lạng
Sơn, Hội đồng t xử nhận thấy như sau:
[7] Về nguồn gốc đất tranh chấp:
[7.1] Nguyên đơn ông Hoàng Văn C và bị đơn bà Nông Thị H1, các đương
sự khác những người làm chứng trong vụ án đều trình bày đất tranh chấp
nguồn gốc là năm 1996 ông Hoàng Văn C được cấp H giao quyền qun lý, s
dng rừng đt trng rng. Li trình bày của các đương sự, người làm chng v
ngun gốc đất là phù hp vi nhau, phù hp vi H giao quyn qun lý, s
dng rừng đất trng rng theo Quyết định số 173/QĐ-UB ngày 03/10/1996 của
Uỷ ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Biên bản giao nhận rừng đất trồng
rừng cho ông Hoàng Văn C được sử dụng lô 211 và lô 230 (lô chung 8 h), biu
khai hin trạng đất lâm nghip th hiện 211 địa danh P vi din tích 3,2ha,
230 địa danh S vi din tích 5,8ha (lô chung 08 h), địa ch đất ti thôn N,
xã T, huyn L, tnh Lạng Sơn (nay là thôn N, xã K, tnh Lạng Sơn).
[7.2] Tại biểu thống hiện trạng rừng đất trồng rừng khi nhận đất, nhận
rừng thôn N, năm 1996 thể hiện lô 230 địa danh S chung 8 hộ gồm: Nông
Văn K, Hoàng Văn C, Ngọc Văn Đ1, Hoàng Văn L2, Nông Văn P, Vi Văn C3,
Văn G, Nông Văn T2. Tại Danh sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
lâm nghiệp kèm theo Quyết định số 951 ngày 26/7/2004 của UBND huyện L thể
hiện: Ông Hà Văn G được cấp GCN QSD thửa đất số 03, ông Nông Văn T2 được
cấp GCN QSD thửa đất số 07, ông Nông Văn K được cấp GCN QSD thửa đất số
01, ông Nông Văn P được cấp GCN QSD thửa đất số 09, ông Ngọc Văn Đ1 được
cấp GCN QSD thửa đất số 11, ông Vi Văn C3 được cấp GCN QSD thửa đất số
04, ông Hoàng Văn V2 (chồng bà Nông Thị H1) được cấp GCN QSD thửa đất số
06. Như vậy, vị trí, hiện trạng tiếp giáp của khu đất tranh chấp hiện nay cùng
địa danh, địa điểm tại S, thôn N, xã K, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là S, thôn N, xã
T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn), cùng giáp ranh với các hộ gia đình được sử dụng
chung 230 theo các tài liệu, hồ giao đất giao rừng năm 1996, phù hợp với kết
quả chồng ghép khu đất tranh chấp với bản đồ cấp GCNQSD đất năm 2004 thể
hiện một phần thửa đất số 06 và một phần thửa đất số 07 nay thuộc một phần thửa
đất số 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã T (nay là xã K).
[7.3] Nvậy, mặc kết quả chồng ghép khu đất tranh chấp với bản đồ
giao đất lâm nghiệp cho thấy khu đất tranh chấp không trùng với 230 địa
danh S, chung 8 hộ (do sai sót kỹ thuật trong đo vẽ bản đồ giao đất giao rừng
không đúng với hiện trạng) nhưng địa danh, vị trí các phía tiếp giáp của khu
đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 27 hiện nay đều phù hợp với các tài
liệu giao đất giao rừng năm 1996, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm
nghiệp năm 2004 nên có đủ cơ sở xác định đất tranh chấp có nguồn gốc lô 230
(lô chung 08 hộ) được Nhà nước giao cho ông Hoàng Văn C quyền quản lý, sử
dụng từ năm 1996 cùng với 07 hộ khác.
[8] Về quá trình quản lý, sử dụng đất của các đương sự:
[8.1] Nguyên đơn ông Hoàng Văn C trình bày: Khi nhận đất, nhận rừng
năm 1996 nguyên đơn ông Hoàng Văn C đã quản lý các cây thông mọc tự nhiên
17
trên đất; t năm 1997 đến năm 1998, nguyên đơn ông Hoàng Văn C đi tìm các
cây thông con mang v trồng trên đất, mi ln trồng được khong 50 cây thông
con, trng dm nhiu ln; vào năm 1999, nguyên đơn ông Hoàng Văn C tiếp tc
trng thêm một đợt cây thông con trên đồi S trong thi gian khong 2, 3 ngày sau
đó vào miền Nam sinh sng giao cho con gái Hoàng Th N1 qun lý,
trông coi rng S. Tuy nhiên, Hoàng Th N1 thành viên h không qun lý, s
dụng khu đất rng S đưc do b gia đình bị đơn Nông Th H1 ngăn cản t
khoảng năm 2000-2001. Do điều kin kinh tế, khoảng cách đa lý xa xôi, phương
tiện đi lại khó khăn nên đến năm 2010-2012 nguyên đơn ông Hoàng Văn C mi
đến nhà bà Nông Th H1 đòi trả đất nhưng không được chp nhn. T đó đến nay,
hai bên phát sinh tranh chấp nhưng không được gii quyết dứt điểm. Theo yêu
cu ca UBND xã, ông Hoàng Văn C đã nộp li s bìa xanh, ch gi li bn phô
tô để căn cứ khi kin ra Toà án. Li trình bày ca ông Hoàng Văn C phù hp
vi li khai của các đương sự, người làm chứng đều th hiện trên khu đt rng S
vào thời điểm năm 2003 đã có các cây thông trên đất, th hin ông Hoàng Văn C
đã quản lý tài sản trên đất, s dụng đất được giao để trng thêm các cây thông.
[8.2] Bị đơn Nông Thị H1 trình bày: Nguyên đơn ông Hoàng Văn C
không nhận đất, không nhận sổ bìa xanh (Hồ giao quyền quản lý, sử dụng rừng
đất trồng rừng), không quản lý, sdụng đối với đất tranh chấp tại đồi S khu
đất này do người dân trong thôn N quản lýông Hoàng Văn C và gia đình đã đi
miền Nam, từ bỏ quyền sử dụng đất. Đến năm 2003 thì thôn N tổ chức bốc thăm
để giao đất nhưng người bốc được là ông Hà Văn G không nhận đất nên bà Nông
Thị H1 đứng ra nhận thôn đã chuyển nhượng khu đất này lại cho gia đình
Nông Thị H1, bà Nông Thị H1 đã đưa cho thôn 1.000.000 đồng (một triệu đồng)
để mua lợn ăn. Từ năm 2003 đến nay, bà Nông Thị H1 cùng gia đình quản lý, sử
dụng đất, trồng cây thông trên đất, năm 2004 được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Khoảng năm 2010, ông Hoàng Văn C đến nhà bà đòi lại đất đồi S
nhưng vợ chồng Nông Thị H1 không trả năm 2003 đã nhận đất với thôn,
đưa cho thôn 1.000.000 đồng mua lợn ăn và năm 2004 đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Lời trình bày củaNông Thị H1 phù hợp với lời trình
bày của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn T2 nhưng ngoài
lời trình bày thì không i liệu chứng minh. Lời trình bày này không phù hợp
với hiện trạng trên đất vào năm 2003 đã tài sản các cây thông thể hiện đất
tranh chấp không phải đất trống, đồi trọc sự tác động của người sử dụng
đất thông qua việc quản các cây thông đã có, trồng thêm các cây thông mới.
Đồng thời, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của ông Hoàng Văn C cung cấp H
sơ giao quyền quản lý, sử dụng rừng và đất trồng rừng đối với lô 230 S, chính bị
đơn bà Nông Thị H1 cũng thừa nhận khi thôn bốc thăm vào năm 2003 thì không
thông báo gì cho ông Hoàng Văn C biết, khoảng năm 2010 ông Hoàng Văn C
đòi trả lại đất nhưng gia đình không trả và hai bên phát sinh tranh chấp cho đến
nay. Như vậy, không có căn cứ xác định nguyên đơn ông Hoàng Văn C đã từ bỏ
quyền quản lý, sử dụng đất được Nhà nước giao.
[8.3] Đối với việc bị đơn bà Nông Thị H1 trình bày năm 2003, thôn tổ chức
bốc thăm để giao lại quyền quản lý, sử dụng khu đất đồi S của ông Hoàng Văn C
18
cho người dân trong thôn, gia đình nhận lại đất từ thôn Giấy chuyển
nhượng đất rừng. Ngoài lời trình bày bà Nông Thị H1 không có tài liệu, chứng cứ
gì chứng minh việc thôn giao quyền quản lý, sử dụng đất tranh chấp cho gia đình
bà. Lời trình bày của Nông Thị H1 mâu thuẫn với lời khai của người làm chứng
là ông Hà Văn G là phó thôn N thời điểm năm 2002-2003. Ông Hà Văn G khẳng
định khoảng năm 2002 thôn họp để bốc thăm, ai bốc trúng sẽ được cạo nhựa
thông, được hưởng 50%, còn 50% làm quỹ cho thôn, khi nào ông Hoàng Văn C
ra thì trả lại toàn bộ số cây và đất cho ông Hoàng Văn C. Ông Hà Văn G là người
bốc thăm được nhưng không nhận khai thác nhựa nên ông Hoàng Văn V2
trưởng thôn nhận sau đó khai thác nhựa được 1, 2 vụ thì lấy một con lợn về
khao làng, lấy danh nghĩa mua đất rừng của ông Hoàng Văn C với thôn N. Ông
Hà Văn G khẳng định không việc thôn bàn bạc, bán đất của ông Hoàng Văn C
cho ông Hoàng Văn V2. Quá trình Toà án giải quyết vụ án, bị đơn Nông Thị
H1 có mang giấy chuyển nhượng đất rừng đến bảo ông Hà Văn G ký nhưng ông
Văn G không xác nhận không đúng sự thật. Vì vậy, không cơ sở để
c định khoảng năm 2003 thôn N giao cho gia đình Nông ThH1 quyền quản lý,
sử dụng đất tranh chấp. Bên cạnh đó, tại Công văn số 211/UBND-KT ngày
25/8/2025 ca UBND xã K, tnh Lạng Sơn cung cấp thông tin: Theo quy định của
pháp luật về đất đai, trưởng thôn và tập th thôn không thẩm quyền tổ chức bốc
thăm, mua bán hay giao lại quyền sử dụng đất đã được Nớc giao cho cá nhân
khác.
[8.4] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nông Thị H1 giao nộp cho Toà
án 02 Giấy chuyển nhượng đất đồi rừng đều cùng ngày 25/3/2003. Nông Thị
H1 trình bày Giấy chuyển nhượng đất đồi rừng ngày 25/3/2003 (bản sao) tại bút
lục số 161 do chính chồng ông Hoàng Văn V2 viết, nội dung thôn N
chuyển nhượng đất ca ông Hoàng Văn C (đã di dân vào miền Nam, giao cho
thôn quản lý) cho ông Nông Văn T5 (chính là Nông Văn V3) với số tiền 500.000
đồng (năm trăm nghìn đồng), văn bản này chỉ ông Hoàng Văn V2 tại mục
người chuyển nhượng thôn, trưởng thôn N, ngoài ra không nhân, cơ quan,
tổ chức nào ký, xác nhận. Tại phiên toà, bị đơn bà Nông Thị H1 thừa nhận “Giấy
chuyển nhượng đất đồi rừng ngày 25/3/2003” (bút lục 63) là do bà Nông Thị H1
tự lập, không phải ông Hoàng Văn V2 viết, nội dung thôn N chuyển nhượng
chỗ đất của ông Hoàng Văn C thuộc đồi T (tên gọi khác của S, T) cho Hoàng Văn
V2 với s tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng chẵn), tại mục người chuyển
nhượng thôn trưởng thôn N tên ghi họ tên Hoàng Văn V2, mặt sau
của văn bản ký tên ghi họ tên của Chu ThN3, Thị L1, Vi Văn C1, Nông
Văn K, Nông Văn T4, Nông Văn T2. Những người làm chứng Chu Thị N3,
Thị L1, Vi Văn C1, Nông Văn K, Nông Văn T4 đều trình bày khoảng tháng
5/2024 bị đơn Nông Thị H1 đến nhà nhờ những người làm chứng này tên
nên họ ký giúp không xem, không biết nội dung n bản. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn T2 trình bày tuy ông không tham gia bốc thăm
vào khoảng năm 2002-2003 nhưng nhất trí với việc gia đình Nông Thị H1 sử
dụng đất của ông Hoàng Văn C nên tên xác nhận. Đối với Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thể hiện tại 02 Giấy chuyển nhượng đất đồi rừng đều
19
cùng ngày 25/3/2003, Hội đồng xét xử thấy rằng: (1) Về hình thức, nội dung của
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: 02 Giấy chuyển nhượng đất đồi rừng
đều cùng ngày 25/3/2003 là giấy viết tay, không qua công chứng, chứng thực của
quan nhà nước thẩm quyền, không tuân thủ đúng quy định về hình thức của
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định; không thể hiện số
đất, thửa đất, số tờ bản đồ, diện tích, kích thước các cạnh của thửa đất và các phía
tiếp giáp. (2) Về nguồn gốc, tình trạng pháp của tài sản chuyển nhượng quyền
sử dụng đất đồi S đã được giao quyền quản lý, sử dụng cho ông Hoàng Văn C vào
năm 1996 tại H giao quyền qun lý, s dng rừng đất trng rng theo
Quyết định số 173/QĐ-UB ngày 03/10/1996 của Uỷ ban nhân dân huyện L, tỉnh
Lạng Sơn. Như vậy, quyền sử dụng đất tại đồi S tài sản của hộ ông Hoàng Văn
C gồm các thành viên là v chng ông Hoàng Văn C, bà Lành Th X các con
Hoàng Văn B, Hoàng Văn N, Hoàng Th H2, Hoàng Th B1, Hoàng Th N1.
(3) Vchủ thể xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyn sử dụng đất: Người chuyển
nhượng và nhận chuyển nhượng đều là trưởng thôn N ông Hoàng Văn V2 (chồng
bị đơn Nông Thị H1) không quyền sử dụng đất, không được sự uỷ quyền,
không có sự đồng ý, định đoạt của hộ ông Hoàng Văn C là vi phạm điều cấm của
pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của hộ ông Hoàng
Văn C. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy 02 Giấy chuyển nhượng đất đồi rừng đều
cùng ngày 25/3/2003 nêu trên hình thức không tuân thquy định của pháp luật,
giả tạo, nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
quyền lợi ích hợp pháp của hộ ông Hoàng Văn C. Có đủ sở để xác định hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện tại 02 Giấy chuyển nhượng đất
đồi rừng đều cùng ngày 25/3/2003 do ông Hoàng Văn V2 và bà Nông Thị H1 lập
là vô hiệu theo quy định tại các Điều 122, Điều 123 và Điều 124 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
[8.5] Từ những phân tích, đánh gtrên có cơ sở để xác định hộ ông Hoàng
Văn C được giao quyền quản lý, sử dụng hợp pháp đối với đất tranh chấp và thực
tế đã nhận đất, trực tiếp sử dụng đất từ năm 1996-1999, sau đó thành viên của hộ
ông Hoàng Văn C là bà Hoàng Thị N1 không tiếp tục sử dụng được đất do có sự
tranh chấp với gia đình bị đơn Nông Thị H1. Từ khoảng năm 2003 đến nay,
gia đình bà Nông Thị H1 quản lý, sử dụng đất của hộ ông Hoàng Văn C mà chưa
được hộ ông Hoàng Văn C cho phép là hành vi chiếm đất theo quy định tại khoản
9 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024, xâm phạm đến quyền quản lý, sử dụng đất hợp
pháp của hộ ông Hoàng Văn C.
[9] Theo chính ch, pháp luật đất đai của Nhà ớc ta qua c thời kỳ thì
đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai
thống nhất quản lý. Trước khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Nhà nước không
xác lập quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình (Luật Đất đai năm 1987). Sau
khi Luật Đất đai năm 1993 hiệu lực pháp luật (ngày 15/10/1993), Nhà nước xác
lập quyền sử dụng đất cho nhân, hộ gia đình. Việc c lập quyền sử dụng đất
của Nnước cho nhân, hộ gia đình qua c thời kỳ Luật Đất đai năm 1993,
Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 Luật đất đai m 2024 đều căn
cứ vào việc Nhà nước giao quyền sử dụng đất thông qua quan Nhà nước thẩm
20
quyền ban nh quyết định giao đất cho đối tượng nhu cầu sử dụng đất hoặc
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào quá trình quản lý, sử dụng đất
ổn định, không tranh chấp. Hộ ông Hoàng n C được Nhà nước giao quyn
quản lý, sử dụng đất tại H giao quyền qun lý, s dng rừng đất trng rng
theo Quyết định số 173/QĐ-UB ngày 03/10/1996 của Uỷ ban nhân dân huyện L,
tỉnh Lạng Sơn đối với khu đất tranh chấp, tại Công văn số 229/UBND-TNMT
ngày 24/7/2024 của UBND huyện L, tỉnh Lạng Sơn cung cấp thông tin Hồ giao
quyền quản sử dụng rừng đất trồng rừng ngày 03/10/1996 cấp cho ông
Hoàng Văn C nếu còn thời hạn sử dụng và chưa bị thu hồi, huỷ bỏ thì vẫn còn g
trị pháp theo quy định. Như vậy, hộ ông Hoàng Văn C quyền sử dụng đất
hợp pháp đối với đất tranh chấp. Gia đình bà Nông Thị H1 không được Nhà nước
giao quyền sử dụng đất từ năm 2003 đến nay gia đình Nông Thị H1 sdụng
đất đã được Nhà nước giao quyền sử dụng cho hộ ông Hoàng Văn C hành vi
chiếm đất, vi phạm quy định của pháp luật về đất đai.
[10] Tại phiên toà, ngun đơn ông Hoàng Văn C trình bày mặc dù, hành vi
chiếm đất của gia đình bị đơn bà Nông Thị H1 là vi phạm pháp luật đất đai nhưng
ngun đơn ông Hoàng n C tự nguyện xác định Nông ThH1 công sức
quản lý, bảo vệ đất đai nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho ông Hoàng Văn
C Nông Thị H1 mỗi người ½ quyền quản lý, sử dụng đối với tổng diện
ch 13.561m
2
, gồm các diện tích đất cụ thể sau: Diện tích 12.864m
2
(ký hiệu thửa
tạm 27.1), diện ch 385m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.2) và diện ch 312m
2
(ký hiệu thửa
tạm 27.3) ng thuộc một phần thửa đất s27 tbản đồ địa chính đấtm nghiệp s
01 T nay là xã K, tỉnh Lạng Sơn. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn ông Hoàng
n C n cứ, hợp nh hợp , phù hợp với việc quản lý, s dụng đất đai tại
khu vực thôn N, K, tỉnh Lạng Sơn (là địa n biên giới với Trung Quốc) n được
Hội đồng xét xử chấp nhận. Đồng thời, tại phn toà nguyên đơn ông Hoàng n C
trìnhy ông tuổi cao, sức khoẻ yếu sẽ khó khăn trong quản lý, sử dụng đấtn đ
nghị Hội đồng xét xử xem t cho bị đơn ng ThH1 được qun lý, sử dụng
toàn bộ diện tích đất tranh chấp 13.561m
2
, gồm c diện tích đất cụ th sau: Diện
ch 12.864m
2
(ký hiu tha tạm 27.1), diện tích 385m
2
(ký hiệu tha tạm 27.2)
diện tích 312m
2
( hiu thửa tạm 27.3) cùng thuộc một phần thửa đất số 27 tờ bản
đồ địa cnh đất m nghiệp số 01 xã T nay K, tỉnh Lạng Sơn; Nông Thị H1
được sở hữu toàn bội sản là cácy thông trên diện tích đất này. Bị đơn bà Nông
ThH1 nhất trí với ý kiến, yêu cu y của ông Hoàng n C. Tại nhng lời khai
trong hồ của những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn
ng ý kiến, u cầu với nguyên đơn; những người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan
về phía bị đơn cùng ý kiến, yêu cầu với bị đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận ý
kiến, sự tho thuận, nhất t giữa c đương sự về việc bị đơn bà Nông Thị H1 được
quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất tranh chấp 13.561m
2
, gồm c din ch đất
cụ thsau: Diện ch 12.864m
2
(ký hiệu tha tạm 27.1), diện tích 385m
2
(ký hiệu
thửa tạm 27.2) diện ch 312m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.3) cùng thuộc một phần thửa
đất số 27 tờ bản đồ địa chính đất m nghiệp số 01 xã T nay là K, tỉnh Lạng n;
Nông ThH1 được sở hữu toàn bộ i sản c cây thông trên diệnch đất y.
[11] Nđã phân tích trên, ông Hoàng Văn C Nông Thị H1 mỗi
21
người ½ quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp là 13.561m
2
,
gồm các diện tích đất cụ thể sau: Din tích 12.864m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.1), diện
ch 385m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.2) diện tích 312m
2
(ký hiệu tha tạm 27.3) ng
thuộc một phần tha đất số 27 tbản đồ địa chính đt lâm nghiệp số 01 T nay
K, tỉnh Lạng n n bị đơn bà Nông ThH1 được quản , sử dụng tn bộ diện
ch đất tranh chấp thì nghĩa vthanh toán cho ông Hoàng n C ½ giá trị quyền
sử dụng đất. vậy, u cầu của nguyên đơn ông Hoàng Văn C về việc buộc bị đơn
Nông Thị H1 có nghĩa vthanh toán cho ngun đơn ông Hng Văn C ½ giá tr
quyền sử dụng đất (theo kết quả định giá tài sản ngày 01/8/2025) đối với tổng diện
ch 13.561m
2
với số tiền 33.902.500 đồng (ba mươi ba triệu cn trăm linh hai
ngn năm trăm đồng), gồm c diện tích đất cụ thsau: Diện ch 12.864m
2
(ký hiệu
thửa tạm 27.1), diện ch 385m
2
(ký hiệu tha tạm 27.2) diện tích 312m
2
(ký hiệu
thửa tạm 27.3) ng thuộc một phần thửa đất số 27 tờ bản đồ địa cnh đất m nghiệp
số 01 xã T nay là xã K, tỉnh Lạng Sơn; mã loại đất theo bn đồ địa cnh RST, quy
chủ Uỷ ban nhân dân xã; địa chỉ: S, thôn N, xã K, tỉnh Lạngn, n cứ theo
quy định của pháp lut n được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Tại Biên bản xác minh ngày 20/8/2025, Chi nhánh phát triển quỹ đất
khu vực L cung cấp thông tin: Tại biểu tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ
tái định dự án đầu công trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp đường T N,
huyện L, tỉnh Lạng Sơn (kèm theo Quyết định số 5644 ngày 15/02/2018 của
UBND huyện L) thể hiện hộ gia đình Nông Thị H1 được bồi thường tổng số
tiền 56.026.400 đồng (năm mươi sáu triệu không trăm hai mươi sáu nghìn bốn
trăm đồng) cho việc thu hồi diện tích đất thuộc các thửa đất số 23, 27, 96 cùng tờ
bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 T. Bà ng Thị H1 đã nhận đủ số tiền
56.026.400 đồng (năm mươi sáu triệu không trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm
đồng) tại phiếu chi ngày 24/4/2019 phiếu chi ngày 12/6/2019. Trong đó,
Nông Thị H1 được bồi thường về đất thuộc thửa đất số 27 tờ bản đồ địa chính đất
lâm nghiệp số 01 xã T tổng số tiền 30.040.000 đồng (ba mươi triệu không trăm
bốn mươi nghìn đồng) do thu hồi 1.502m
2
đất với số tiền giá trị quyền sử dụng
đất 7.510.000 đồng tiền hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề tạo việc làm
22.530.000 đồng. Tại phiên toà, bà Nông Thị H1 trình bày đã nhận đủ số tiền bồi
thường như các tài liệu trong hồ sơ thể hiện. Như đã nêu trên, ông Hoàng Văn C
Nông ThH1 mỗi người ½ quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất
tranh chấp nên ông Hoàng Văn C có quyền sở hữu ½ số tiền bồi thường, hỗ trợ do
thu hồi 1.502m
2
đất thuộc thửa đất số 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01
xã T 15.020.000 đồng (mười m triệu không trăm hai ơi nghìn đồng). vậy,
u cầu của nguyên đơn ông Hoàng n C buộc bị đơn bà ng Thị H1 phải tr lại
cho ông Hoàng n C ½ số tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi 1.502m
2
đất thuộc
thửa đất số 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 T 15.020.000 đồng
(mười lăm triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) là n cứ, được Hội đồngt
xử chấp nhận.
[13] Xét yêu cầu huỷ quyết định biệt: Như đã phân tích, đánh giá ở trên,
hông Hoàng Văn C được Nhà nước giao quyền quản lý, sử dụng đất tại H
giao quyn qun lý, s dng rừng và đất trng rng theo Quyết định số 173/QĐ-
22
UB ngày 03/10/1996 của Uỷ ban nhân n huyện L, tỉnh Lạng Sơn đối với khu
đất tranh chấp nên hộ ông Hoàng Văn C có quyền sử dụng đất hợp pháp và chưa
chuyển quyền sử dụng đất cho ai. Do đó, thời điểm năm 2004, UBND huyện tiến
hành cấp GCN QSD đất thửa 06 cho hộ ông Hoàng Văn V2 thửa 07 cho hộ
ông Nông Văn T2 đối với toàn bộ diện tích đất tranh chấp nguồn gốc Nhà
nước đã giao quyền quản lý, sử dụng hợp pháp cho hộ ông Hoàng Văn C không
đúng đối tượng sử dụng đất, thuộc trường hợp phải thu hồi, huỷ bỏ theo quy định
của Luật Đất đai. vậy, cần huỷ một phần Giấy chng nhận quyền sử dụng đất
hiệu số Y 210913, o sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00012
QSDĐ/-UB (H) ngày 26/7/2024 cho hộ ông Hngn V2 đối với thửa đất số
06 tờ bản đồ 01, diện ch 10.000m
2
, mục đích sử dụng RTS, thời hạn sử dụng 7/2054;
huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số Y 210918, vào scấp
giấy chứng nhn quyền sử dụng đất số 00005 QS/QĐ-UB (H) ny 26/7/2024
cho hộ ông ng Văn T2 đối với thửa đất số 07 tờ bản đồ 01, diện ch 30.000m
2
,
mục đích sử dụng RTS, thời hạn sử dụng 7/2054.
[14] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí tố tng của vụ án 35.850.000 đồng
(ba ơi m triệu m trăm m ơi nghìn đồng) gồm chi phí tố tụng thẩm lần
thnht 27.850.000 đồng (hai mươi bẩy triệu tám trăm năm ơi nghìn đồng),
trong đó chi p xem xét thẩm định tại chỗ, định giá i sản là 4.100.000 đng (bốn
triệu một trăm nghìn đồng), chi phí đo đạc, chồng ghép khu đất tranh chấp
23.750.000 đồng (hai ơi ba triệu bẩy trăm m ơi nghìn đồng); chi phí tố tụng
thẩm lần thhai 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), trong đó chi phí xem t
thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), chi phí đo đạc,
chồng ghép khu đất tranh chấp 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Ngun đơn ông
Hoàngn C đã tạm ứng chi tn bộ số tiền chi phí tố tụng là 35.850.000 đng (ba
ơi lăm triệum tm năm mươi nghìn đồng). Do yêu cu khi kiện ngun đơn
đưc chp nhn các n không tha thuận đưc v nga vụ chu s tin trên.
Theo quy định tại Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 B lut T tng dân
s: Nguyên đơn ông Hoàng Văn C phải chịu tổng chi phí tố tụng 21.327.301,6
đồng, được m tròn số 21.327.302 đồng (hai ơi mốt triệu ba trăm hai ơi bẩy
ngn ba trăm linh hai đồng) gồm: (1) Số tiền 6.804.603 đồng (sáu triệu tám trăm
linh tư nghìn sáu trăm linh ba đồng) đối với diệnch 3.177m
2
đất tranh chấp đã rút
u cầu, gồm: Diện ch 269m
2
thuộc một phần tha đất số 23 (ký hiệu tha tạm
23.1), diện tích 1519m
2
thuộc một phn tha đất số 24 (ký hiệu tha tạm 24.1), diện
ch 961m
2
thuộc một phần thửa đt số 24 (ký hiệu thửa tạm 24.2), diện ch 12m
2
thuộc một phần thửa đất số 26 (ký hiệu thửa tạm 26.1), diện ch 416m
2
thuộc một
phần thửa đất số 26 (ký hiu thửa tạm 26.2) ng tờ bản đồ địa cnh đất lâm nghiệp
số 01 xã T nay K, tỉnh Lạng Sơn. (2) Stiền 14.522.698 đồng (mưi bốn triệu
m trăm hai ơi hai nghìn u trăm chín ơi tám đồng) đối với diện ch
6.780,5m
2
đất tranh chấp mà ng Thị H1 có quyền quản lý, s dụng. Xác nhận
nguyên đơn ông Hoàng Văn C đã thi hành xong. Bị đơn bà Nông Thị H1 phải chịu
chi phí tố tụng 14.522.698 đồng (mười bốn triệu năm trăm hai mươi hai nghìn sáu
trăm chín ơi m đồng) đối với diện tích 6.780,5m
2
đất tranh chấp nguyên đơn
ông Hng n C đưc Nhà nước giao quyền quản lý, sử dụng. Nông Thị H1 có
23
nghĩa vụ hoàn trả cho ông Hoàng Văn C số tiền chi phí tố tụng là 14.522.698 đồng
(mười bốn triệu m trăm hai ơi hai nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng).
[15] Về án phí: Ngun đơn ông Hoàng n C không phải chịu án phí dân
sự thẩm là nời cao tuổi đã đơn xin miễn án phí theo quy định tại đim
đ khon 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Ngh quyết s: 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30-12-2016 ca U ban Thường v Quc hội khoá 14 quy định v mc thu, min,
gim, thu np, qun lý và s dng án pl pToà án. Bị đơn Nông ThH1
nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn ông Hoàng Văn C ½ giá trquyền sử
dụng đất tranh chấp với số tiền 33.902.500 đồng (ba mươi ba triệu cn tm linh
hai ngn năm trăm đồng) n phải chịu án phí của vụ án 1.695.000 đồng (một
triệu sáu trăm chín mươi m nghìn đồng); bị đơn ng Thị H1 có nga vụ tr
lại cho nguyên đơn ông Hoàng n C ½ số tiền bồi thường về đất, hỗ trđào tạo
chuyển đổi nghề và tạo việc làm số tiền là 15.020.000 đồng (mười m triệu không
trăm hai mươi ngn đồng) nên phải chịu án phí 751.000 đồng (bẩy trămm mươi
mốt ngn đồng) theo quy định ti khon 2 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 27 ca
Ngh quyết s: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 ca U ban Thường v
Quc hội khoá 14 quy định v mc thu, min, gim, thu np, qun lý và s dng
án phí l phí Toà án. Tổng cộng số tiền án phí bà Nông ThH1 phải chịu
2.446.000 đồng (hai triệu bốn trăm bốn ơi sáu ngn đồng) để nộp ngân ch Nhà
ớc.
[16] Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực
5 - Lạng Sơn, đề nghị của những người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho
nguyên đơn, bị đơn, đề nghị nào căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp
luật thì được Hội đồng xét xử chấp nhận, đề nghị nào không căn cứ, không phù
hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử thì không được
chấp nhận.
[17] Các đương sự quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định theo
quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 1, Điều 2, Điều 3, Điều 20, Điều 36, Điều 73 và Điều
79 Luật Đất đai năm 1993.
Căn cứ vào các Điều 4, Điều 5, Điều 46, Điều 48, Điều 49, Điều 50 Luật
Đất đai năm 2003.
Căn cứ vào Điều 100, Điều 106, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
n cứ vào các Điều 12, Điều 17, Điều 26, Điều 31, Điều 131, Điều 134,
Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ vào các Điều 158, Điều 160, Điều 161, Điều 163, Điều 164, Điều
166, Điều 169, Điều 189, Điều 221, Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 280,
Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
24
Căn cứ vào khoản 2 khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 và khoản 4 Điều 157, khoản
1 Điều 158, khoản 1 và khoản 4 Điều 165, khoản 1 Điều 166, khoản 2 Điều 227,
Điều 228, Điều 229, khoản 2 Điều 244, Điều 271 khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26,
điểm b khoản 2 Điều 27 ca Ngh quyết s: 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 ca U ban Thường v Quc hội khoá 14 quy đnh v mc thu, min,
gim, thu np, qun lý và s dng án phí và l phí Toà án.
1. Về quyền quản , sử dụng đất sở hữu i sản trên đất, nghĩa vụ thanh
toán giá trị quyền sử dụng đt.
1.1. Ghi nhận sự thoả thuận giữa nguyên đơn ông Hoàngn C và bị đơn
ng ThH1 về việc bị đơn ng Thị H1 được quyền quản , sử dụng tổng diện
ch 13.561m
2
đất, gồm: Din tích 12.864m
2
(hiệu thửa tạm 27.1, vị trí đỉnh thửa
A2-A3-A4-A5-A6-A7-A8-A9-A10-B3-B1), diện ch 385m
2
(ký hiệu tha tạm 27.2,
vị trí đỉnh thửa A1-A2-B1-B2-A14-A15) diện tích 312m
2
(ký hiệu tha tạm 27.3,
vị trí đỉnh thửa B1-B3-A10-A11-B2) cùng thuộc một phần tha đất số 27 tbản đ
địa chính đất lâm nghiệp số 01 T nay xã K, tỉnh Lạng Sơn; mã loi đất theo bản
đồ địa chính RST, quy chủ Uỷ ban nn dân xã; địa chỉ: S, thôn N, xã K, tỉnh Lạng
Sơn. Bị đơn Nông ThH1 đưc sở hữu tài sản trên đất gồm: 240 y thông đường
nh gốc dưới 05cm, 70 cây thông đường kính gốc từ trên 05cm đến 10cm, 80 cây
thông đường kính gốc từ trên 10cm đến 20cm, 50 y thông đường nh gốc trên
20cm đến 30cm, 10 y thông đường nh gốc trên 30cm. Diện tích đất i sản
trên đất đưc thể hin ti Trích đo số 61-2025 củang ty Cổ phần trắc địa bản đ
môi trưng Sông chi nnh Lạng n m theo bản án.
Bị đơn bà Nông Thị H1 có quyền, nghĩa v khai đăng ký đất đai, sử dụng
đất đúng mục đích, ranh gii, không ảnhởng đến quyền quản lý, s dụng đất của
người sử dụng đất liền kề theo quy định.
1.2. Về nghĩa vụ thanh toán g trị quyền sử dụng đất
Chấp nhận u cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng n C.
Buộc bị đơn ng ThH1 phải thanh toán cho nguyên đơn ông Hoàng
Văn C ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với tổng diện tích 13.561m
2
là 33.902.500
đồng (ba ơi ba triệu chín trăm linh hai nghìn năm trăm đồng), gồm các diện tích
đất cụ thể sau: Diện tích 12.864m
2
(hiệu thửa tạm 27.1), diện tích 385m
2
(ký
hiệu thửa tạm 27.2) diện tích 312m
2
(ký hiệu thửa tạm 27.3) cùng thuộc một
phần thửa đất s27 tờ bản đồ địa chính đất m nghiệp số 01 T nay K, tỉnh
Lạng Sơn; loại đất theo bản đồ địa chính RST, quy chUỷ ban nhân dân xã;
địa chỉ: S, thôn N, xã K, tỉnh Lạng Sơn. Diện tích đất được thhiện tại Trích đo số
61-2025 của ng ty Cổ phần trắc địa bản đồ i trường ng Tô chi nhánh
Lạng Sơnm theo bản án.
25
2. Vnghĩa vtr lại tin bồi tờng, hỗ tr về đt
Chấp nhận u cầu khởi của ngun đơn ông Hoàng n C.
Buộc bị đơn bà Nông Thị H1 phải trả lại cho nguyên đơn ông Hoàng Văn C
½ tiền bồi thường về đất, hỗ trợ đào to chuyển đổi nghề và tạo vic làm vi số tiền
15.020.000 đồng (mưi lăm triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) đối với din
ch 1.502m
2
thuộc một phần tha đất số 27 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01
T nay K, tỉnh Lạng n.
3. Vxem xét huỷ quyết định cá bit
Humột phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiệu số Y 210913, o
sổ cấp giy chứng nhn quyền sử dụng đất số 00012 QSDĐ/-UB (H) ngày
26/7/2024 cho hộ ông Hoàng Văn V2 đối với thửa đất số 06 tờ bản đồ 01, diện tích
10.000m
2
, mục đích sử dụng RTS, thời hạn sdụng 7/2054.
Humột phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiệu số Y 210918, o
sổ cấp giy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00005 QSDĐ/-UB (H) ngày
26/7/2024 cho hộ ông Nông n T2 đối với thửa đất số 07 tờ bản đồ 01, diện tích
30.000m
2
, mục đích sử dụng RTS, thời hạn sdụng 7/2054.
4. Đình chgiải quyết u cầu khởi kiện do nguyên đơn ông Hoàng n C rút
u cầu, đối với:
Diện tích 269m
2
thuộc một phần tha đất số 23 ( hiệu thửa tạm 23.1, vị trí
đỉnh thửa A19-A20-A21) tờ bản đồ địa cnh đất m nghiệp số 01 T nay K,
tỉnh Lạng n, mã loại đất theo bản đồ địa chính RST, quy chủ Uỷ ban nhân n xã,
trên đất không có i sản gì, địa chỉ: S, thôn N, K, tỉnh Lạng n. Diện tích đất
được thể hiện tại Trích đo số 61-2025 củang ty Cổ phần trắc địa bản đồ và môi
trường ng Tô chi nhánh Lng Sơn m theo bản án.
Diện tích 1.519m
2
thuộc một phần thửa đất số 24 (ký hiệu thửa tạm 24.1, vtrí
đnh thửa A16-A17-A18-A22-A23) tbn đ địa cnh đất m nghiệp số 01 T nay
là K, tỉnh Lng Sơn, loại đt theo bản đồ địa chính LUA, kng quy ch, tn
đt không i sản , đa chỉ: S, thôn N, K, tnh Lng n. Diện ch đt được th
hiện tại Trích đo số 61-2025 của Công ty Cổ phần trắc đa bản đồ i trường ng
Tô chi nhánh Lng n kèm theo bản án.
Diện tích 961m
2
thuộc một phần tha đất số 24 ( hiệu thửa tạm 24.2, vị trí
đỉnh thửa A18-A19-A21-A22) tờ bản đồ địa chính đất m nghiệp số 01 T nay là
K, tỉnh Lạng n, loại đất theo bản đồ địa chính LUA, không quy chủ, trên
đất không i sản gì, địa chỉ: S, thôn N, xã K, tỉnh Lạng Sơn. Din tích đất được
thhiện tại Tch đo số 61-2025 của Công ty Cphần trắc địa bn đồ và i tờng
Sông Tô chi nhánh Lạng n m theo bản án.
Diện tích 12m
2
thuộc một phần thửa đất số 26 (ký hiệu thửa tạm 26.1, vị trí
đỉnh thửa B2-A13-A14) tờ bản đồ địa cnh đất lâm nghiệp số 01 xã T nay là K,
tỉnh Lạng n, loại đất theo bản đồ địa chính LUA, không quy chủ, trên đất
không có tài sản gì, địa chỉ: S, thôn N, xã K, tỉnh Lạngn. Diện tích đất được th
hiện tại Trích đo số 61-2025 của ng ty Cổ phần trc địa bản đ môi trường
26
Sông Tô chi nhánh Lạng n m theo bản án.
Diện tích 416m
2
thuộc một phần tha đất số 26 ( hiệu thửa tạm 26.2, vị trí
đỉnh thửa B2-A11-A12-A13) tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 T nay
K, tỉnh Lạng n, loại đất theo bản đồ địa chính LUA, không quy chủ, trên
đất không i sản gì, địa chỉ: S, thôn N, xã K, tỉnh Lạng Sơn. Diện tích đất đưc
thhiện tại Tch đo số 61-2025 của Công ty Cphần trắc địa bn đồ và i tờng
Sông Tô chi nhánh Lạng n m theo bản án.
Đương sự có quyền khởi kin lại đối với u cầu khởi kiện đã rút.
5. Vchi phí tố tụng:
Tổng chi phí tố tụng của vụ án 35.850.000 đồng (ba ơi m triệu m
trămm mươi nghìn đồng) gồm chi phí tố tụng thẩm ln thứ nhất 27.850.000
đồng (hai ơi bẩy triệu tám trăm m ơi nghìn đồng) chi phí tố tụng thẩm
lần thứ hai là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Nguyên đơn ông Hng n C đã
tạm ứng chi toàn bchi ptố tụng 35.850.000 đồng (ba mươi lăm triệu m trăm
m ơi ngn đồng).
Nguyên đơn ông Hng Văn C phi chịu chi phí tố tụng là 21.327.302 đồng
(hai mươi mốt triệu ba tm hai ơi bẩy nghìn ba trăm linh hai đồng). c nhận
nguyên đơn ông Hng Văn C đã thi nh xong.
Bị đơn ng Thị H1 phi chịu chi phí tố tụng là 14.522.698 đồng (mười
bốn triệu năm trăm hai ơi hai ngn u trăm chín mươi m đồng). Bà ng Thị
H1 nghĩa vụ hoàn tr cho ông Hoàng n C số tiền chi phí tố tụng 14.522.698
đồng (mười bốn triệu m trăm hai ơi hai nghìn sáu trăm chín ơi m đồng).
6. Nghĩa vụ chịu lãi suất chậm trả:
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án n
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định
tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
7. Về án phí: Nguyên đơn ông Hoàng Văn C không phải chịu án phí n sự
thẩm. Bị đơn Nông Thị H1 phải chịu án p dân sthm 2.446.000 đồng
(hai triệu bốn trăm bốn ơi u nghìn đồng) để nộp ngân ch Nhà ớc.
8. Vquyền kháng cáo: Đương scó mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên
toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
27
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND khu vực 5- Lạng Sơn;
- Phòng THADS khu vực 5 - Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nông Thị Huyền Trang
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nông Thị Huyền Trang
Tải về
Bản án số 16/2025/DS-ST Bản án số 16/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2025/DS-ST Bản án số 16/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất