Bản án số 156/2022 ngày 28/09/2022 của TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về đại diện, đại lý
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 156/2022
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 156/2022
Tên Bản án: | Bản án số 156/2022 ngày 28/09/2022 của TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về đại diện, đại lý |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về đại diện, đại lý |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND Q. Tân Phú (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
Số hiệu: | 156/2022 |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 28/09/2022 |
Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng đại lý |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 156/2022/KDTM-ST
Ngày: 28-9-2022
V/v Tranh chấp hợp đồng đại lý
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thanh Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2020/KDTM-ST
ngày 12 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng đại lý” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 563/2022/QĐXXST-KDTM ngày 11 tháng 8 năm
2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 738/2022/QĐST-KDTM ngày 09 tháng 9
năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH sản xuất và thương mại tổng hợp Việt My;
Trụ sở: 101/35 Gò Dầu, phường Tân Quý, quận Tân Phú, Tp.HCM.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Bé Chi và bà Cao Thị Kim Thúy
(Giấy ủy quyền ngày 27/9/2022) (Có mặt).
- Bị đơn: Công ty TNHH thương mại Thành Thành An; Trụ sở: Thôn Ân
Niên, xã Hòa An, huyện Phú Hòa, Tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thuận – giám đốc; Địa
chỉ: Thôn Ân Niên, xã Hòa An, huyện Phú Hòa, Tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 14/8/2020 và các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn bà Lê Thị Bé Chi trình bày:
Ngày 01/04/2019, Công ty TNHH sản xuất và thương mại tổng hợp Việt
My (sau đây gọi tắt là Công ty Việt My) đã ký kết với Công ty TNHH thương
mại Thành Thành An (sau đây gọi tắt Công ty Thành Thành An) thỏa thuận phân
phối số 36/VMG-GT/2019-2022 về việc bán hàng hóa của Công ty Việt My. Hai
bên có mối quan hệ pháp luật là đại lý thương mại trong đó Bên Giao đại lý
(Công ty Việt My) và Bên đại lý (Công ty Thành Thành An). Hiệu lực từ ngày
01/04/2019 đến hết ngày 31/03/2022. Theo đó nội dung thỏa thuận Công ty Việt
My sẽ chuyển một số lượng hàng hóa về kho Công ty Thành Thành An và
Thành Thành An thực hiện bán trọn vẹn một khối lượng hàng hóa cho Công ty
Việt My trong địa bàn Phú Yên. Căn cứ số lượng hàng hóa nhập về kho theo
nguyên tắc “nhập trước, xuất trước” Thành Thành An sẽ có những đơn đặt hàng
hóa vào các đợt đặt hàng để đáp ứng số lượng hàng bán ra thị trường. Công ty
Thành Thành An bán hàng sẽ được hưởng chiết khấu hoa hồng và hưởng các
chương trình khuyến mãi của Công ty Việt My. Tiền hàng hóa sau khi bán sẽ
được chuyển về định kỳ cho Việt My mỗi tháng 2 đợt. Công ty Thành Thành An
sẽ nộp cho Công ty Việt My số tiền đối ứng tạm thời là 100.000.000 đồng để
chứng minh khả năng, năng lực tài chính để kinh doanh phân phối các sản phẩm
của Công ty Việt My. Hàng tháng ngoài doanh số bán hàng được hưởng từ chiếu
khấu hoa hồng, hàng khuyến mãi tặng kèm không tính tiền thì Công ty Thành
Thành An sẽ được hưởng 0.5% tiền phí từ số tiền đối ứng nộp tạm nộp cho Công
ty Việt My (tương ứng 500.000 đồng). Giữa hai bên làm việc thông qua phần
mềm hệ thống quản lý, phần mềm trên sẽ quản lý được số lượng hàng đưa
xuống kho, số lượng hàng bán ra của hai bên (Gọi là báo cáo nhập xuất tồn -
NXT).
Theo thỏa thuận hàng tháng đơn hàng sẽ được giao cho chanh xe là đơn vị
vận chuyển. Đơn vị vận chuyển sẽ giao cho Công ty Thành Thành An, cuối mỗi
tháng hai bên sẽ tiến hành đối soát công nợ hàng hóa tồn và tiền bán với nhau.
Theo bảng đối soát hàng tồn kho có ký kết giữa bà Thuận đại diện Công ty
Thành Thành An và Công ty Việt My thì số lượng tồn cuối vào tháng 8/2019 là
8.067 sản phẩm. Thành tiền là 298.984.588 VNĐ được tính theo giá niêm yết
theo tài liệu đính kèm.
Do cuối tháng 8/2019 hai bên đã đối chiếu chốt số lượng tồn chốt ở tháng
3
8/2019 nên tháng 9/2019 Việt My tiếp tục giao hàng xuống kho của Thành
Thành An. Tồn đầu tháng 9 được chuyển từ tháng 8 sang là 8.067 sản phẩm. Số
lượng Việt My giao về kho Thành Thành An vào tháng 09/2019 là 7.980 sản
phẩm. Ngày 05/9/2019 Công ty Thành Thành An đã chuyển trả số tiền hàng đã
chốt của tháng 8 cho Công ty Việt My. Trong tháng 9 Thành Thành An bán
3.262 sản phẩm hàng bán và 938 sản phẩm khuyến mãi (không tính tiền). Tiền
bán hàng là 46.237.000 VNĐ. Cuối tháng 9 đối chiếu là tồn cuối kho tháng 9
bằng cách lấy tồn đầu (8.067) + hàng giao xuống (7.980) – hàng bán ra (bao
gồm 3.262 sản phẩm hàng bán và 938 sản phẩm khuyến mãi) thì cuối tháng 9
chốt số liệu tồn tại kho Thành Thành An là 11.847 sản phẩm. Thành tiền là
467.210.588 VNĐ được tính theo giá niêm yết theo tài liệu đính kèm.
Tháng 10 năm 2019 do Thành Thành An không ký đối soát tháng 09/2019
nên Công ty Việt My không giao hàng về kho Thành Thành An nữa. Tồn đầu
tháng 10/2019 được chuyển từ tháng 9/2019 sang là 11.847 sản phẩm. Trong
tháng 10 Thành Thành An bán 910 sản phẩm hàng bán và 360 sản phẩm khuyến
mãi (không tính tiền). Tiền bán hàng là 30.074.000 VNĐ. Cuối tháng 10 đối
chiếu là tồn cuối kho tháng 10 bằng cách lấy tồn đầu (11.847) + hàng giao
xuống (0)– hàng bán ra (bao gồm 910 sản phẩm hàng bán và 360 sản phẩm
khuyến mãi) thì cuối tháng 10 chốt số liệu tồn tại kho Thành Thành An là 10.587
sản phẩm. Thành tiền là 413.803.288VNĐ được tính theo giá niêm yết theo tài
liệu đính kèm.
Đến ngày 14/10/2019 Công ty Việt My căn cứ hành vi vi phạm không
chuyển tiền bán hàng của Thành Thành An nên đã thông báo chấm dứt thỏa
thuận phân phối và không giao hàng về kho Thành Thành An nữa. Tồn đầu
tháng 11/2019 được chuyển từ tháng 10/2019 sang là 10.587 sản phẩm. Trong
tháng 11 Thành Thành An bán 5 sản phẩm hàng bán và 5 sản phẩm khuyến mãi
(không tính tiền). Tiền bán hàng là 185.000 đồng. Cuối tháng 11 đối chiếu là tồn
cuối kho tháng 11 bằng cách lấy tồn đầu (10.587) + hàng giao xuống (0) – hàng
bán ra (bao gồm 5 sản phẩm hàng bán và 5 sản phẩm khuyến mãi) thì cuối tháng
11 chốt số liệu tồn tại kho Thành Thành An là 10.577 sản phẩm. Thành tiền là
413.323.288VNĐ được tính theo giá niêm yết theo tài liệu đính kèm.
Căn cứ theo thỏa thuận tại Điều 17 về chấm dứt thỏa thuận, Công ty Việt
My đã thông báo đến Công ty Thành Thành An các nội dung: Ngày 14/10/2019,
căn cứ hành vi vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận là Thành Thành An không chuyển
thanh toán tiền hàng hóa đúng thời hạn, Công ty Việt My đã gửi thông báo số
516/10/2019/TB về việc đơn phương chấm dứt thỏa thuận và thanh lý hàng hóa
Nhà phân phối đồng thời yêu cầu Thành Thành An chuyển số lượng hàng hóa
4
tồn kho về kho Công ty Việt My và hoàn tất số tiền công nợ Thành Thành An
thiếu Việt My.
Theo thoản thuận hai bên đã thống nhất khi thỏa thuận chấm dứt thì việc
giải quyết chấm dứt được thực hiện bởi một trong các công việc là “Bên B bàn
giao hàng hóa tồn kho trên phần mềm hệ thống của Bên B tại kho của đơn vị
được bên A chỉ định nhận hàng và biên bản bàn giao hàng hóa, bảng tất toán
thanh lý gửi về cho bên A bằng mail…” Vì vậy, trong nội dung thông báo số
516/10/2019/TB ngày 14/10/2019 Việt My cũng đã nêu rõ yêu cầu Thành Thành
An chuyển hàng hóa tồn kho về Kho tổng Công ty Việt My tại Lô A Cụm CN
Nhơn Trạch, Xã Vĩnh Thanh, Huyện Nhơn Trạch, Tỉnh Đồng Nai để hai bên tiến
hành đối chiếu hàng hóa. Tiếp đó, trong những công văn số 226/CV/2019 tiếp
theo ngày 05/12/2019 và công văn số 77/12/2019/CV ngày 31/12/2019 giải
quyết những phản hồi của Thành Thành An, Việt My đã nhiều lần nhắc nhở và
yêu cầu Công ty Thành Thành An thực hiện đúng thỏa thuận mà hai bên đã ký
kết nhưng không nhận được sự hợp tác giải quyết triệt để của Công ty Thành
Thành An.
Tiếp đó từ ngày 19/06/2020 đến 30/06/2020, Công ty Việt My đã có thiện
chí giải quyết cử Bà Bùi Thị Hồng Nha – Kế toán chi nhánh Phú Yên đến kiểm
kê hàng hóa tồn kho tại Công ty Thành Thành An để làm cơ sở giải quyết chấm
dứt thỏa thuận phân phối. Tuy nhiên, Việt My không nhận được sự hợp tác của
Thành Thành An, phía công ty đã không cho kiểm kê hàng tồn kho để đối chiếu
công nợ và hàng hóa tồn kho như thỏa thuận hai bên đã ký kết.
Ngày 29/07/2020, Việt My đã có công văn số 657/2020/TB-VMG về việc
giải quyết thanh lý thỏa thuận phân phối và xác nhận nợ; nội dung nêu rõ trong
vòng 7 ngày kể từ khi Thành Thành An nhận được văn bản, Việt My sẽ thực
hiện theo đúng thỏa thuận cam kết giữa hai bên rằng nếu Thành Thành An
không chuyển trả số hàng tồn kho về công Việt My để tiến hành đối chiếu công
nợ, rà soát tồn kho thì Việt My sẽ căn cứ vào số liệu trên hệ thống phần mềm
báo cáo xuất nhập tồn để làm cơ sở giải quyết tranh chấp này căn cứ theo thỏa
thuận “…Các bên có thời gian 7 (bảy) ngày làm việc để đối chiếu rà soát số liệu
trong trường hợp có sai lệch. Qua thời gian đối chiếu, nếu các bên không giải
quyết, số liệu phần mềm sẽ là căn cứ tất toán..”. Theo thông báo số
657/2020/TB-VMG ngày 29/07/2020 Công ty Thành Thành An vẫn chưa
chuyển hàng hóa tồn kho và tiền hàng hóa đã bán về cho Công ty Việt My như
đã thỏa thuận.
Do đó, chúng tôi khởi kiện yêu cầu Qúy Tòa án xem xét, giải quyết các vấn
đề sau:
5
Đối với hàng hóa tồn kho trị giá: 413.323.288 VNĐ (Bốn trăm mười ba
triệu, ba trăm hai mươi ba nghìn, hai trăm tám mươi tám đồng), Việt My yêu cầu
như sau: Do Công ty Thành Thành An không phối hợp thực hiện kiểm kho và
hiện nay trụ sở Công ty không hoạt động nên các bên không tiến hành việc kiểm
tra hàng hóa tồn nên Công ty Việt My yêu cầu:
Do khi bán hàng cho Công ty Thành Thành An thì Việt My sẽ tính theo đơn
giá niêm yết và kèm giá giảm giá khuyến mãi theo chương trình và theo đợt (có
kèm bảng giá tính) nhưng do Công ty Thành Thành An vi phạm thỏa thuận nên
Quy đổi hàng hóa ra giá trị bằng tiền và buộc Công ty Thành Thành An chuyển
trả giá trị hàng hóa cho Công ty Việt My theo đơn giá đã được niêm yết (có kèm
bảng giá niêm yết sản phẩm). Căn cứ Khoản 18.5, Khoản 18.9 Điều 18 trong
thỏa thuận số 36/VMG-GT/2019-2022 thì tổng giá trị hàng hóa là: 413.323.288
VNĐ (Bốn trăm mười ba triệu, ba trăm hai mươi ba nghìn, hai trăm tám mươi
tám đồng).
Đối với số tiền hàng hóa đã bán nhưng Công ty Thành Thành An chưa
chuyển trả cho Công ty Việt My, nay yêu cầu Công ty Thành Thành An hoàn trả
số tiền 69.933.000 VNĐ hàng hóa đã bán cho Việt My. Căn cứ theo Khoản 11.3
Điều 11 của thỏa thuận buộc Công ty Thành Thành An phải có trách nhiệm
thanh toán số tiền vi phạm hợp đồng là 1.5% trên số tiền hàng hóa phải thanh
toán bị vi phạm: 1.048.995 VNĐ (Một triệu không trăm bốn mươi tám nghìn
chín trăm chín mươi lăm đồng).
Tổng giá trị tranh chấp Công ty Thành Thành An có trách nhiệm phải trả
cho Công ty Việt My là: 484.305.283 (bốn trăm tám mươi bốn triệu ba trăm lẻ
năm ngàn hai trăm tám mươi ba đồng). Yêu cầu trả một lần ngay sau khi án có
hiệu lực pháp luật. Sau khi công ty Thành Thành An thanh toán hết số tiền theo
bản án thì Công ty Việt My sẽ trả lại số tiền đối ứng là 100.000.000 đồng cho
Công ty Thành Thành An.
Công ty TNHH thương mại Thành Thành An đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ nhưng vắng mặt. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đương sự, Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định
tại Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97,
Điều 171, Điều 173.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được
thẩm tra tại phiên tòa thể hiện ngày 01/4/2019 Công ty Việt My và Công ty
6
Thành Thành An có ký kết thỏa thuận phân phối số 36/VMG-GT/2019-2022 về
việc phân phối hàng hóa của Công ty Việt My. Hai bên có mối quan hệ pháp luật
là đại lý thương mại trong đó Bên Giao đại lý (Công ty Việt My) và Bên đại lý
(Công ty Thành Thành An) nên thỏa mãn điều kiện của Hợp đồng đại lý. Hai
bên đã tiến hành đặt hàng và giao hàng như thỏa thuận. Hai bên thực hiện đúng
cam kết thỏa thuận mà hai bên đã ký kết. Tới tháng 8/2019 hai bên tiến hành đối
soát số lượng hàng tồn kho là 8.067 sản phẩm tương ứng số tiền theo giá niêm
yết là 298.984.588 và số lượng hàng đã bán ra với số tiền 31.229.115 đồng. Sau
đó Công ty Việt My tiếp tục chuyển hàng xuống kho Công ty Thành Thành An,
tuy nhiên do Công ty Thành Thành An vi phạm thỏa thuận về việc không
chuyển trả tiền hàng đã bán cho Công ty Việt My. Do vi phạm nên tháng
10/2019 Công ty Việt My có thông báo về việc chấm dứt thỏa thuận, yêu cầu
Công ty Thành An chuyển hàng về kho để tiến hàng kiểm hàng và chốt công nợ
nhưng không nhận được sự hợp tác của Công ty Thành Thành An. Do đó Công
ty Việt My căn cứ trên số liệu của phần mềm hệ thống quản lý bán hàng (gọi tắt
là báo cáo NXT) để tính hàng tồn, số lượng hàng bán ra và tiền bán hàng còn nợ
chưa chuyển là phù hợp. Nay Công ty Việt My yêu cầu Công ty Thành Thành
An trả giá trị hàng hóa tồn kho theo đơn giá đã được niêm yết với số tiền quy
đổi là 413.323.288 đồng; Yêu cầu chuyển trả số tiền hàng hóa mà Công ty Thiên
Thảo đã bán với số tiền 69.933.000 đồng và tiền phạt 1.5% trên số tiền hàng
phải thanh toán bị vi phạm là 1.048.995 đồng. Tổng số tiền yêu cầu Công ty
Thành Thành An phải trả là 484.305.283 đồng là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí tính theo quy định pháp
luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- Xét đơn khởi kiện ngày 14/8/2020 của nguyên đơn, căn cứ vào thỏa thuận
phân phối số 36/VMG-GT/2019-2022 ngày 01/4/2019 thì nguyên đơn giao hàng
hóa, sản phẩm của mình cho bị đơn bán hàng và bị đơn có trách nhiệm thanh
toán tiền hàng đã bán và được các chính sách của bên làm đại lý bán hàng. Nay
giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh tranh chấp. Quá trình thụ lý và giải quyết
vụ án Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trên là “ Tranh chấp về hợp đồng thỏa
7
thuận phân phối ”. Tuy nhiên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định
quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng đại lý”. Do trong hợp đồng hai bên
thỏa thuận giải quyết tranh chấp nơi Tòa án bên Công ty Việt My có trụ sở đăng
ký kinh doanh. Công ty Việt My có trụ sở kinh doanh tại quận Tân Phú nên Toà
án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục kinh doanh
thương mại là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều
35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự:
- Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông
báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải,
Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa có ghi rõ ngày đưa
vụ án ra xét xử lần hai đến địa chỉ trụ sở Công ty Thành Thành An và người đại
diện theo pháp luật để công ty thực hiện quyền tranh tụng theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự. Nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty Thành
Thành An vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng
mặt bị đơn Công ty Thành Thành An.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
- Xét, Công ty Việt My yêu cầu Công ty Thành Thành An trả giá trị hàng
hóa tồn kho theo đơn giá đã được niêm yết với số tiền quy đổi là 413.323.288
đồng; Yêu cầu chuyển trả số tiền hàng hóa mà Công ty Thiên Thảo đã bán với
số tiền 69.933.000 đồng và tiền phạt 1.5% trên số tiền hàng phải thanh toán bị vi
phạm là 1.048.995 đồng. Tổng số tiền yêu cầu Công ty Thành Thành An phải trả
là 484.305.283 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào tài liệu hồ sơ vụ án, vào phần trình
bày của đại diện nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và được thẩm tra
tại phiên tòa thì có đủ cơ sở xác nhận giữa Công ty Việt My và Công ty Thành
Thành An có ký kết thỏa thuận phân phối số 36/VMG-GT/2019-2022 vào ngày
01/4/2019 về việc Công ty Thành Thành An sẽ là đại lý bán hàng cho Công ty
Việt My tại khu vực Phú Yên . Bản thỏa thuận này có đủ các điều khoản phù
hợp với loại hợp đồng dân sự do đó xác định là hợp đồng đại lý. Hợp đồng được
người đại diện theo pháp luật của hai bên ký xác nhận, đóng dấu xác nhận hợp
pháp vào đại diện mỗi bên. Những nội dung mà các bên thỏa thuận ghi trong
thỏa thuận phân phối là do các bên hoàn toàn tự nguyện, khi xác lập các bên có
đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không vi phạm đạo đức xã hội và điều cấm của
pháp luật. Vì vậy hợp đồng có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 của
Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 168 của Luật Thương mại.
8
Căn cứ lời khai của đại diện nguyên đơn, căn cứ vào bản thỏa thuận phân
phối, căn cứ vào báo cáo NXT nhà phân phối tháng 8,9,10,11 năm 2019 và các
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy Công ty Việt My đã
chuyển khối lượng hàng hóa các sản phẩm hóa mỹ phẩm là sữa tắm, dầu gội và
dung dịch vệ sinh cho Công ty Thành Thành An theo số lượng hàng hóa nhập về
kho của Công ty Thành Thành An. Quá trình thực hiện thỏa thuận Công ty Việt
My tiến hành giao hàng xuống kho Công ty Thành Thành An và Công ty Thành
Thành An có trách nhiệm bán hàng hóa giao xuống và thanh toán tiền hàng hóa
theo đúng thỏa thuận. Tới tháng 8/2019 hai bên tiến hành đối soát số lượng hàng
tồn kho là 8.067 sản phẩm tương ứng số tiền theo giá niêm yết là 298.984.588
và số lượng hàng đã bán ra với số tiền 31.229.115 đồng. Đầu tháng 9/2019 Công
ty Thành Thành An đã chuyển khoản trả số tiền đã bán hàng chốt trong tháng 8
cho Công ty Việt My.
Tháng 9/2019 Công ty Việt My tiếp tục chuyển hàng xuống kho Thành
Thành An với 7.984 sản phẩm. Trong tháng 09 Thành Thành An bán 3.262 sản
phẩm hàng bán và 938 sản phẩm khuyến mãi (không tính tiền). Tiền bán hàng là
46.237.000 đồng. Cuối tháng 9 đối chiếu là tồn cuối kho tháng 9 bằng cách lấy
tồn đầu (8.067) + hàng giao xuống (7.980) – hàng bán ra (bao gồm 3.262 sản
phẩm hàng bán và 938 sản phẩm khuyến mãi) thì cuối tháng 9 chốt số liệu tồn
tại kho Thành Thành An là 11.847 sản phẩm. Thành tiền là 467.210.588 VNĐ
được tính theo giá niêm yết theo tài liệu đính kèm.
Tháng 10 năm 2019 do Thành Thành An không ký đối soát tháng 09/2019
nên Công ty Việt My không giao hàng về kho Thành Thành An nữa. Tồn đầu
tháng 10/2019 được chuyển từ tháng 9/2019 sang là 11.847 sản phẩm. Trong
tháng 10 Thành Thành An bán 910 sản phẩm hàng bán và 360 sản phẩm khuyến
mãi (không tính tiền). Tiền bán hàng là 30.074.000 đồng. Cuối tháng 10 đối
chiếu là tồn cuối kho tháng 10 bằng cách lấy tồn đầu (11.847) + hàng giao
xuống (0)– hàng bán ra (bao gồm 910 sản phẩm hàng bán và 360 sản phẩm
khuyến mãi) thì cuối tháng 10 chốt số liệu tồn tại kho Thành Thành An là 10.587
sản phẩm. Thành tiền là 413.803.28 đồng được tính theo giá niêm yết theo tài
liệu đính kèm.
Quá trình thực hiện hợp đồng tới tháng 9/2019 phía Công ty Thành Thành
An đã vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận là không thanh toán tiền hàng hóa đúng thời
hạn nên phía Công ty Việt My đã gửi thông báo số 657/2020/TB-VMG về việc
giải quyết thanh lý thỏa thuận phân phối và xác nhận nợ, đồng thời yêu cầu phía
Công ty Thành Thành An chuyển số lượng hàng hóa tồn kho về kho Công ty
Việt My và giải quyết công nợ là phù hợp với thỏa thuận phân phối mà hai bên

9
đã ký kết, cụ thể tại khoản 17.2 Điều 17 của Thỏa thuận quy định “…Bên B vi
phạm môt hoặc nhiều điều khoản quy định của thỏa thuận này thì Bên A có
quyền chấm dứt thỏa thuận phân phối với Bên B mà không cần báo trước…”;
tại khoản 18.5 Điều 18 của thỏa thuận phân phối cũng quy định “…Bên B bàn
giao hàng hóa tồn kho trên phần mềm hệ thống của bên B tại kho của đơn vị
được bên A chỉ định nhận hàng và biên bản bàn giao hàng hóa, bảng tất toán
thanh lý gửi về cho bên A bằng mail. Bên A tiến hành đối chiếu công nợ, hàng
hóa tồn kho chậm nhất là 04 (bốn) ngày làm việc kể từ ngày nhận thông tin từ
bên B. Các bên có thời gian 7 (bảy) ngày làm việc để đối chiếu rà soát số liệu
trong trường hợp có sai lệch. Qua thời gian đối chiếu nếu các bên không giải
quyết, số liệu phần mềm sẽ là căn cứ tất toán...”.
Số lượng hàng hóa tồn kho tại kho Công ty Thành Thành An để kinh doanh
phân phối tại khu vực là tài sản của Công ty Việt My. Do Công ty Thành Thành
An không thực hiện đúng thỏa thuận phân phối, không hợp tác thực hiện việc
đối chiếu công nợ nên Công ty Việt My căn cứ số liệu hàng tồn kho, số lượng
hàng bán ra trên hệ thống phần mềm quản lý bán hàng (Báo cáo NXT nhà phân
phối) để làm căn cứ tính số liệu hàng tồn, số lượng sản phẩm bán ra và đưa ra
giá quy đổi hàng hóa thành tiền theo bảng niêm yết giá sản phẩm là có cơ sở.
Ngoài ra Tòa án nhân dân quận Tân Phú cũng đã tiến hành ủy thác thu thập
chứng cứ cho Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên để tiến hành xem
xét thẩm định tại chổ đối với số lượng, hạn sử dụng và tình trạng hàng hóa tồn
kho của Công ty Việt My đã chuyển cho Công ty Thành Thành An tại kho hàng
của Công ty Thiên Thảo. Tuy nhiên, không thực hiện được việc xem xét thẩm
định tại chổ vì tại địa chỉ trên công ty Thành Thành An đóng cửa, không ai biết
kho hàng của Công ty ở đâu (Theo biên bản xác minh ngày 14/3/2022 của Tòa
án nhân dân huyện Phú Hòa, Tỉnh Phú Yên).
Do đó việc Công ty Việt My yêu cầu Công ty Thành Thành An thanh toán
giá trị hàng tồn kho chưa chuyển trả quy đổi thành số tiền là 413.323.288 đồng
là phù hợp và có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu thanh toán số tiền hàng đã bán là 69.933.000 đồng và tiền phạt
1.5% trên số tiền hàng phải thanh toán bị vi phạm là 1.048.995 đồng. Hội đồng
xét xử xét thấy, tại khoản 11.1 và khoản 11.3 Điều 11 thỏa thuận phân phối quy
định “…Đợt 1: Bên B thanh toán (nộp) tiền bán hàng từ ngày 01 đến hết ngày
19 hàng tháng cho bên A bằng 100% doanh số thực bán vào ngày 20 dương lịch
hàng tháng. Đợt 2: Bên B thanh toán nộp) tiền bán hàng trong tháng cho bên A
số tiền còn lại bằng doanh số thực bán của tháng…vào ngày 05 dương lịch của
10
tháng tiếp theo…” “…Bên B vi phạm quy định thanh toán (nộp) tiền bán hàng
trong kỳ cho bên A được tính phạt 1.5% trên số tiền thanh toán trễ hạn…”
Do đó căn cứ số liệu trích ra từ phần hệ thống phần mềm quản lý bán hàng
(Báo cáo NXT nhà phân phối) thì lượng hàng công ty Thành Thành An bán ra từ
tháng 8 đến tháng 11/2019 tương ứng với số tiền là 69.933.000 đồng, số tiền
trên đến nay chưa chuyển trả cho Công ty Việt My. Do đó ngoài tiền hàng chưa
trả thì Công ty Việt My yêu cầu tính tiền phạt vi phạm do chậm thanh toán tiền
hàng là phù hợp với thỏa thuận phân phối và phù hợp với quy định tại Điều 175
Luật Thương mại nên có cơ sở chấp nhận.
Như vậy tổng số tiền bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là
484.305.283 đồng, trong đó hàng hóa tồn kho quy đổi thành tiền là 413.323.288
đồng; Tiền hàng đã bán chưa trả là 69.933.000 đồng và tiền phạt 1.5% trên số
tiền hàng phải thanh toán bị vi phạm là 1.048.995 đồng.
Đối với số tiền tạm nộp đối ứng là 100.000.000 đồng mà Công ty Thành
Thành An tạm nộp cho Công ty Thành Thành An thì theo thỏa thuận khi kết thúc
hợp đồng số tiền trên sẽ được trả lại cho Công ty Thành Thành An và Công ty
Việt My cũng đồng ý trả lại số tiền đối ứng trên sau khi Công ty Thành Thành
An thanh toán hết số nợ. Do đó sau khi Công ty Thành Thành An thanh toán hết
số nợ cho Công ty Việt My thì Công ty Việt My có trách nhiệm thanh toán số
tiền tạm nộp đối ứng là 100.000.000 đồng cho Công ty Thành Thành An.
- Xét, trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty Thành Thành An đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa để trình bày ý kiến. Tuy nhiên
ngày 6/9/2022 có gửi văn bản trình bày về việc ký kết thỏa thuận, về việc hoạt
động không hiệu quả của đại lý bán hàng.... Tuy nhiên tại văn bản trình bày
không có yêu cầu cụ thể để yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tranh chấp. Do đó
không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
- Về thời hạn thanh toán:
Xét, Công ty Việt My yêu cầu Công ty Thành Thành An thanh toán một lần
ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy Công ty Thành
Thành An vi phạm thời hạn thanh toán đã lâu là gây thiệt hại đến quyền và lợi
ích hợp pháp cho Công ty Việt My. Căn cứ Điều 175 Luật Thương mại yêu cầu
của Công ty Việt My là có cơ sở để chấp nhận.
[3]Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Do yêu cầu của Công ty Việt My được chấp nhận nên Công ty Thành
Thành An phải chịu án phí là 23.372.211 đồng.
11
Công ty Việt My có trách nhiệm thanh toán 100.000.000 đồng số tiền tạm
nộp ứng cho Công ty Thành hành An nên phải chịu án phí trên số tiền phải thanh
toán là 5.000.000 đồng.
Công ty Việt My được hoàn lại một phần tiền tạm ứng án phí đã nộp sau
khi trừ đi phần án phí phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1
Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 168; Điều 175 và Điều 176 Luật thương mại 2005; Điều 6; Khoản 2
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH
sản xuất và thương mại tổng hợp Việt My.
Buộc Công ty TNHH thương mại Thành Thành An có trách nhiệm thanh
toán cho Công ty TNHH sản xuất và thương mại tổng hợp Việt My tổng số tiền
là 484.305.283 (bốn trăm tám mươi bốn triệu ba trăm lẻ năm ngàn hai trăm tám
mươi ba) đồng; Trong đó tiền giá trị hàng hóa là 413.323.288 (bốn trăm mười ba
triệu ba trăm hai mươi ba ngàn hai trăm tám mươi tám) đồng; Tiền hàng đã bán
chưa trả là 69.933.000 (sáu mươi chín triệu chín trăm ba mươi ba ngàn) đồng và
tiền phạt chậm thanh toán tiền hàng là 1.048.995 (một triệu không trăm bốn
mươi tám ngàn chín trăm chín mươi lăm) đồng.
Thời hạn thanh toán: Một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
„
Buộc Công ty TNHH sản xuất và thương mại tổng hợp Việt My phải trả
cho Công ty TNHH thương mại Thành Thành An số tiền 100.000.000 (một trăm
triệu đồng) sau khi Công ty TNHH thương mại Thành Thành An thanh toán
xong số tiền còn thiếu cho Công ty TNHH sản xuất và thương mại tổng hợp Việt
My.
Kể từ ngày Công ty TNHH sản xuất và thương mại tổng hợp Việt My có
đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty TNHH thương mại Thành Thành An không
12
thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành
án.
2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH thương mại Thành Thành An phải chịu án phí là
23.372.211 (hai mươi ba triệu ba trăm bảy mươi hai ngàn hai trăm mười một)
đồng.
Công ty TNHH sản xuất và thương mại tổng hợp Việt My phải chịu án phí
là 5.000.000 (năm triệu) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà
Công ty TNHH sản xuất và thương mại tổng hợp Việt My đã nộp theo biên lai
thu số 0071107 ngày 12/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Hoàn lại số tiền 6.665.126 (sáu triệu sáu trăm sáu mươi lăm ngàn một trăm hai
mươi sáu) đồng cho Công ty sản xuất và thương mại tổng hợp Việt My theo biên
lai thu trên.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi
tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được
bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND TP.HCM;
- VKSND Quận Tân Phú;
- Chi cục THADS Quận Tân Phú;
- Lưu VP, hồ sơ ./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thanh Hƣơng
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 04/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 17/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 16/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 10/2024/KDTM-PT ngày 28/05/2024 của TAND tỉnh Tiền Giang về tranh chấp về đại diện, đại lý
Ban hành: 28/05/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 07/2024/KDTM-PT ngày 26/04/2024 của TAND tỉnh Tiền Giang về tranh chấp về đại diện, đại lý
Ban hành: 26/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 06/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/09/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 22/06/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 04/05/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 17/03/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 15/02/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/09/2022
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 22/09/2022
Cấp xét xử: Sơ thẩm