Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 05/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng hợp tác

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 05/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng hợp tác
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 47/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/06/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Bà Trần Thị Thanh T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Phiến;
2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Vinh;
- Thư phiên tòa: Ngô Thái Thiên Thanh - Thư Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bạch Nhạn – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử
thẩm công khai v án thụ số: 432/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm
2024 về tranh chấp hợp đồng mua bán theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
92/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên
tòa số 18/2025/QĐST-DS ngày 5/5/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1962;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T là ông Trần Thanh H, sinh năm 1963
(có mặt) ;
Địa chỉ: Số A, đường số A, phường D, TP ., tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1973;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Út E, sinh năm
1976;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H1 Út E là ông Nguyễn Văn
H2, sinh năm 1995 (có mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 47/2025/DSST
Ngày: 05/06/2025
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai tại phiên tòa nguyên đơn
Trần Thị Thanh T ủy quyền cho ông Trần Thanh H trình bày:
Trần Thị Thanh T kinh doanh mua bán vật nông nghiệp, ông H bắt
đầu mua vật nông nghiệp từ thời gian nào T không nhớ, chỉ nhớ ông H
thường mua vật tư nông nghiệp đến vụ thu hoạch sẽ trả tiền, mỗi lần mua thì T
sẽ ghi vào 02 sổ, bà T giữ 01 sổ (sổ cái) và giao ông H giữ 01 sổ (sổ nhỏ), cũng có
những lúc ông H quên mang theo sổ hoặc mua hàng bằng cách gọi điện thoại thì bà
T chỉ ghi vào sổ của bà T mà không ghi vào sổ của ông H. Đến ngày 20/5/2020, vợ
chồng ông H Út E đến gặp bà T để cộng lại sổ nợ thì tổng cộng ông H
bà Út E còn nợ bà T số tiền 90.000.000đ và vợ chồng ông H có ký tên xác nhận n
vào sổ nợ của T.
Sau khi cộng nợ thì ông H và bà Út E có trả nợ cho T cụ thể:
- Ngày 20/5 ông H trả được 5.000.000đ, ông H trả tại nhà T, ông H
tên vào sổ của bà T.
- Ngày 30/8, ông H đến nhà bà T trả được 6.000.000đ, ông H cũng tên
vào sổ của bà T.
- Ngày 4/02, con của H tên G có đến nhà bà T trả được 9.000.000đ và G có ký
tên vào sổ của bà T.
- Ngày 25/5, G con của ông H đến nhà T trả 9.000.000đ, G cũng
tên vào sổ của bà T.
- Ngày 15/03/2022, vợ của ông H là Út E đến nhà T trả 2.000.000đ,
Út E có ký tên vào sổ nợ của bà T.
- Ngày 16/4/2022, con T là Huỳnh T1 đến nhà ông H lấy tiền nợ được
2.000.000đ.
- Ngày 21/6, con bà T có đến nhà ông H thu được 2.000.000đ.
- Ngày 27/9, con bà T có đến nhà ông H thu được 1.500.000đ
- Ngày 8/11, con bà T đến nhà ông H lấy tiền nợ được 2.000.000đ.
- Tháng 4/2023, con bà T đến nhà ông H lấy tiền nợ được 4.000.000đ
- Ngày 22/6/2023, con bà T đến nhà ông H lấy tiền nợ được 1.000.000đ.
Tổng cộng ông H, Út E đã trả cho T được: 43.500.000đ (Bốn mươi ba
triệu năm trăm ngàn đồng). Còn nợ lại 46.500.000đ. Từ đó đến nay ông H không
trả tiền cho T.
vậy Trần Thị Thanh T yêu cầu ông Nguyễn Tấn H1 vợ Út E
phải trả cho bà T số tiền còn nợ là 46.500.000đ (Bốn mươi sáu triệu năm trăm ngàn
đồng). Ngoài ra T yêu cầu tính lãi từ tháng 7/2023 đến khi xét xử với lãi suất
0,83%/tháng.
Tạm tính: 46.500.000đ x 0,83% x 20 tháng (từ tháng 7/2023 đến tháng
02/2025) = 7.719.000đ.
Tổng cộng vốn lãi là: 54.219.000đ (Năm mươi bốn triệu hai trăm mười chín
ngàn đồng).
Tại phiên tòa nguyên đơn chỉ yêu cầu ông Nguyễn Tấn H1 và bà Nguyễn Thị
Út E trả số tiền mua vật tư còn nợ là 46.500.000đ không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn H1 ủy quyền ông Nguyễn Văn H2 trình bày:
3
Khoảng từ năm 2019 ông Nguyễn Tấn H1 mua vật tư nông nghiệp của
Trần Thị Thanh T, hình thức mua hàng ông H1 sẽ trực tiếp giao dịch với T,
tiền hàng đến mùa thu hoạch sẽ trả cho T, mỗi lần mua hàng T sghi số
lượng hàng và thành tiền vào 02 sổ mua bán, bà T sẽ giữ 01sổ và sổ còn lại ông H1
sẽ giữ. Khoảng vào năm 2022, bà T có kêu vợ chồng ông H1 và Út E đến để ký tên
vào biên nhận nợ được ghi trong sổ, ông H1 xác định chữ ký và chữ viết họ tên của
ông H1 trong biên nhận chữ chữ viết của ông H1. Tuy nhiên, khi tên
ông chỉ biết vào sổ ghi sẵn nội dung nhưng ông vợ không đọc nên
không biết tên vào nội dung gì, lúc đó T cũng nói là để T gửi vcông
ty khi nào cộng nợ sẽ thông báo cho ông bà biết sau nên ông không biết được
ông bà còn nợ bà T bao nhiêu tiền.
Sau khi tên vào sổ của T thì ông H1 Út E trả tiền nợ cho bà T,
ông H1 Út E thống nhất như trình bày của bà T về số tiền đã trả được
43.500.000đ.
Năm 2023, ông yêu cầu đối chiếu lại sổ của T nhưng T không
đồng ý, do đó ông bà không trả tiền cho đến nay.
Sau khi được đối chiếu sổ của ông H1 sổ của T thì ông H1 thấy sự
chênh lệch một số sản phẩm trong sổ của T nhưng không được ghi trong sổ
của ông H1. Ông H1 cộng số tiền những sản phẩm được ghi trong sổ của ông H1
được số 55.298.000đ. Do đó ông H1 xác định tổng stiền vợ chồng ông nợ của
bà T chỉ có 55.298.000đ, nhưng ông đã trả được 43.500.000đ nên còn nợ lại số tiền
11.798.000đ.
Do đó ông H1 đồng ý trả cho T số tiền còn nợ là 11.798.000đ không đồng
ý trả lãi.
Người quyền lợi và nghĩa vliên quan Nguyễn Thị Út E thống nhất
theo trình bày của ông Nguyễn Tấn H1. Bà Út E xác định chữ ký Ú trong sổ của bà
T chữ của Út E. Tuy nhiên, khi tên thì T không báo cho biết số
tiền còn nợ bao nhiêu, bà T nói để gửi về công ty khi nào cộng sổ sẻ thông
báo cho vợ chồng bà. Sau khi tên thì vợ chồng trả được số tiền
43.500.000đ nên chỉ còn nợ lại số tiền 11.798.000đ. Bà Út E cũng đồng ý cùng ông
H1 trả số tiền còn nợ 11.798.000đ cho bà T.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn người quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan chỉ đồng ý trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền 11.798.000đ,
không trả lãi.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý
kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn, người
liên quan đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Ý kiến vviệc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 357, 440 Bộ luật dân sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Nguyễn Tấn H1 và người
4
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Út E trả cho Trần Thị Thanh T
số tiền là 46.500.000 đồng không tính lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Trần Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tấn H1 bà Nguyễn
Thị Út E trả số tiền mua vật tư nông nghiệp đây vụ kiện Tranh chấp hợp đồng
mua bán. Ông Nguyễn Tấn H1 Nguyễn Thị Út E địa chỉ tại T, huyện
C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành theo quy định tại Điều 26, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Bà Trần Thị Thanh T yêu cầu ông Nguyễn Tấn H1 và bà Nguyễn Thị Út
E phải trả cho T số tiền mua vật nông nghiệp còn nợ 46.500.000đ (Bốn
mươi sáu triệu năm trăm ngàn đồng).
Bị đơn ông Nguyễn Tấn H1 và người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Út E không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Ông H1 Út E
thừa nhận còn nợ T số tiền 11.789.000đ nên chỉ đồng ý trả cho T số tiền
11.789.000đ, không trả lãi.
Xét thấy, bị đơn ông Nguyễn Tấn H1 có mua vật tư nông nghiệp của bà T đều
này được hai bên thừa nhận. Hình thức mua bán đến khi xong mùa vụ thì ông H1
trả tiền cho bà T. Căn cứ T yêu cầu khởi kiện là biên nhận nợ số tiền
90.000.000đ được ghi trong sổ của T có chữ ký của ông H1 và bà Út E.
Nguyên đơn trình bày việc cộng nợ được lập trên sở cộng số tiền trong sổ
bán hàng của T giữ sổ của ông H1 giữ, những lúc không ghi trong sổ của
ông H1 thì bà T cũng báo cho ông H1 biết. Hai bên cộng nợ và thống nhất được số
tiền 90.000.000đ, bà T ghi nội dung cộng nợ vào sổ, ông H1Út E tên xác
nhận.
Ông H1, bà T trình bày số tiền nợ tổng cộng 90.000.000đ do T tự cộng
trong sổ bán hàng của bà T, T không thông báo số tiền ncho ông H1, bà Út E
biết. Khi biên nhận ông bà không đọc nội dung cũng không ai chứng kiến. Tuy
nhiên, ông H1 bà Út E thừa nhận tên vào sổ của T, chviết họ
tên ông H1, chữ Ú trong biên nhận trong sổ T do ông H1 Út E ký
viết ra.
Ông H1, Út E trình bày không biết được số tiền nợ tổng cộng
90.000.000đ, nhưng sau khi cộng nợ thì ông H1, Út E trả cho T
43.500.000đ.
Hội đồng xét xử thấy rằng, phía bị đơn ông H1 Út E không thừa nhận
tổng số tiền nợ 90.000.000đ, lẽ bị đơn đưa ra do số tiền này T tự cộng
trong sổ của bà T không đối chiếu với sổ của ông H1 giữ. Khi ông H1 đối chiếu
sổ của ông H1 sổ T thì một số sản phẩm không trong sổ của ông H1
nên ông H1 không thừa nhận các sản phẩm này. Tuy nhiên, T cũng trình bày
những lần ông H1 mua hàng bằng điện thoại nên T không ghi vào sổ của ông
H1 được ghi vào giấy rời giao cho ông H1. Điều này phù hợp với lời khai
5
của nhân chứng người chở hàng thuê của T. Do đó, nếu căn cứ vào một s
ghi nợ thì không thể xác định được cụ thể số lượng hàng hóa mua bán.
Ông H1 bà Út E thừa nhận có ký tên vào sổ của bà T ghi sẵn nội dung
nhưng ông không biết nội dung gì, không biết đã nợ số tiền bao nhiêu và không
biết đã ký vào biên nhận nợ. Nhưng sau khi ký biên nhận thì ông H1 và bà Út E lại
trả nợ nhiều lần cho T được số tiền 43.500.000đ. do ông H1, Ú trả tiền
cho T do ông biết được nợ còn 37.000.000đ nhưng ông lại không xác
định được mình đã trả được bao nhiêu tiền cho T, đến khi bà T trình bày số tiền
trả được 43.500.000đ thì phí bị đơn thống nhất theo. Nên việc ông Nguyễn Tấn H1
và bà Nguyễn Thị Út E trình bày không biết tổng số tiền khi cộng nợ là không hợp
lý, không căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T, buộc ông Nguyễn Tấn H1 Nguyễn Thị Út
E có trách nhiệm trả số tiền mua vật tư nông nghiệp còn nợ là 46.500.000đ.
[2.3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
người liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tại
phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án
nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 357, Điều 440, Bộ luật dân sự năm 2015.
- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T.
2. Buộc ông Nguyễn Tấn H1 Nguyễn Thị Út E nghĩa vụ trả cho
Trần Thị Thanh T số tiền 46.500.000đ (Bốn mươi sáu triệu năm trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật ối với trường hợp
quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn H1 Nguyễn Thị Út E phải nộp
2.325.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Trần Thị Thanh T tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ
ngày 15/11/2024 theo biên lai thu số 0013778 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện
Châu Thành.
4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bđơn mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
- VKS nhân dân huyện Châu Thành;
- Các đương sự;
- Chi cục THA dân sự huyện Châu
Thành;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Thị Hồng Loan
Tải về
Bản án số 47/2025/DS-ST Bản án số 47/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 47/2025/DS-ST Bản án số 47/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất