Bản án số 136/2026/DS-PT ngày 08/04/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 136/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 136/2026/DS-PT ngày 08/04/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 136/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 136/2026/DS- PT
Ngày: 08/4/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất; tranh chấp hợp đồng dịch
vụ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên t: Ông Nguyễn Ngọc Chung.
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hằng
Bà Ngọ Thị Thanh Hảo
Thư phiên toà: Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Nguyễn Thị Giang
Kiểm sát viên.
Ngày 08/4/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm
công khai vụ án thụ số 465/2025/DS-PT ngày 12/12/2025 về việc “Tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Do bản án dân sự thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 5-Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số 42/2026/QĐ-PT ngày
09/01/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2026/QĐ-PT ngày 21/01/2026;
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 39/2026/QĐ-PT ngày 11/02/2026; Quyết định
hoãn phiên tòa số 110/2026/QĐ-PT ngày 11/3/2026 ; giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1946. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số F, ngõ C đường Â, phường H, TP Hà Nội.
Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1950 (Đã chết)
Địa chỉ: Số B, ngõ A T, phường Đ, thành phố Hà Nội.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T:
1. Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1948. (vắng mặt)
2. Bà Vũ Thị Quỳnh M, sinh năm 1974; (vắng mặt)
3. Ông Vũ Mạnh Q, sinh năm 1976; (vắng mặt)
2
4. Ông Vũ Công U, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số nhà B, ngõ A T, phường Đ, thành phố Hà Nội
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1948. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B, ngõ A T, phường Đ, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H1: Luật sư Nguyễn Văn D,
luật sư Dương Thị Thanh N thuộc văn phòng L2 Hà Nội (có mặt)
Địa chỉ: Tầng D, tòa nhà V -192 T - Hà Nội
- Ông Phan Khắc S, sinh năm 1942. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số H N, khu A phường L, thành phố Hải Phòng.
- Bà Vũ Thị Quỳnh M, sinh năm 1974; (vắng mặt)
- Ông Vũ Mạnh Q, sinh năm 1976; (vắng mặt)
- Ông Vũ Công U, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số nhà B, ngõ A T, phường Đ, thành phố Hà Nội
- UBND phường P, tỉnh Bắc Ninh do ông Phạm Văn D1 Chủ tịch đại diện
theo pháp luật (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Khắc H2, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Bà Trần Mỹ L, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, phường P, tỉnh Bắc Ninh.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị Liên H, ông Văn H1
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai của nguyên đơn Nguyễn Thị Liên
H trình bày:
Phạm Thị T quan hệ quen biết hàng xóm với nhau từ thời nhỏ.
Chồng ông Hợp H3, đã ly hôn năm 2006. Vào ngày 05/8/2012 Phạm
Thị T có viết giấy chuyển nhượng viết tay cho bà diện tích đất khoảng 0,4ha đất tại
thôn T, P (nay thuộc phường P) cho bà, nguồn gốc diện tích đất này T được
Nông trường Lục Ngạn thuộc Công ty cphần X giao khoán theo hợp đồng số
466/HĐK ngày 12/4/1998), thời hạn khoán 50 năm (các điều khoản theo hợp
đồng). do nhận chuyển nhượng diện tích đất trên của T vào khoảng từ
năm 2010 đến năm 2012 nhiều lần cho T vay tiền, thời điểm cuối cùng
chốt nợ là vào tháng 5/2012 bà T chốt nợ 11.715.000.000 đồng. Nhưng bà xác định
việc vay nợ này không liên quan đến việc bà T chuyển nhượng diện tích đất 0,4ha
trên cho bà.
Lý do T chuyển nhượng diện tích đất cho bà, là do bà T đang nợ bà tiền và
nợ rất nhiều tiền của nhiều người khác, sau khi chốt số nợ 11.715.000.000 đồng
3
với bà, bà T muốn vay thêm tiền của bà nhưng không cho vay thêm nên T
mới chuyển nhượng diện tích đất trên cho bà. Sau khi giấy viết tay chuyển
nhượng đất đã đưa tiền mặt cho T 900.000.000 đồng, không phải như T
trình bày ép T chuyển nhượng đất để trừ nợ lãi khi T ốm. Việc chuyển
nhượng này tuy ông H1 không ký nhưng ông H1 biết việc T chuyển nhượng đất
cho bà.
T đã bàn giao diện tích đất trên cho sdụng, quản từ năm 2012 cho
đến nay. thuê ông Phan Khắc S trông giữ vườn vải từ năm 2012 đến năm 2022.
Thời gian tiếp quản vườn vải thì không tu tạo, xây thêm tài sản gì, tài sản
trên đất hiện nay vẫn là các tài sản của bà T tạo dựng.
Nay đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất 0,4ha (kết quả đo thực tế hiện nay 3698,2m
2
) thuộc Đội 2, thôn T, P (nay
TDP T, phường P, tỉnh Bắc Ninh) ngày 05/8/2012 giữa với T hiệu lực,
buộc bà T phải làm thủ tục sang tên cho bà theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, bà đã được giải thích về hậu quả của hợp
đồng hiệu theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả hợp
đồng hiệu, buộc T phải trả lại số tiền 900.000.000 đồng cho bà T
tiền lãi của số tiền 900.000.000 đồng tính từ ngày 05/08/2012 đến khi xét xử với
mức lãi suất là 10%/năm, tiền công trả cho ông S cho việc chăm nom, quản lý diện
tích đất đang tranh chấp tính từ 08/2012 đến 08/2017.
Đối với yêu cầu phản tố của T quan điểm của không đồng ý với yêu
cầu phản tố do bà T đưa ra.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Phan Khắc S. Bà xác nhận có việc giữa bà và
ông Phạm Khắc S1 thoả thuận trông nom vườn vải với nhau bằng miệng với
mức 2.000.000 đồng/tháng, ông S1 quyền quản lý, chăm sóc thu hoạch hoa
mầu trên đất của bà. Tính tới thời điểm làm việc tại Toà án tchưa thanh toán
cho ông S1 khoản tiền nào cho việc trông nom vườn. Tổng số tiền cần trả cho
ông S1 248.000.000 đồng. Nay ông S1 yêu cầu phải thanh toán trả cho ông
S1 360.000.000 đồng tiền công đồng không ý. chỉ đồng ý trả cho ông S1 số
tiền 248.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu ông S1 phải tính tiền hoa màu ông S1
được hưởng lợi từ việc quản lý, chăm sóc, thu hoạch hoa màu của bà, để đối trừ hết
số tiền 248.000.000 đồng nêu trên,.
Bị đơn Phạm Thị T trình bày: Nguyễn Thị Liên H quan hệ
quen biết là hàng xóm với nhau từ thời nhỏ. Vào năm 1998 gia đình bà được Nông
trường L đã giao khoán diện tích đất 0,4ha thuộc Đội 2, thôn T, P (nay TDP T,
phường P) theo hợp đồng số 466/HĐK ngày 12/4/1998), thời hạn khoán là 50 năm
(các điều khoản theo hợp đồng).
Do từ năm 1996 bà có làm ăn kinh doanh nên bà H có gửi một số tiền để cùng
làm ăn kinh doanh (do sổ sách H giữ hết nên không nhớ cụ thể số tiền bao
nhiêu), khi đưa tiền làm ăn kinh doanh thì bà phải trả lãi cho H theo lãi
6%/tháng. Từ năm 1996 đến năm 2011 giữa bà và bà H hàng tháng thanh toán cho
4
nhau tiền gốc lãi (tất cả những lần đó bà đều ghi vào sổ H nênkhông nhớ
chi tiết). Đến năm 2012 do bị bệnh chậm trả tiền lãi cho bà H nên ngày
05/8/2012 bà H ép phải viết giấy chuyển nhượng diện tích đất trên cho H
diện tích đất trên với giá 900.000.000 đồng. Bà xác định giấy chuyển nhượng bà H
nộp cho Tòa án nội dung do viết chữ của nhưng thực chất không
nhận số tiền 900.000.000 đồng không việc chuyển nhượng đất như giấy
chuyển nhượng bà đã viết.
Diện tích đất trên hiện nay chưa làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Năm 2014 gia đình đã làm thủ tục cấp sổ đỏ theo chính sách chung Nhà
nước nhưng chưa được cấp sổ đỏ.
Diện tích đất trên tài sản chung của vợ chồng bà. Tài sản trên đất hiện nay
trồng vải và các cây khác gia đình bà vẫn đang quản lý.
Nay không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của H đề nghị Tòa án công
nhận hợp đồng chuyển nhượng giấy viết tay ngày 05/8/2012. yêu cầu phản
tố đối với H yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất ngày 05/8/2012 hiệu yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng
hiệu là buộc bà Nguyễn Thị Liên H phải trả lại diện tích đất 0,4ha tại thôn T, xã Q,
huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay TDP T, phường P, tỉnh Bắc Ninh) buộc
Nguyễn Thị Liên H và ông Phạm Khắc S1 phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà
T tiền mất thu nhập trong 12 năm không thu hoạch được hoa mầu, tài sản trên đất
là cây cối hoa mầu và nhà cửa tổng giá trị 950.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi
triệu đồng).
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H4 trình bày:
Ông chồng của Nguyễn Thị T1. Về nội dung T1 trình bày ông nhất trí
không có ý kiến gì khác.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập ông Phan
Khắc S trình bày: Ông và Nguyễn Thị Liên H và bà Phạm Thị T quen biết nhau
giao, các bên không mâu thuẫn gì. Thời điểm năm 2012 ông trông vườn của
con trai ông ở thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, cạnh vườn của hai bà nên hai
bên có quen biết nhau. Từ tháng 8/2012 bà H là người trực tiếp thuê ông trông diện
tích đất vườn (01 quả đồi) cho H tại địa chỉ vườn: thôn T, Q, huyện L, tỉnh
Bắc Giang, thỏa thuận thuê trông từ tháng 8/2012 đến ngày 31/12/2017, mỗi tháng
H trả ông tiền công là 2.000.000đồng. Hai bên không làm giấy tờ gì, không viết
hợp đồng thuê, không ai làm chứng. Tổng số tiền thuê tính tròn đến tháng
8/2017 là 120.000.000 đồng.
Từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2022 H tiếp tục thuê ông trông cho ông
quá đồi này, trả tiền công mỗi tháng là 5.000.000đồng. Ngày 02/10/2017 ông và bà
H đã vào Giấy ủy quyền ánh máy), nội dung H thuê ông trông nom mảnh
đất này và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của địa phương. Do hai bên thỏa thuận miệng
là tiền công trả ông mỗi tháng là 5.000.000đồng nên ông đã viết tay “thuê ông S là
5 triệu đồng kể từ ngày HĐ”. H đã biết ông viết thêm nội dung số tiền thuê
mỗi tháng 5.000.000đồng vào giấy ủy quyền bà H nhất trí. Tổng số tiền công
5
tính tròn là 4 năm là 240 triệu đồng. Từ khi bà H thuê ông trông diện tích đất vườn
(quả đồi) từ tháng 8/2012, H chưa trả ông đồng nào. Nay khi Tòa án giải quyết
vụ án, yêu cầu ông (120.000.000 đồng+ 240.000.000đồng)= 360.000.000đồng.
Ngoài ra ông không yêu cầu H trả số tiền nào khác. Các lời khai của ông tại
Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang trong các buổi làm việc trước,
ông giữ nguyên.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị Quỳnh M, ông
Mạnh Q, ông Công U đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng theo quy định
của pháp luật. Tuy nhiên, M, ông Q, ông U không ý kiến gửi Tòa án về việc
nguyên đơn khởi kiện cũng như không cung cấp địa chỉ nơi trú của mình cho
Tòa án.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên qua ông Nguyễn Khắc H2 trình bày:
Ông ông Phan Khắc S quan hệ quen biết ngày xưa ông S trông vườn cho
ông H4, T (còn sau này trông cho H hay không thì ông không ). Đến
năm 2022, ông S về Hải Dương bảo ông trông nom vườn hộ cho ông S.
Mỗi năm trả cho ông S vài triệu gọi tiền cho làm vườn. Tính đến nay thì ông
mới đưa cho ông S 3.000.000 đồng. Còn lại những năm trước mất mùa ông không
đưa cho ông S. Việc ông canh tác trên đất hiện đang tranh chấp giữa bà H5 T
thì bà H biết việc này và không có ý kiến gì. Quá trình ông trông nom vườn thì ông
chăm sóc, cắt tỉa trồng thêm khoảng 300 cây ổi ghép C lên cây bưởi. Vải
thiều vẫn giữ nguyên. Giữa ông và bà H, bà T không có thỏa thuận gì về việc trông
nom vườn. nhà ông có đất sát cạnh đất đang tranh chấp nên ông mới trông nom
cho ông S. Trường hợp Tòa án giải quyết đất của ai thì giữa ông người được
Tòa án công nhận sẽ tự làm việc với nhau. Trường hợp mà người được quản lý đất
yêu cầu ông di dời cây cối đã trồng trên đất trả lại đất thì ông nhất trí và không yêu
cầu bồi thường hết. Giữa ông ông S ông không yêu cầu Tòa án xem xét giải
quyết quyền lợi gì với ông S mà để hai bên tự thỏa thuận với nhau.
Do ông công việc bận nên ông đnghị Tòa án cho ông được vắng mặt tại các
buổi làm việc tại Tòa án các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nếu có.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Trần Mỹ L trình bày: Bà là vợ
của ông Nguyễn Khắc H2. Việc ông H2 khai trình bày đồng ý không ý
kiến khác. đề nghị cho được vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án
các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét
xử nếu có.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường P, tỉnh Bắc Ninh
do ông Phạm Văn D1 -Chủ tịch đại diện theo pháp luật trình bày: Về nguồn gốc
diện tích đất 0,4ha tại thôn T, xã Q, L, Bắc Giang, vào năm 1998 thuộc quản lý của
Nông trường L, thuộc Công ty cổ phần X, Nông trường L đã giao khoán diện ch
trên cho hộ gia đình Phạm Thị T (theo hợp đồng số 466/HĐK ngày 12/4/1998),
thời hạn khoán là 50 năm. Theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 03/01/2014 của
6
UBND tỉnh B thì UBND tỉnh B hiện đã thu hồi diện tích đất trên Nông trường
L đã giao khoán cho bà T để giao về cho UBND xã Q (nay là phường P) quản lý.
Việc bàn giao nêu trên chỉ bàn giao về tổng diện tích (chi tiết Phụ lục kèm
theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 03/01/2014 của UBND tỉnh B) chứ không
thực hiện bàn giao theo từng hộ gia đình nhận khoán, cũng như tiếp quản hợp đồng
khoán đối với các hộ gia đình nhận khoán.
Hiện nay các hộ được giao khoán như của Nguyễn Thị T1 vẫn đang được
trực tiếp sdụng quỹ đất như trên. Trường hợp Tòa án khu vực 5 tuyên bố Hợp
đồng chuyển nhượng giữa bà Nguyễn Thị T1 và bà Nguyễn Thị Liên H bị vô hiệu,
đề nghị Tòa án khu vực 5- Bắc Ninh căn cứ theo Luật đất đai năm 2024 pháp
luật có liên quan xem xét, thực hiện.
Tại biên bản xác minh tại địa phương:
Hiện nay diện tích đất trên theo sổ quản địa phương thì ghi tên Phạm
Thị T người được giao khoán trước đây hiện tên người sử dụng diện tích đất
trên ghi tên Phạm Thị T. Thực tế diện tích đất trên ai đang sử dụng địa phương
không nắm được.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ông Hoàng Văn H6: Hộ gia
đình hàng xóm cạnh diện tích đất trên xác định diện tích đất trên ông S làm
vườn ở trên đất đó, thỉnh thoảng cũng thấy ông H6 chồng bà T lên xem vườn xong
lại về luôn, cụ thể ai là người sử dụng quản lý đất thì ông không nắm được.
Tại biên bản xác minh với địa phương thì ngày công lao động phổ thông trong
giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2022 tại địa phương giao bình quân động từ
100.000đồng đến 150.000đồng/1 ngày.
Tại biên bản làm việc với Công ty cổ phần X1 - Do ông Nguyễn Đức H7
(Giám đốc đại diện trình bày): Vào năm 2016 Nông trường Lục Ngạn giải thể,
Công ty X1 đã mua lại Nông trường L. Đối với diện tích đất Nông trường L đã
giao khoán cho Phạm Thị T tại thôn T, Q, Công ty không quản diện tích
đất này và không có quyền lợi liên quan, không yêu cầu gì Công ty T4 tham gia
tố tụng.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản ngày 27/6/2023
ngày 26/05/2025
Trị giá đất trồng cây lâu năm có giá 195.000đồng/1m
2
.
Tài sản trên đất: 01 căn nhà cấp 4 hết giá trị sử dụng.
Cây cối lâm lộc:
- 07 cây vải đường kính tán từ 1m - 1,5m x 515.000đồng =
3.605.000đồng;
- 75 cây vải đường kính tán t 3m 3,5m x 3.305.000đồng =
247.875.000đồng;
7
- 15 cây bưởi có đường kính gốc từ 15cm - 20cm x 2.945.000đồng =
44.175.000đồng;
- 01 cây nhãn đường kính tán từ 1m 3 m x 455.000đồng =
455.000đồng.
- 300 cây ổi mới trồng do ông H7, L trồng 2023 (không định giá);
Với nội dung trên, bản án dân sự thẩm số 66/2025/DS-ST 26/9/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 5 –Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 121, 122, 127, 128, 136, 137, khoản 3 Điều 219; Điều
450; Điều 689, Điều 693, Điều 697 Bộ luật dân sự năm 2005
Căn cứ Điều 357, Điều 562, Điều 566 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 106; điểm b, khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003.
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 147;
Điều 165; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Liên H về yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/8/2012.
Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng ngày 05/8/2012 về việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất 0,4ha, đất trồng cây lâu năm (kết quả đo thực tế
3698,2m
2
) tại thôn T, Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay TDP T, phường P,
tỉnh Bắc Ninh) giữa bà Nguyễn Thị Liên H và bà Phạm Thị T là vô hiệu.
2. Giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu:
Buộc H phải trả lại diện tích 3698,2 m
2
đất trồng cây lâu năm tài sản
trên đất tại TDP T, phường Q, tỉnh Bắc Ninh cho Nguyễn Thị T1 quản theo
hợp đồng giao khoán số 466/HĐK ngày 12/4/1998.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị T1 về yêu cầu
tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng ngày 05/8/2012 về việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất 0,4ha, đất trồng cây lâu năm (kết quả đo thực tế
3698,2m
2
) tại thôn T, Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giữa bà Nguyễn Thị Liên H
và bà Phạm Thị T là vô hiệu.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thu B Nguyễn
Thị Liên H ông Phan Khắc S phải liên đới bồi thường thiệt hại số tiền
950.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi triệu đồng).
5. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Phan Khắc S.
Buộc Nguyễn Thị Liên H phải trả ông Phan Khắc S số tiền 248.000.000
đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền
thi hành án đối với các đương sự.
8
Sau khi xét xử thẩm, ngày 06/10/2025, nguyên đơn Nguyễn Thị Liên H
kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm theo
hướng buộc bà Phạm Thị T trả lại cho Nguyễn Thị Liên H 900.000.000 đồng;
buộc bà Phạm Thị T trả lại ông Phan Khắc S 240.000.000 đồng.
Ngày 31/10/2025, ông Vũ Văn H1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của bà Phạm Thị T kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
phản tố của Phạm Thị T, buộc Nguyễn Thị Liên H ông Phan Khắc S phải
liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 950.000.000 đồng buộc vợ chồng anh H7,
chị L phải di chuyển 300 cây ổi ra khỏi đất của gia đình bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông H1
trình bày: Ông H1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm do TAND khu vực 5 xét xử
thẩm. Việc Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại
950.000.000đ không tuyên buộc vợ chồng anh H7, chị L di chuyển 300 cây ổi là
gây thiệt thòi cho gia đình bà T gây khó khăn cho việc thi hành án. Nguyên đơn
tự vào chiếm đất, không việc bàn giao đất. Các tài sản trên đất đều do gia đình
T tạo lập. Theo BB thẩm định tài sản ngày 27/6/2023 đều xác định trên đất
82 cây vải nên bà T yêu cầu H, ông S phải bồi thường do cây cối bị chặt phá
chính đáng. Thực tế H, ông S đã khoảng thời gian dài tự ý chiếm giữ trái
phép diện tích 0.4ha của gia đình ông H1. Với số lượng cây ăn quả thì hàng năm sẽ
mang lại nguồn thu nhất định, nên việc buộc H, ông S liên đới bồi thường mới
đảm bảo quyền lợi chính đáng của bà T. Việc vợ chồng anh H7 chị L trồng 300
cây ổi trên đất của gia đình bà T thì bà T đã đơn đề nghị Tòa án buộc vợ chồng
H7, L phải di chuyển 300 cây ổi để trả lại đất cho gia đình bà T. Vợ chồng anh H7,
chị L cũng đã ý kiến nhưng tòa thẩm không tuyên thiếu sót, gây khó khăn
cho việc thi hành án.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh phát biểu:
V t tng: T khi th lý cho đến khi Ngh án, thm phán, Thư và HĐXX
thc hin đầy đủ các trình t, th tc t tng đảm bo quy định ca BLTTDS.
V vic chp hành pháp lut ca người tham gia t tng: Đã thc hin đúng
các quyền, nghĩa v được quy định ti Điu 70, 71, 72, 73 BLTTDS.
V ni dung: Đề ngh HĐXX áp dụng khon 2 Điu 308 B lut t tng dân
s, xử: Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị Liên H; Chp nhận một
phần kháng cáo ca ông Vũ Văn H1, sửa một phần bn án sơ thẩm số 66/2025/DS-
ST ngày 26/9/2025 ca Tòa án nhân dân khu vực 5-Bắc Ninh.
Án phí DSPT: Bà H, ông H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
9
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ông Văn H1, Nguyễn Thị Liên H kháng cáo trong thời hạn luật
định nên xác định kháng cáo là hợp lệ.
[1.2] Về xác định người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Phạm Thị
T: Sau khi xét xử thẩm, ngày 29/9/2025 Phạm Thị T chết. T bố đẻ
ông Phạm Văn N1 (đã chết năm 1984), mẹ đẻ Phạm Thị K (chết năm 1994).
T kết hôn với ông Văn H1, sinh năm 1948 và có 03 người con đẻ Thị
Quỳnh M, sinh năm 1974; Mạnh Q, sinh năm 1976; Công U, sinh năm
1980. Do đó, xác định hàng thừa kế thứ nhất của T gồm: Ông Văn H1, sinh
năm 1948; Bà Thị Quỳnh M, sinh năm 1974; Ông Vũ Mạnh Q, sinh năm 1976;
Ông Vũ Công U, sinh năm 1980.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, người kế thừa quyền nghĩa vụ
tố tụng của bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ
nhiều lần nhưng vắng mặt, một số người đơn xin xét xử vắng mặt, do đó, Tòa
án xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bản án sơ thẩm số 66/2025/DS-ST 26/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5
–Bắc Ninh đã nhận định hợp đồng ngày 05/8/2012 giữa bà T và bà H giao kết đã vi
phạm quy định về hình thức và về nội dung mà pháp luật quy định, vì vậy xác định
giao dịch dân sự hiệu theo quy định tại Điều 127, Điều 128 Bộ luật dân sự
năm 2005 “Giao dịch dân sự do vi phạm điều cấm của pháp luật” hậu quả của
giao dịch dân sự hiệu theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự 2005: “1. Giao
dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ
thời điểm xác lập; 2. Khi giao dịch dân sự hiệu, thì các bên khôi phục lại tình
trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng
hiện vật, thì phải hoàn trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”. Bản
án thẩm đã tuyên: “Buộc H phải trả lại diện tích 3698,2 m
2
đất trồng cây lâu
năm và tài sản trên đất tại TDP T, phường Q, tỉnh Bắc Ninh cho bà Nguyễn Thị T1
quản theo hợp đồng giao khoán số 466/HĐK ngày 12/4/1998”. Các bên đương
sự đều không kháng cáo về nội dung này.
[2.1] Nguyễn Thị Liên H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa
một phần bản án dân sự sơ thẩm theo hướng buộc Phạm Thị T trả lại cho
Nguyễn Thị Liên H 900.000.000 đồng; buộc Phạm Thị T trả lại ông Phan Khắc
S 240.000.000 đồng, HĐXX nhận thấy:
10
[2.1.1] V s tin 900.000.000 đồng bà H cho rng đã thanh toán trả cho bà
T, HĐXX thấy: Tại Giấy chuyển nhượng đất vườn vải ngày 05/8/2012 giữa
Phạm Thị T bà Nguyễn Thị Liên H chỉ thể hiện T chuyển nhượng cho bà H:
“ Gần 4.500m2 đất vườn vải Lục N2, Bắc Giang gồm có lối đi chung, ao và 1 ngôi
nhà (giáp nhà anh T2 ông N3). Số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu
đồng). Hai bên thanh toán 1 lần”. Không có nội dung L1 đã thanh toán 1 lần cho
T như bà L1 trình bày. Bà L1 cung cấp cho Tòa án một số giy vay tin, tr tin
gia bà H vi bà Trần Thị D2 và bà Phạm Thị P, một số bản trình bày của ông
Nguyễn Hoàng Đ, bà Đỗ Kim L1, bà Lê Thị T3, ông Phan Khắc S tuy nhiên các tài
liệu chứng cứ này không thể hiện việc H đã giao số tiền 900.000.000 đồng cho
T. Hơn na, quá trình Tòa án cấp thẩm làm vic vi bà P thì P xác định
không biết bà T và vic bà T và bà H mua bán đất như thế nào bà P không liên
quan. Bà Trần Thị D2 đã chết năm 2013. Tại cấp phúc thẩm P thay đổi lời khai
là không khách quan.
vậy không căn cứ xác định có vic giao nhn tin gia bà H và bà T.
Nên HĐXX sơ thẩm không chấp nhận yêu cu ca bà H buc bà T phi tr bà H s
tin 900.000.000 đồng là có căn c.
[2.1.2] Về số tiền 240.000.000 đồng Nguyễn Thị Liên H đề nghị Tòa án
buộc bà Phạm Thị T trả cho ông Phan Khắc S, HĐXX xét thấy:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án thì xác định việc
ông S được H thuê chăm sóc vườn. Tuy nhiên, đây là giao dịch dân sự giữa
H ông S giao dịch giữa cá nhân bà H ông S không liên quan đến bà T. Tòa
án cấp thẩm đã xác minh tại địa phương giá công lao động phổ thông thời điểm
từ năm 2012 đến 2022 từ 100.000 đồng đến 150.000 đồng/1 ngày. vậy việc
H thỏa thuận thuê ông S và chăm sóc vườn với giá thỏa thuận 2.000.000
đồng/ tháng là có căn cứ chấp nhận.
Đối với Giấy ủy quyền giữa bà H với ông S nội dung thể hiện số tiền bà H
thuê ông S 5.000.000 đồng/ tháng kể từ tháng 01/2018 đến hết năm 2022, quá
trình giải quyết vụ án, H thừa nhận Giấy ủy quyền này được xác lập khi Tòa án
thụ vụ án, được tạo dựng đnâng mức tiền T phải bồi thường trong tờng
hợp Hợp đồng hiệu nên không căn cứ chấp nhận. Tòa án cấp thẩm chấp
nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Phan Khắc S, buộc Nguyễn Thị Liên H
phải trả ông Phan Khắc S số tiền 248.000.000 đồng căn cứ, đúng quy định
của pháp luật. Bà Nguyễn Thị Liên H cho rằng bà T được hưởng lợi từ việc bà thuê
ông S trông đồi vải yêu cầu T trả cho ông S 240.000.000 đồng không
căn cứ chấp nhận.
[2.2] Ông Văn H1 người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của
Phạm Thị T đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án dân sự thẩm
11
theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của Phạm Thị T, buộc Nguyễn Thị
Liên H ông Phan Khắc S phải liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 950.000.000
đồng và buộc vợ chồng anh H7, chị L phải di chuyển 300 cây ổi ra khỏi đất của gia
đình bà.
[2.2.1] Đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Liên H và ông Phan Khắc S phải
liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 950.000.000 đồng, HĐXX xét thấy:
- Đối với yêu cầu thiệt hi do thu nhp b mt là 600.000.000 đồng trong thi
gian 12 năm tính t năm 2013 cho đến năm 2024 do không được thu hoch Vi,
bưởi, nhãn, xoài mi năm thu nhp trung bình khong 50.000.000 đồng (đã tr các
chi phí), HĐXX thy: Tòa án cấp thẩm đã tiến hành xác minh vi UBND
phường P v thu nhp bình quân hàng năm ca vườn cây ăn qu vi din tích như
vườn bà Thu N4 giao khoán thì không xác định được mc thu hoa li bình quân
trên mt năm bi các nguyên nhân như: Giá bán hoa qu mi năm khác nhau,
năm mt mùa không ra qu, tùy thuc và cht lượng, mu mã hoa qu, k thut
canh tác ca người chăm sóc cây ăn quả. Do đó, nội dung kháng cáo này của ông
Vũ Văn H1 là không có căn cứ.
- Đối với yêu cầu bồi thường thit hi do hoa màu b cht phá là 85.000.000
đồng trong đó 08 cây vải (24.000.000 đồng); 12 cây bưởi (36.000.000 đồng); 20
cây Xoài hơn 20 năm tui (20.000.000 đồng); 09 cây Sung (4.500.000 đồng): Căn
cứ lời khai của Phạm Thị T trong hồ vụ án thhiện giữa T H
không có vic bàn giao đất, bàn giao tài sn. Quá trình gii quyết v án và ti phiên
tòa phúc thẩm, phía bà T không đưa ra được căn c v vic ti thi đim bà H qun
lý, s dng din tích đất giao khoán cho bà T thì trên đất có bao nhiêu cây c lâm
lc và s lượng tng loi cây, thời điểm nào H, ông S chặt phá cây cối định
giá tại thởi điểm bchặt của nhưng cây cối đó. Do đó, nội dung kháng cáo y ca
ông Vũ Văn H1 không có căn c chp nhn.
- Đối với yêu cầu bi thường giá tr ngôi nhà 01 tng xây xi măng, mái ngói,
ca g, nhà v sinh t hoi khép kín xây năm 2006, din tích xây dng là khong
65m2 theo biên bn định giá ngày 27/06/2023 ca TAND huyn Lc Ngn, tnh
Bc Giang không còn s dng được. Giá tr ngôi nhà khong 300.000.000 đồng.
HĐXX thấy: Ngôi nhà được bà T xây dựng năm 2006. T không xuất trình được
các tài liu, chng c để chng minh cho vic bà T xây dng ngôi nhà trên vi chi
phí là bao nhiêu giá trị ngôi nhà tại thời điểm T và H lập giấy chuyển
nhượng. Đối vi tài sn là nhà ca khi Hi đồng định giá tài sn s xem xét đến
khu hao giá tr tài sn tính t thi đim xây dng đến ti thi đim định giá để
định giá nên việc Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu bồi thường này
của T căn cứ. Do đó, nội dung kháng cáo này ca ông Văn H1 không
có căn c chp nhn.
12
[2.2.2] Đối với yêu cầu buộc vợ chồng anh H7, chị L phải di chuyển 300 cây
ổi ra khỏi đất của gia đình T: Bản án thẩm đã nhận định hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng diện tích đất 0,4ha tại thôn T, Q, huyện L, tỉnh Bắc
Giang (nay TDP T, phường P, tỉnh Bắc Ninh) ngày 05/08/2012 giữa Nguyễn
Thị Thu H8 bà Phạm Thị T hiệu và quyết định buộc bà H8 phải trả lại diện
tích 3698,2 m2 đất trồng cây lâu nămtài sản trên đất tại TDP T, phường Q, tỉnh
Bắc Ninh cho bà Phạm Thị T quản lý theo hợp đồng giao khoán số 466/HĐK ngày
12/4/1998. Các đương sự đều không kháng cáo nội dung này. Do đó, cần xác định
diện tích 3698,2 m2 đất trồng cây lâu năm tại TDP T, phường Q, tỉnh Bắc Ninh
thuộc quyền quản của Phạm Thị T. Theo Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ
định giá tài sản ngày 27/6/2023 ngày 26/05/2025 thì hiện nay trên diện tích
đất này đang 300 cây ổi do anh H7, chị L trồng 2023 không sự đồng ý
của bà T. Nay ông Vũ Văn H1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T
không đồng ý cho anh H7, chị L trồng cây trên diện tích đất của gia đình ông
yêu cầu vợ chồng anh H7, chị L phải di chuyển 300 cây ổi ra khỏi đất của gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, phía anh H7, chị L cam kết tự nguyện di dời số 300 cây
ổi không yêu cầu bồi thường đối với số cây này. Do đó, nội dung kháng cáo
này của ông H1 là có căn cứ chấp nhận.
Từ những đánh giá trên, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
Nguyễn Thị Liên H chấp nhận một phần kháng cáo của ông Văn H1
người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, sửa bản án dân sự thẩm số
66/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.
[3] Về án phí:
Về án phí phúc thẩm: Do sửa án thẩm nên bà Nguyễn Thị Liên H, ông
Văn H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của Nguyễn Thị Liên H, chấp nhận một phần kháng cáo của ông
Văn H1; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.
Căn cứ vào các Điều 121, 122, 127, 128, 136, 137, khoản 3 Điều 219; Điều
450; Điều 689, Điều 693, Điều 697 Bộ luật dân sự năm 2005
Căn cứ Điều 357, Điều 562, Điều 566 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 106; điểm b, khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003.
13
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 147;
Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Liên H về yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/8/2012.
Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng ngày 05/8/2012 về việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất 0,4ha, đất trồng cây lâu năm (kết quả đo thực tế
3698,2m
2
) tại thôn T, Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay TDP T, phường P,
tỉnh Bắc Ninh) giữa bà Nguyễn Thị Liên H và bà Phạm Thị T là vô hiệu.
2. Giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu:
Buộc H phải trả lại diện tích 3698,2 m
2
đất trồng cây lâu năm tài sản
trên đất tại TDP T, phường Q, tỉnh Bắc Ninh cho Nguyễn Thị T1 quản theo
hợp đồng giao khoán số 466/HĐK ngày 12/4/1998.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị T1 về yêu cầu
tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng ngày 05/8/2012 về việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất 0,4ha, đất trồng cây lâu năm (kết quả đo thực tế
3698,2m
2
) tại thôn T, Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giữa Nguyễn Thị Liên H
và bà Phạm Thị T là vô hiệu.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thu B Nguyễn
Thị Liên H ông Phan Khắc S phải liên đới bồi thường thiệt hại số tiền
950.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi triệu đồng).
5. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Phan Khắc S.
Buộc Nguyễn Thị Liên H phải trả ông Phan Khắc S số tiền 248.000.000
đồng.
6. Buộc anh Nguyễn Khắc H2, chị Trần Mỹ L phải di dời 300 cây ổi ra khỏi
diện tích 3698,2 m
2
đất trồng cây lâu năm tại TDP T, phường Q, tỉnh Bắc Ninh
được giao cho Nguyễn Thị T1 quản theo hợp đồng giao khoán s466/HĐK
ngày 12/4/1998.
Kể từ khi bản án hiệu lực pháp luật, đến thời hạn thanh toán, người được
thi hành án đơn yêu cầu thi hành án người phải thi hành án không thi hành
án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tiền trên số
tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
14
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Liên H, ông Vũ Văn H1.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 5-Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS
Nguyễn Ngọc Chung
Tải về
Bản án số 136/2026/DS-PT Bản án số 136/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 136/2026/DS-PT Bản án số 136/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất