Bản án số 351/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 351/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 351/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 351/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông M yêu cầu khởi kiện như sau
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 351/2026/DS-PT
Ngày: 21-4-2026
V/v “Tranh chấp QSD đất, lối
đi qua bất động sản liền kề, hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất
và bồi thường thiệt hại về tài
sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm
Ông Võ Thanh Bình
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 02/02/2026, ngày 02/3/2026 ngày 21/4/2026 tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý
số: 714/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp QSD
đất, lối đi qua bất động sản liền kề, hợp đồng chuyển nhượng QSD đất bồi
thường thiệt hại về tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay Tòa án nhân dân
Khu vực M - Đồng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xphúc thẩm số: 02/2026/QĐ-PT ngày
05 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn N 1948 (có mặt);
Địa chỉ: Số A, ấp D, H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay xã P, tỉnh
Đồng Tháp).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 (có mặt);
Địa chỉ: Số B, ấp D, H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay xã P, tỉnh
Đồng Tháp).
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Phước
T, sinh năm 1977 (theo ủy quyền ngày 19/08/2024, có mặt).
Địa chỉ: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay T, tỉnh
Đồng Tháp).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
Địa chỉ: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Đồng
Tháp (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Bà Trần Thị Ư, sinh năm 1976 (có mặt);
3.3. Anh Nguyễn L, sinh năm 1994 (vắng mặt, đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt);
3.4. Anh Nguyễn Vũ Luân E, sinh năm 1996 (có mặt ngày 02/3/2026, vắng
mặt ngày 21/4/2026);
3.5. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 2001 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Số nhà B, ấp D, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P,
tỉnh Đồng Tháp).
3.6. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985 (vắng mặt);
3.7. Bà Đoàn Thị Y, sinh năm 1961 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp D, H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay P, tỉnh
Đồng Tháp).
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn H người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Trần Thị Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn Luân E,
anh Nguyễn Văn V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Văn M trình bày: Nguồn gốc phần diện tích đất
tranh chấp 430,7m
2
thuộc một phần thửa 678, nay thửa 33 của gia đình ông
M được Tập đoàn cấp từ năm 1982. Gia đình ông M trồng tràm, đến khi Nhà
nước làm lộ ĐT 855 đã múc đất trồng tràm của ông M lên đắp lộ, nên phần đất
này trở thành ơng lộ. Tuy nhiên, gia đình ông M vẫn sử dụng đất để trồng
tràm và bắt cá tự nhiên hằng năm.
Khi nước chủ trương cho đăng chứng nhận quyền sử dụng (QSD)
đất, ông M làm thủ tục đăng thì ông H tranh chấp. Sau đó, ông M ông H
cùng thống nhất lập Tờ thỏa thuận 20/9/2022 với nội dung: Ông M ông H
3
cùng thống nhất hủy đồng chuyển nhượng QSD đất số 58 CN, ngày 30/9/2002
được chứng thực tại Ủy ban nhân dân (UBND) H ngày 04/10/2002 giữa ông
M ông H. Ông thống nhất giao cho ông H diện tích đất ngang 1,5m, dài 16m,
diện tích 24m
2
thuộc một phần thửa 678, tờ bản đồ số 3 (cặp bên đất ông Nguyễn
Văn T1) cho ông H làm đường đi. Ông H đồng ý giao lại cho ông M diện tích đất
còn lại thuộc một phần thửa 678, tờ bản đồ số 3 có diện tích là 455,5m
2
để ông M
đi đăng ký QSD đất, ông H không tranh chấp hoặc ngăn cản.
Tuy nhiên, khi quan thẩm quyền tiến hành đo đạc để cấp giấy chứng
nhận QSD đất cho ông M đối với phần diện tích đất 455,5m
2
thì ông H lại không
thống nhất giao trả cho ông M. Do đó, ông M yêu cầu khởi kiện như sau:
+ Yêu cầu công nhận Tờ thỏa thuận 20/9/2022 giữa ông M với ông Nguyễn
Văn H;
+ Yêu cầu công nhận diện tích đất 430,7m
2
thuộc một phần thửa 678, nay
là thửa 33 cho ông M để ông được quyền đi đăng ký QSD đất.
Ông M đồng ý giao cho ông H diện tích đất để làm lối đi ra lộ 855 với
chiều ngang 1,5m (vị trí giáp đất thửa 31 của ông Nguyễn Văn T1), chiều dài từ
đất thổ của ông H (thửa 677) ra đến l855, theo đồ địa chính chính quy đ
đo đạc thực tế của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T chiều ngang
1,5m x chiều dài 15,19m, diện tích 22,8m
2
, từ mốc 14-E-C-8-9-16-15-14-E thuộc
một phần thửa 678, tờ bản đồ số 3 nay thửa đất số 53, tbản đồ số 25, đất tọa
lạc tại H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ông H không phải trả tiền giá trị đất diện
tích lối đi này cho ông M.
Ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu phản tố và phản tố bổ sung của ông H,
yêu cầu Tòa án xác định thời hiệu để giải quyết đình chỉ yêu cầu phản tố bổ sung
của ông H.
Tại phiên a thẩm, ông đồng ý giá trị thửa đất số 587 giá
161.800.000 đồng; gthuê đất từ năm 2003 - 2024 63.000.000 đồng thay
đổi yêu cầu không yêu cầu Tòa án xác định thời hiệu để giải quyết đình chỉ yêu
cầu phản tố bổ sung của ông H về Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số 58,
ngày 04/10/2002.
Đối với đồ đo đạc đất của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện T
và giá Hội đồng định giá đưa ra thì ông M thống nhất, không yêu cầu định giá lại
hay yêu cầu cơ quan nào khác định giá lại phần giá trị đất.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H, đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn
Phước T trình bày: Vào ngày 20/9/2022 giữa ông H ông Văn M làm
thỏa thuận, sau đó ông H văn bản ý kiến về việc không thống nhất theo yêu
cầu của ông M về việc thực hiện theo thỏa thuận ông M cũng không thống
nhất theo Tờ thỏa thuận ngày 20/9/2022. Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp
4
hiện nay trước đây là do ông H mua của ông M; đất do ông H quản lý, sử dụng từ
năm 2002 đến nay được ông H sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở. Do
nước không chủ trương cấp chứng nhận QSD đất đối với phần diện tích đất
này, nên ông H không đi đăng ký bổ sung để được cấp giấy chứng nhận QSD đất.
Do đó, nay ông H có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của ông M như sau:
+ Hủy thỏa thuận ngày 20/9/2022 giữa ông Nguyễn Văn H với ông
Văn M.
+ Công nhận cho ông H phần đất tranh chấp hiện nay diện tích là
453,5m
2
(theo đo đạc thực tế) thuộc một phần thửa số 678, tờ bản đồ số 3, đất
trồng cây lâu năm, tọa lạc tại xã H theo đồ địa chính chính quy đđo đạc
thực tế của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T là thửa đất số 33, 53 tờ
bản đồ số 25, đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông H được đi
đăng ký cấp giấy chứng nhận QSD đất.
Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông M thì yêu cầu ông M
chừa cho ông H lối đi với chiều ngang 3m từ vị trí giáp thửa đất ông T1 qua thửa
đất số 678, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích là 48m
2
, theo đồ địa chính chính quy và
đồ đo đạc thực tế của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện T là thửa đất
số 53 và một phần thửa số 33, cùng tờ bản đồ số 25 theo các mốc E-C-8-9-11-12-
D-F trở về mốc E ông H đồng ý trả giá trị đất cho ông M theo giá trị
566.000 đồng/m
2
.
+ Buộc ông Lê Văn M làm thủ tục sang tên và giao cho ông H diện tích đất
1.618m
2
thuộc thửa 587, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa ông H đã nhận chuyển
nhượng của ông M từ năm 2002, đất toạ lạc tại H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Thửa đất này ông M đã lén bán cho bà Đoàn Thị Y, sinh năm 1961 và bà Y đã để
cho con gái chị Nguyễn Thị H1, sinh m 1985 làm thủ tục sang tên với ông
M, hiện nay đất này do chị Nguyễn Thị H1 đứng tên và quản lý, sử dụng.
Trong trường hợp ông Văn M không giao đất chuyển QSD đất cho
ông H đối với thửa đất số 587 thì yêu cầu ông M trả cho ông H giá trị đối với
thửa đất nêu trên với giá 161.800.000 đồng (theo giá trị định giá thực tế 100.000
đồng/m
2
) yêu cầu ông M bồi thường cho ông H do không sử dụng được thửa
587 từ 2003 đến 2024 là 21 năm với giá 3.000.000 đồng/năm là 63.000.000 đồng.
- quyền lợi, nghĩa vliên quan Trần Thị Ư, anh Nguyễn
Luân E, anh Nguyễn Văn V, người đại diện theo ủy quyền ông H trình
bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông H và không có ý kiến gì khác.
- quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn L đơn xin vắng
mặt và có văn bản trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông H và không
có ý kiến gì khác.
5
- quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đoàn Thị Y trình bày: Vào năm
2004 nhận chuyển nhượng thửa đất 587, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.618m
2
,
đất lúa, số tiền lâu quá không nhớ, nhận chuyển nhượng của ông M, bà đã trả tiền
đủ cho ông M đóng đầy đủ thuế cho nước. Khi nhận chuyển nhượng xong, bà
Y làm thủ tục sang tên cho con i chị Nguyễn Thị H1 đứng tên. Vụ việc
tranh chấp giữa ông M ông H thì Y không biết, đất đã nhận xong
đang trực tiếp canh tác nên không yêu cầu gì trong vụ án này.
- quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 trình y: Vào
năm 2004, mẹ chị H1 Đoàn Thị Y nhận chuyển nhượng thửa đất 587, tờ
bản đồ số 3, diện tích 1.618m
2
, đất lúa, số tiền lâu quá không nhớ, nhận chuyển
nhượng của ông M. Khi nhận chuyển nhượng xong đã làm thủ tục sang tên cho
chị H1 đứng tên. Vụ việc tranh chấp giữa ông M và ông H thì chị không biết, đất
chị đã nhận xong đang trực tiếp canh tác nên không yêu cầu trong ván
này.
- N quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T trình bày: Ngoài
những tài liệu, chứng cứ các văn bản ghi ý kiến đã cung cấp cho Tòa án, đến
nay UBND huyện không ý kiến khác, không cung cấp thêm và đề nghị Tòa
án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại Bản án n sự thẩm s40/2025/DS-ST ngày 28/6/2025 của Tòa
án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp nay là Tòa án nhân dân Khu
vực M - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn M. Không chấp nhận yêu
cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H về yêu cầu công nhận phần diện ch đất
tranh chấp diện tích 453,5m
2
thuộc một phần thửa 678 (nay là thửa 33 thửa 53
theo bản đồ chính quy), mục đích sử dụng đất: đất trồng cây lâu năm, đất chưa
được cấp giấy chứng nhận QSD đất, đất tọa lạc tại H, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp.
- Công nhận Tờ thỏa thuận giữa ông Văn M với ông Nguyễn Văn H
ngày 20/9/2022.
- Công nhận cho ông Văn M được quyền quản lý, sử dụng đất diện tích
đất theo đo đạc thực tế 430,7m
2
(trong đó có 303,5m
2
đất thuộc hành lang an toàn
giao thông), thuộc một phần thửa đất số 678, tbản đsố 3, đối chiếu sang bản
đồ địa chính chính quy là thửa đất số 33, tờ bản đồ số 25, mục đích sử dụng đất:
đất trồng cây lâu năm, đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, đất tọa lạc
tại H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp từ các mốc 14-15-16-11-4-5-6-F trở về mốc
14. Ông Lê Văn M được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký
cấp Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của pháp đai.
6
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Văn M giao cho ông Nguyễn Văn H
diện tích đất theo đo đạc thực tế 22,8m
2
(trong đó có 16m
2
đất thuộc hành lang an
toàn giao thông), thuộc một phần thửa đất số 678, tờ bản đồ số 3, đối chiếu sang
bản đồ địa chính chính quy là thửa đất số 53, tờ bản đồ số 25, mục đích sử dụng
đất: đất trồng cây lâu năm, đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, đất tọa
lạc tại H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp từ các mốc E-C-8-9-16-15-14 trở về mốc
E. Ông Nguyễn Văn H được quyền đến quan Nhà nước thẩm quyền để
đăng ký cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của pháp đai.
Kèm theo bản xem xét thẩm định tại chỗ và đồ đo đạc hiện trạng đất tranh
chấp của Chi nhánh V1 đất đai huyện T, ngày 12/7/2024.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H tiếp tục thực hiện hp
đồng chuyển nhượng sang tên QSD đất thửa 587, diện tích 1.618m
2
, loại đất lúa
do chị Nguyễn Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.
3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H về yêu cầu ông
Văn M trả giá trị đất thửa 587 với giá 161.800.000 đồng.
4. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H về yêu cầu ông
Văn M bồi thường thiệt hại do không sử dụng được đất thửa 587 với số tiền
63.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo,
quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 11/7/2025 bị đơn ông Nguyễn Văn H
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Ư, anh Nguyễn L, anh
Nguyễn Luân E, anh Nguyễn Văn V cùng đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn ông Văn M, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn
Văn H, Trần Thị Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn Luân E, anh Nguyễn
Văn V.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H, đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn
Phước T trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xchấp nhận kháng cáo của ông H.
Bởi lẽ, theo Hợp đồng chuyển nhượng số 58 ngày 04/10/2002 ông Văn M đã
thỏa thuận chuyển nhượng đất cho ông H đối với thửa 677 thửa 587 với giá
1.000.000 đồng, sau khi hợp đồng này ông H mới hợp đồng ngày
14/5/2004 đnhận chuyển nhượng thửa 677 từ ông M; ông M tự ý hợp đồng
chuyển nhượng thửa 587 cho Đoàn Thị Y để cho con Y chị Nguyễn
Thị H1 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất, do đó ông M trách nhiệm trả giá
trị đất thửa 587 lại cho ông H bồi thường thiệt hại cho ông H do không sử
7
dụng được đất; do ông H không biết chữ nên việc ông tên vào thỏa thuận
ngày 20/9/2022 đã không thể hiện được đúng ý chí của ông H; còn tràm trên đất
tranh chấp do ông H trồng thể hiện qua việc ông H thực tế sử dụng đất, việc
này ông H2 nguyên Chủ tịch UBND H biết thông qua việc UBND cấp
đất giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2006.
- quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Ư, anh Nguyễn Vũ Luân E,
anh Nguyễn Văn V trình bày: Thống nhất với trình bày của ông Nguyễn Phước T
đại diện theo y quyền của ông Nguyễn Văn H như nêu trên yêu cầu Hội
đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông H, bà Ư, anh L, anh Luân E và anh V.
- Nguyên đơn ông Văn M trình bày: Không thống nhất với kháng cáo
của bị đơn ông Nguyễn Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần
Thị Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn Luân E, anh Nguyễn Văn V, yêu cầu
Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H và người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn
Luân E, anh Nguyễn Văn V thc hiện đúng và hp l theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét x
Thư phiên tòa kt khi th lý v án đến thời điểm xét x phúc thẩm đã chấp
hành và thc hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người
tham gia tố tụng đã thc hiện đúng, đầy đủ quyền nghĩa v tố tụng theo quy
định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị
Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn Luân E, anh Nguyễn Văn V; giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
663/PB-VKS-DS ngày 21/4/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tụng: Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp nay
Tòa án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp thụ giải quyết thẩm vụ án
“Tranh chấp QSD đất, lối đi qua bất động sản liền kề, hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất bồi thường thiệt hại về tài sản” đúng quy định tại khoản 3, 6, 9
8
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng
dân sự về quan hệ tranh chấp thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x thẩm
bị đơn ông Nguyễn Văn H người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị
Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn Luân E, anh Nguyễn Văn V không thng
nhất bản án thẩm nên đã kháng cáo. Vic ông H, Ư, anh L, anh Luân E
anh V kháng cáo vào ngày 11/7/2025 là trong thi hn kháng cáo theo quy đnh
tại Điều 273 B lut T tng dân sự, nên được xem xét gii quyết theo th tc
phúc thm.
Ti phiên tòa phúc thm anh Nguyễn L vắng mặt văn bản yêu cầu
xét xử vắng mặt, còn đại diện hợp pháp của UBND xã P, tỉnh Đồng Tháp, chị
Nguyễn Thị H1 bà Đoàn Thị Y vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét x tiến hành xét x vng mặt theo quy định ti
Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V nội dung: Đất tranh chấp diện tích theo đo đạc thực tế 430,7m
2
(trong đó 303,5m
2
đất thuộc hành lang an toàn giao thông), thuộc một phần
thửa đất số 678, tờ bản đồ số 3, đối chiếu sang bản đồ địa chính chính quy là thửa
đất số 33, tờ bản đồ số 25, mục đích sử dụng đất: đất trồng cây lâu năm, đất chưa
được cấp giấy chứng nhận QSD đất, đất tọa lạc tại H, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp, nay P, tỉnh Đồng Tháp (viết tắt đất tranh chấp thửa 33) nguồn
gốc là của ông Văn M. Nguyên đơn ông Văn M khởi kiện yêu cầu Tòa án
công nhận Tờ thỏa thuận 20/9/2022 giữa ông M với bị đơn ông Nguyễn Văn H
yêu cầu công nhận diện tích đất 430,7m
2
thuộc một phần thửa 678, nay là thửa 33
cho ông M để ông được quyền đi đăng QSD đất. Bị đơn ông Nguyễn Văn H
không thống nhất khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa
án hủy thỏa thuận ngày 20/9/2022; công nhận cho ông H QSD đất tranh chấp
diện tích đo thực tế là 453,5m
2
thuộc một phần thửa 678 theo đồ địa chính chính
quy các thửa 33, 53 để ông H được đăng cấp giấy chứng nhận QSD đất;
buộc ông M làm thtục sang tên giao cho ông H diện tích đất 1.618m
2
thuộc
thửa 587, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa ông H đã nhận chuyển nhượng của ông
M từ năm 2002, do thửa đất này ông M đã lén chuyển nhượng cho bà Đoàn Thị Y
Y đã để cho con gái chị Nguyễn Thị H1 đứng tên giấy chứng nhận QSD
đất; trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì yêu cầu ông
M chừa lối đi ngang 3m, dài 16m, diện tích 48m
2
, yêu cầu trả giá trị đất thửa 587
với số tiền 161.800.000 đồng yêu cầu bồi thường thiệt hại do không sử dụng
được đất thửa 587 với số tiền 63.000.000 đồng. Điều này làm phát sinh tranh
chấp giữa các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Trần Thị Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn Luân E,
anh Nguyễn Văn V yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo
9
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn M, chấp
nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn H, Trần Thị Ư, anh Nguyễn Vũ L,
anh Nguyễn Vũ Luân E, anh Nguyễn Văn V. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
- Năm 2002 ông Văn M thỏa thuận chuyển nhượng đất cho ông H theo
Hợp đồng chuyển nhượng số 58 ngày 04/10/2002 đối với thửa 677, diện tích
1.300m
2
, loại đất thổ (viết tắt là thửa 677) và thửa 587, diện tích 1.618m
2
, loại đất
trồng lúa (viết tắt thửa 587), với giá 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, Hợp đồng
chuyển nhượng này không được các bên thực hiện trên thực tế, cụ thể ông H
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã giao tiền cho ông M,
đồng thời ông M cũng không giao đất cho ông H quản lý, sử dụng, ngoài ra các
bên cũng không thực hiện các thủ tục chuyển QSD đất đối với thửa 677 thửa
587 theo quy định của pháp luật. Mặt khác, năm 2021 ông M khởi kiện ông H
đến Tòa án huyện T để yêu cầu giải quyết tranh chấp đất, trong quá trình Tòa án
giải quyết vụ án thì giữa ông H ông M thỏa thuận, theo đó ông H đồng ý hủy
đồng chuyển nhượng số 58 ngày 04/10/2002 đồng ý giao cho ông M phần đất
tranh chấp có diện tích 455,5m
2
để ông M đi đăng ký QSD đất, còn ông M đồng ý
giao cho ông H phần đất lối đi ra lộ diện tích 24m
2
và các bên đã thống nhất
tên vào thỏa thuận ngày 20/9/2022. vậy, Tòa án thẩm xác định Hợp
đồng chuyển nhượng số 58 ngày 04/10/2002 vô hiệu là có căn cứ.
- Xét việc bị đơn ông Nguyễn Văn H cho rằng năm 2002 ông M đã chuyển
nhượng thửa 677 thửa 587 cho ông H theo Hợp đồng chuyển nhượng số 58
ngày 04/10/2002, ông H đã giao tiền cho ông M xong, ông M đã giao đất cho ông
H quản lý, sử dụng từ năm 2002. Sau đó, ông M thỏa thuận yêu cầu ông H đổi
thửa đất số 587 để giao cho ông H đất tranh chấp thửa 678. Tuy nhiên, tại phiên
tòa phúc thẩm ông H cho rằng không việc thỏa thuận đổi đất nêu trên, mặt
khác việc đổi đất cũng không được ông M thừa nhận. Nguyên đơn đã cung cấp
được tài liệu, chứng cứ chứng minh đến năm 2004 giữa ông M ông H tiếp tục
thỏa thuận chuyển nhượng QSD đất thửa 677 bằng đồng chuyển nhượng QSD
đất ngày 14/5/2004, với giá 10.000.000đ, các bên đã làm thủ tục chuyển nhượng
QSD đất theo quy định pháp luật ông H đã được cấp chứng nhận QSD đất
thửa đất số 677 xong. Ngoài ra, đối với thửa đất số 587 t trước đó ngày
13/4/2004 ông M đã ký hợp đồng chuyển nhượng cho chNguyễn Thị H1 (con bà
Đoàn Thị Y) đứng tên giấy chứng nhận QSD đất đã giao đất cho Y chị
H1 xong, phía ông H cũng không tranh chấp hay khiếu nại gì. Như vậy, có căn cứ
chứng minh đồng chuyển nhượng số 58 ngày 04/10/2002 đã không được các bên
thực hiện đã được thay thế bằng đồng chuyển nhượng số 161 ngày 14/5/2004
giữa ông H và ông M như nêu trên.
- Theo C văn số 3385/UBND-NC ngày 23/9/2024, C văn số 3659/UBND-
10
NC ngày 25/10/2024 của UBND huyện T C văn số 304/UBND-KT ngày
27/3/2026 của UBND xã P, tỉnh Đồng Tháp cung cấp thông tin cho Tòa án thể
hiện: Theo Quyết định thu hồi đất số 2671/QĐ-UBND-NĐ ngày 29/12/2023
định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư số 93/QĐ-UBND-NĐ ngày 08/01/2024 của
UBND huyện T về thu hồi bồi thường cho ông Văn M trên diện tích đt
24,9m
2
, hiện ông M đã nhận tiền bồi thường xong; còn ông H theo Quyết định
thu hồi đất số 2670/QĐ-UBND-ngày 29/12/2023 và định bồi thường, hỗ trợ
tái định số 92/QĐ-UBND-ngày 08/01/2024 của UBND huyện T thì
Nhà nước có thu hồi và bồi thường cho ông H trên diện tích đất 1,22m
2
, ông H đã
nhận tiền bồi thường xong; đối với đất tranh chấp diện tích 453,5m
2
thuộc thửa
678 nay thuộc thửa 33, 53 không phải đất công do Nhà nước quản lý, đủ điều
kiện để cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của Luật đai. t thấy,
trong quá trình Nhà nước thu hồi, bồi thường đất chi trả tiền bồi thường thì
ông H không khiếu nại hay tranh chấp gì, chứng tỏ ông H đã thừa nhận đất
tranh chấp thửa 678 (nay là thửa 33) của ông M, việc này ông M cũng thừa
nhận đối với phần diện tích đất lối đi 22,8m
2
thuộc thửa 53 của ông H. Ngoài
ra, theo B bản hòa giải ngày 21/6/2023 của UBND xã H thì ông H trình bày: “Tôi
thống nhất với phần diện tích ông Văn M để lại cho tôi chiều ngang
1,5m, chiều dài 16m (tính từ tim lộ ĐT 855 vào) phần diện tích còn lại tôi sẽ giao
lại cho ông Văn M đi đăng chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
của luật”. Như vậy, đủ căn cứ xác định đất tranh chấp thửa 33 ông H xác
nhận là của ông M và thửa 53 (lối đi) ông M xác nhận là của ông H.
- Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn H buộc ông Văn M trách
nhiệm sang tên thửa đất số 587 cho ông H, trường hợp không thể sang tên được
thì ông H yêu cầu ông M trả giá trị đất 161.800.000 đồng và buộc ông M có trách
nhiệm bồi thường do ông H không sử dụng được thửa đất 587 từ năm 2003 đến
năm 2024 là 21 năm với số tiền bị thiệt hại là 63.000.000đ. Xét thấy, như đã phân
tích trên hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số 58 ngày 04/10/2002 không
hiệu lực pháp luật, đã bị sửa đổi, thay thế bằng hợp đồng chuyển nhượng số 161
ngày 14/5/2004 giữa ông H ông M. Mặt khác, thửa đất số 587 ông M đã làm
thủ tục chuyển QSD đất cho chị Nguyễn Thị H1 đứng tên đúng quy định của
pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của ông H là
có căn cứ.
Từ phân tích trên, xét thấy quyết định của bản án thẩm sở
phù hợp pháp luật.
[4] Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn H người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Trần Thị Ư, anh Nguyễn Vũ Luân E, anh Nguyễn Văn V vẫn giữ
yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của ông T đại diện cho
11
ông H trình bày của Ư, anh Luân E, anh V không đủ căn cứ, đồng thời
các đương sự cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu kháng cáo của mình sở như đã phân tích trên, nên không được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[5] T s trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
ca ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị Ư, anh Nguyễn Vũ L, anh Nguyễn Vũ Luân
E, anh Nguyễn Văn V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy có sở và phù hp pháp lut, nên
được chấp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của ông Nguyễn Văn H người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn Luân
E, anh Nguyễn Văn V không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
Các phn khác ca bn án thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn
Luân E, anh Nguyễn Văn V;
2. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 28 tháng 6
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Ông Nguyễn Văn H, Trần Thị Ư, anh Nguyễn L, anh Nguyễn
Luân E, anh Nguyễn Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm,
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông H, Ư, anh L, anh Luân E và anh V
đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000247, ngày 15/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
12
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tnh Đng Tháp;
- TAND Khu vc M - Đồng Tháp;
- THADS tnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc M - Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Tải về
Bản án số 351/2026/DS-PT Bản án số 351/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 351/2026/DS-PT Bản án số 351/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất