Bản án số 507/2026/DS-PT ngày 10/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 507/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 507/2026/DS-PT ngày 10/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 507/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Trường T1, Lê Thị Hồng T "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất" Nguyễn Thị Thu T2
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 507/2026/DS-PT
Ngày: 10-4-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Phạm Thị Thanh Giang
bà Phạm Thị Hồng Vân
- Thư phiên tòa: Hữu Thái Dương Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 02
năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 124/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2026/QĐ-PT ngày 24 tháng 02
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1982;
2. Ông Lê Trường T1, sinh năm 1981.
Bà T và ông T1 cùng địa chỉ: 3 ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện y quyền của T, ông T1: ông Bùi Quang N, sinh năm
1956; địa chỉ: số D, Tổ B, Ấp D, C, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản y quyền
ngày 17/10/2024).
- Bị đơn: Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1969; địa chỉ: F C/x P, phường
P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền của T2: ông Trần Thanh T3, sinh năm 1974;
địa chỉ: P Tầng E, G Â, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy
quyền ngày 21/9/2023).
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Văn phòng C; địa chỉ: ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Xuân Q (Trưởng Văn phòng)
2. Ông Điêu Thanh S, sinh năm 1986;
3. Bà Lê Thị L, sinh năm 1985.
Ông S và bà L cùng địa chỉ: ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh.
4. Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1961; địa chỉ: 4 ấp C, T, tỉnh Tây
Ninh.
5. Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Tây
Ninh.
- Người kháng cáo: nguyên đơn, Thị Hồng T bị đơn, bà Nguyễn
Thị Thu T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các đơn khởi kiện ghi ngày 02/5/2023, ngày 22/6/2023 trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, nguyên đơn Thị Hồng T ông
Trường T1 do ông Bùi Quang N đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 22/7/2022, T ông T1 vay của bà Nguyễn Thị Thu T2 số tiền
1.500.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng, lãi suất 4%/tháng. Hai bên không
giấy vay hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất số 527 tờ bản đồ
số 1, tọa lạc khu phố A, thị trấn T, huyện T để làm tin. Hợp đồng được Văn
phòng C, quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/7/2022 (sau đây viết tắt
Hợp đồng số 4869). Đến ngày 21/9/2022, ông T1 T vay thêm 500.000.000
đồng, giấy vay ghi số tiền nợ tổng cộng 02 tỷ đồng. Trên đất nhà
gia đình T đang ở, nhưng vào ngày 14/4/2023 T2 đã chiếm dụng nhà đất
và cho người khác thuê ở.
Nay, bà T và ông T1 khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng số 4869, vì
bà T và ông T1 vay tiền chứ không có bán đất.
Do bà T2 không hợp tác, vắng mặt nhiều lần nên bà T và ông T2 không yêu
cầu đo đạc, định giá nữa, đề nghị Tòa án căn cứ theo trích lục bản đồ địa chính
để giải quyết vụ án. Bà T và ông T1 đồng ý trả cho bà T2 số tiền vay 02 tỷ đồng,
không đồng ý trả lãi vì T2 đã chiếm dụng nhà đất, giá trị nhà đất bị thất thoát.
Tại phiên tòa thẩm, đại diện của bà T ông T1 đồng ý bồi thường 01
phần lãi từ ngày 22/7/2022 đến ngày 14/4/2023 ngày T2 xảy ra xát
chiếm dụng nhà của bà T và ông T1 với mức lãi suất như bà T2 yêu cầu.
Theo đơn phản tố ghi ngày 12/8/2025, bị đơn Nguyễn Thị Thu T2 do
ông Trần Thanh T3 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 27/4/2022, vợ chồng bà T, ông T1 vay của bà T2 số tiền 500.000.000
3
đồng, thời hạn vay là 01 tháng, lãi suất 2%. Đến hạn, T không tiền trả nên
bà T đề nghị chuyển nhượng thửa đất số 527 với giá là 02 tỷ đồng.
Ngày 22/7/2022, hai bên ra Phòng công chứng hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa 527, bà T2 đưa tiếp số tiền 1.500.000.000 đồng.
Tổng cộng giá mua thực tế là 02 tỷ đồng nhưng giá hợp đồng ghi là 800.000.000
đồng. T bàn giao nhà đất cho T2 vào ngày 20/6/2023. T2 đã cho ông
Điêu Thanh S Lê Thị L thuê từ lúc đó, nhưng sau này mới hợp đồng
thuê.
T2 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà T, ông T1 có đơn phản tố
yêu cầu công nhận Hợp đồng số 4869. Trường hợp Hợp đồng số 4869 hiệu
thì yêu cầu T ông T1 liên đới trả cho bà T2 số tiền 02 tỷ đồng tiền lãi
tính từ ngày 22/7/2022 với mức lãi suất 10%/ năm. Tại phiên tòa thẩm, đại
diện T2 đồng ý hiệu Hợp đồng số 4869 đồng ý giảm ngày tính lãi, cụ
thể: số tiền 1.500.000.000 đồng tính lãi từ ngày 22/7/2022, số tiền 500.000.000
đồng tính lãi từ ngày 21/9/2022, tổng cộng tiền lãi 625.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Văn phòng C do ông Nguyễn Xuân Q là người đại diện theo pháp luật trình
bày: Văn phòng C thực hiện việc công chứng Hợp đồng số 4869 đúng trình tự,
thủ tục theo quy định pháp luật.
Ông Điêu Thanh S Thị L: đã được Tòa án cấp thẩm triệu tập
hợp lệ nhưng vắng mặt và không có ý kiến gửi cho Tòa án.
Ông Văn Đ trình bày: ông cha chồng của T. Vào ngày 20/6/2023,
L1 đại diện T2 vào nhà của T chiếm dụng luôn từ đó, L1 đem
vật dụng trong nhà T ra brào bỏ, ông qua biên bản vviệc di dời tài
sản ngày 20/6/2023, nhưng ông chỉ nhận lại đồ thờ, máy bơm nước chứ không
nhận đủ vật dụng như trong biên bản đã ghi. Ông không tranh chấp hay ý
kiến gì trong vụ án này.
Nguyễn Ngọc L1 trình bày: chứng kiến việc bà T2 giao tiền cho
T vào ngày 22/4/2022, T2 đưa 500.000.000 đồng để đưa T, ông T1
vay. T nói 01 tháng trả. Việc giao tiền tại nhà của bà. Sau đó T
không tiền trả nên ngỏ ý muốn bán nhà đất thửa 527. Đến ngày
22/7/2022, T2, ông T1 T ra Văn phòng công chứng hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 527, giá 02 tỷ đồng. Sau đó về
nhà của bà, T2 giao tiền trực tiếp cho T 1.500.000.000 đồng, tổng gtiền
mua bán nhà đất đã trừ tiền vay trước đó. tên mục người chứng kiến
trong giấy vay tiền 21/9/2022, giấy này do T đưa, thấy đủ số tiền 02 tỷ
đồng thì ký, không xem lại nội dung nghĩ mua bán, giao tiền giao giấy
xong rồi. Sau đó, T2 yêu cầu giao nhà nhưng T không giao. Đến ngày
20/6/2023, T đưa chìa khóa nhà cho vào lấy sử dụng do chị ruột
của T2. mướn người khiêng đồ trong nhà của bà T ra bờ rào bên ngoài
nhà rồi kêu ông Đ cha chồng của T đến lấy, biên bản. Hiện trên đất
nhà mộ chứ không còn tài sản nào khác. xin vắng mặt trong suốt q
4
trình tố tụng.
Tại Bản án dân sự thẩm số 124/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1-Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
“Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
95, các Điều 147, 205, 217, 227, 266, 267, 271 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
các Điều 131, 406, 408 500 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
1. Công nhận sự tnguyện của ông Trường T1 Thị Hồng T do
ông Bùi Quang N đại diện Nguyễn Thị Thu T2 do ông Trần Thanh T3 đại
diện.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/7/2022 giữa
ông Trường T1 Thị Hồng T với bà Nguyễn Thị Thu T2 do Văn
phòng C, quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 527 diện tích
985m
2
tbản đồ số 1, tọa lạc khu phố A, thị trấn T, tỉnh Long An (nay T,
tỉnh Tây Ninh) là vô hiệu.
Thị Hồng T ông Trường T1 tiếp tục được quyền sử dụng thửa
đất số 527 diện tích 985m
2
tờ bản đồ số 1, toạ lạc khu phố A, thị trấn T, tỉnh
Long An (nay T, tỉnh Tây Ninh) (Trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T ký duyệt ngày 24/02/2025).
Buộc Nguyễn Thị Thu T2 ông Điêu Thanh S cùng Thị L giao
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền trên thửa đất số 527 diện tích 985m
2
tờ
bản đồ số 1 (trên đất nhà mộ), tọa lạc khu phố A, thị trấn T, tỉnh Long An
(nay xã T, tỉnh Tây Ninh) cho bà Lê Thị Hồng T ông Trường T1. (Trích
lục bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện T
duyệt ngày 24/02/2025)
Kiến nghị thu hồi chỉnh biến động sang tên Nguyễn Thị Thu T2 ngày
29/12/2022 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tài
sản gắn liền với đất sBD 264089 đối với thửa đất số 527 diện tích 985m
2
tờ
bản đồ số 1, tọa lạc khu phố A, thị trấn T, tỉnh Long An (nay T, tỉnh Tây
Ninh) do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp cho ông Văn Đ ngày
20/12/2010.
2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị Thu T2 đối với
Lê Thị Hồng T và ông Lê Trường T1 về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Buộc Thị Hồng T ông Trường T1 trả cho Nguyễn Thị Thu T2 số
tiền 2.000.000.000 đồng tiền lãi 181.493.000 đồng, tổng cộng
2.181.493.000 đồng.
3. Không chấp nhận 01 phần yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị Thu T2
đối với số tiền lãi 443.507.000 đồng.
5
5. Về án phí: Nguyễn Thị Thu T2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí
21.740.000 đồng. Khấu trừ 36.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí T2 đã nộp
theo biên lai thu số 0003501 ngày 15/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh sang thi hành án phí. H lại bà T2 13.960.000 đồng.
Thị Hồng T ông Trường T1 phải chịu án phí 72.181.493
đồng. Khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí T ông T1 đã nộp theo
biên lai thu số 0004045 ngày 22/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Thủ Thừa tỉnh Long An sang thi hành án phí. Bà T và ông T1 còn phải nộp thêm
71.881.493 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên vnghĩa vkhai đăng lại quyền
sử dụng đất, chi ptố tụng, nghĩa vụ chịu lãi nếu chậm thi hành án, quyền
thời hạn kháng cáo của các đương sự, việc thi hành án theo quy định của pháp
luật.
Ngày 01 tháng 10 năm 2025, Nguyễn Thị Thu T2 kháng cáo yêu cầu vợ
chồng bà T, ông T1 phải trả thêm cho T2 tiền lãi.
Ngày 13 tháng 10 năm 2025, Lê Thị Hồng T và ông Trường T1
kháng cáo không đồng ý trả tiền lãi như án sơ thẩm đã xử.
Ngày 14 tháng 10 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực
1- Tây Ninh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-DS đối
với Bản án sơ thẩm số 124/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 1-Tây Ninh theo hướng sửa bản án sơ thẩm về tiền lãi.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Bùi Quang N trình bày: T, ông T1 rút yêu cầu kháng cáo, đồng ý
trả cho T2 số tiền lãi 181.493.000 đồng như bản án thẩm đã giải quyết;
không đồng ý trả thêm tiền lãi như T2 kháng cáo yêu cầu bà T2 đã chiếm
dụng toàn bộ tài sản của bà T và ông T1, cho người khác thuê lại nhà để thu lợi.
Ông Trần Thanh T3 trình bày: bà T2 đồng ý bản án thẩm đã hiệu
Hợp đồng số 4869 và buộc bà T, ông T1 trả cho bà T2 số tiền 02 tỷ đồng. T2
chỉ kháng cáo yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 10%/năm, kể từ ngày T, ông
T1 nhận tiền đến ngày xét xthẩm nhưng tính theo tháng, cụ thể: số tiền
1.500.000.000 đồng tính lãi từ ngày 22/7/2022 đến ngày 22/9/2025 38 tháng,
tiền lãi 475.000.000 đồng; số tiền 500.000.000 đồng tính lãi từ ngày
21/9/2022 đến ngày 21/9/2025 36 tháng, tiền lãi 150.000.000 đồng. T
ngày 01/01/2026 thì ông S, bà L đã không còn thuê nhà của bà T2 nữa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 1-Tây Ninh và kháng cáo của bà Lê Thị T, ông Lê Trường T1,
Nguyễn Thị Thu T2 đủ điu kiện để xem xét theo trình t phúc thm. Nguyên
đơn rút kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị đình chỉ xét xử đối với yêu
6
cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Về nội dung kháng cáo, kháng nghị: theo giấy vay tiền, đủ căn cứ xác định
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 527 giữa ông
Trường T1 Thị Hồng T với Nguyễn Thị Thu T2 do Văn phòng C
công chứng ngày 22/7/2022, hiệu do giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay,
theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Nguyên đơn trình bày
vay với lãi suất 4%/tháng, bị đơn yêu cầu xem xét tính lãi 10%/năm là có lợi cho
nguyên đơn. Khi giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu, Tòa án cấp thẩm
không buộc T, ông T1 phải trả lãi vay cho T2, là không đúng quy định tại
Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, đề nghị Hội
đồng xét xcăn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án
dân sự thẩm, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát kháng cáo của
T2, tính lãi với mức lãi suất 10%/năm đối với số tiền 1.500.000.000đ từ ngày
22/7/2022 đến ngày 22/9/2025, số tiền 500.000.00 t ngày 21/9/2022 đến
22/9/2025.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Tây
Ninh; kháng cáo nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271,
Điều 272, Điều 273, Điều 276, Điều 278, Điều 279, Điều 280 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Ông Bùi Quang N rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Lê Thị Hồng T,
ông Trường T1 về phần tiền lãi, chấp nhận nbản án sơ thẩm đã xử. Xét
việc rút kháng cáo của Thị Hồng T, ông Lê Trường T1 hoàn toàn tự
nguyện, không bị ai đe dọa, ép buộc. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 289 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo
nguyên đơn đã rút.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh giữ nguyên Quyết định
kháng nghị. Ông Trần Thanh T3 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của Nguyễn
Thị Thu T2. Các đương sự không tự thỏa thuận được vviệc giải quyết toàn bộ
vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[4] Về sự vắng mặt của đương sự: ông Trường T1 Nguyễn Thị
Thu T2 vắng mặt, nhưng có người đại diện theo ủy quyền có mặt; Văn phòng C,
Nguyễn Ngọc L1 vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; ông Lê Văn
Đ, ông Điêu Thanh S, bà Thị L vắng mặt, nhưng sự vắng mặt của các đương
sự này không ảnh hưởng đến việc giải quyết kháng o, kháng nghị. n cứ
khoản 1 Điều 294, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc
thẩm vụ án.
[5] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 1-Tây Ninh kháng nghị, bà Nguyễn Thị Thu T2 kháng cáo một phần bản án
thẩm về giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu xem xét yêu cầu tính lãi
đối với số tiền vay. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp
7
phúc thẩm xem xét lại phần của bản án thẩm kháng cáo, kháng nghị và
liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về việc áp dụng pháp luật về nội dung: các giao dịch đang tranh
chấp được xác lập năm 2022. Do đó, áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 các
văn bản hướng dẫn thi hành luật có liên quan để giải quyết vụ án.
[7] Nguyên đơn bị đơn đều thống nhất hiệu Hợp đồng số 4869, T
ông T1 trả lại số tiền 02 tỷ đồng cho bà T2. Tòa án cấp thẩm đã xét xử
chấp nhận các yêu cầu này của c bên đương sự; tuyên cho T ông T1
được quyền liên hệ quan thẩm quyền chỉnh lý biến động trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa 527, đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; khoản 1 Điều 121 khoản 2 Điều 131 của Bộ luật dân sự năm
2015. Các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị các
phần nội dung này của bản án sơ thẩm nên các phần này đã có hiệu lực pháp luật
kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của T2 về yêu cầu tính lãi
đối với số tiền T, ông T1 đã nhận khi giải quyết hậu quả của hợp đồng
hiệu:
[8] Về căn cứ hiệu Hợp đồng số 4869: Tòa án cấp thẩm nhận định
rằng, mặc ban đầu giữa các bên xác lập giao dịch vay tiền, nhưng khi bên
T, ông T1 không khả năng trả nợ nên đã hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho T2 để cấn trừ nợ vay, nên không căn cứ để xác định Hợp
đồng số 4869 thực chất hợp đồng vay. Tuy nhiên, do các bên không thỏa
thuận về tài sản trên đất nguyên đơn, bị đơn cũng đồng ý hiệu hợp
đồng, nên Tòa án cấp thẩm tuyên bố Hợp đồng số 4869 hiệu do đối
tượng không thể thực hiện được, theo Điều 408 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy rằng, đại diện nguyên đơn bị đơn đều
thừa nhận, số tiền 800.000.000 đồng ghi trên Hợp đồng số 4869 không phải
giá trị thực của hợp đồng, thực chất các bên đã giao dịch số tiền 02 tỷ đồng.
T2 và bà L1 đều cho rằng, do T không có khả năng trả nợ vay nên chuyển
nhượng đất để cấn trừ nợ, nhưng T2 và bà L1 lại trình bày mâu thuẫn về mốc
thời gian giao nhận các khoản tiền cho T; L1 còn ký tên trên giấy vay tiền
ghi ngày 21/9/2022 xác định bà Tông T1 vay của T2 tổng cộng số tiền 02
tỷ đồng. Hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 05/5/2023, Tòa án cấp thẩm đã nhận đơn
khởi kiện ghi ngày 02/5/2023 của T ông T1 về việc tranh chấp yêu cầu
hủy Hợp đồng số 4869 cho rằng ông, chỉ vay tiền của T2 (bút lục số
75). Vào các ngày 15/5/2023, ngày 28/5/2023 ngày 29/5/2023, T, ông T1
lần lượt gửi đơn đến Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh L (bút lục 139), Phòng Cảnh
sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh L (bút lục số 138) và Công an
huyện T (bút lục số 137) để tố cáo Nguyễn Thị Thu T2 hành vi hủy hoại
tài sản của T, ông T1. Như vậy, việc T2 cho rằng T ông T1 đã
chuyển nhượng quyền sử dụng đất để cấn trừ nợ tự nguyện giao nhà cho
T2, lập biên bản vviệc di dời tài sản trong nhà đgiao nhà đất vào ngày
20/6/2023 không hợp lý; hơn nữa, trong biên bản này, bà T ông T1 hoàn
8
toàn không tên. Từ những tình tiết này, đủ căn cứ để xác định Hợp đồng số
4869 vô hiệu do giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay.
[9] Theo quy định tại khoản 1 Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao
dịch dân sự bị che giấu hợp đồng vay hiệu lực pháp luật; nghĩa là, T và
ông T1 phải trả nợ gốc vay và nợ lãi cho bà T2 theo quy định tại Điều 466 của
Bộ luật Dân sự năm 2015. T ông T1 trình bày các bên thỏa thuận lãi
suất 4%/tháng, nhưng ông, bà xác định chưa trả lãi kỳ nào cho T2. Trong
đơn phản tố, T2 trình bày lãi suất các bên thỏa thuận 2%/tháng. Như vậy,
mặc các bên thỏa thuận vay lãi, nhưng không đủ căn cứ vững chắc để
xác định mức lãi suất các bên đã trình bày. Mặt khác, T2 yêu cầu nếu
hiệu Hợp đồng số 4869 thì T ông T1 phải trả lãi vay theo tháng, mức lãi
suất 10%/năm (= 0.83%/tháng), phù hợp với khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015. Tính từ thời điểm vay đến ngày xét xử thẩm (ngày
29/9/2025), T ông T1 nghĩa vụ trả cho T2 tổng cộng tiền lãi của 02
khoản vay là 625.000.000 đồng, gồm:
[9.1] Số tiền vay 1.500.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 22/7/2022
475.000.000đ (= 1.500.000.000đ x 0.83%/tháng x 38 tháng);
[9.2] Số tiền vay 500.000.000 đồng, tiền lãi tính t ngày 21/9/2022 là
150.000.000đ (= 500.000.000đ x 0.83%/tháng x 36 tháng).
[10] Đối với ý kiến của T ông T1 cho rằng việc T2 chiếm giữ nhà
của ông trái pháp luật, đã gây thiệt hại cho ông bà, nên không đồng ý trả tiền
lãi cho T2 khi Hợp đồng số 4869 hiệu, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy
rằng: Tòa án cấp thẩm căn cứ khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Dân snăm
2015 đbuộc T2 những người thuê nhà phải trả lại nhà, đất cho T và
ông T1 là đúng, nhưng không buộc bà T2 phải hoàn trả cho bà T số tiền hoa lợi,
lợi tức thu được từ việc cho thuê nhà, là giải quyết chưa đầy đủ về hậu quả pháp
của giao dịch dân sự hiệu, bởi lẽ, T2 không phải bên ngay tình khi
giao dịch vô hiệu. Đại diện của bà T2 thừa nhận, kể từ khi nhận nhà của bà T thì
đã cho ông Điêu Thanh S, bà Thị L thuê với g500.000 đồng mỗi tháng,
hợp đồng thuê nhà đến ngày 31/12/2025 (các bút lục số 174-176, 208, 228, 234).
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T3 xác định ông S, L đã chấm dứt thuê nhà kể
từ ngày 01/01/2026. Căn cứ khoản 2 Điều 109 và khoản 3 Điều 131 của Bộ luật
Dân sự năm 2015, bà T2 phải hoàn trả cho bà T và ông T1 khoản lợi thu được từ
việc khai thác tài sản, chính số tiền thu được từ việc cho ông S L thuê
nhà. Do đó, buộc T2 phải trả cho T, ông T1 số tiền thuê ttháng 6/2023
đến tháng 12/2025 là 15.000.000đ (= 30 tháng x 500.000đ/tháng); đồng thời, sửa
bản án sơ thẩm về nghĩa vụ liên đới giao nhà của ông S, bà L.
[11] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, các đương sự không tranh
chấp yêu cầu giải quyết về tài sản theo biên bản về việc di dời tài sản trong nhà
để giao nhà đất vào ngày 20/6/2023 (bút lục 234). Do đó, nếu phát sinh thiệt
hại khác về tài sản, thì bà T và ông T1 quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[12] Một phần đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ được chấp nhận.
9
[13] Về án phí dân sự thẩm: tại phiên tòa thẩm, các bên đương sự đã
thống nhất hiệu Hợp đồng số 4869, người đại diện theo ủy quyền của T2
thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ còn tranh chấp yêu cầu giải quyết hậu quả pháp
của giao dịch dân shiệu, nghĩa là xem xét giải quyết hợp đồng vay tài
sản. Do đó, T2 chỉ phải chịu án phí sơ thẩm đối với số tiền thu được từ việc
cho thuê nhà phải trả lại cho T ông T1. T ông T1 phải chịu án phí
trên tổng số tiền phải hoàn trả cho T2.
[14] Về án phí phúc thẩm: bà T và ông T1 rút kháng cáo tại phiên tòa phúc
thẩm nên phải chịu toàn bộ án phí. T2 không phải chịu được hoàn trả tạm
ứng án phí do kháng cáo được chấp nhận một phần.
[15] Phần bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 289, Điều 295, khoản 2 Điều 308,
Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm
2025; Điều 124, Điều 131, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông
Trường T1Lê Thị Hồng T.
3. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực
1-Tây Ninh; chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu T2.
3. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 124/2025/DS-ST ngày 29 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1-Tây Ninh về căn cứ pháp giải
quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu:
3.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/7/2022
giữa ông Lê Trường T1 và bà Lê Thị Hồng T với bà Nguyễn Thị Thu T2 do Văn
phòng C, quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 527 diện tích
985m
2
tbản đsố 1, tọa lạc khu phố A, thị trấn T, tỉnh Long An (nay T,
tỉnh Tây Ninh) là vô hiệu do giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản.
3.2. Buộc ông Trường T1 Thị Hồng T phải trả cho Nguyễn
Thị Thu T2 số tiền lãi vay tổng cộng 625.000.000đ (sáu trăm hai mươi lăm
triệu đồng).
3.3. Buộc Nguyễn Thị Thu T2 phải trả cho ông Trường T1
Thị Hồng T số tiền thu được từ việc cho thuê nhà đất tại thửa 527 tổng cộng
15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
10
3.4. Buộc Nguyễn Thị Thu T2 giao trả cho Thị Hồng T ông Lê
Trường T1 bản chính của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản gắn liền với đất số phát hành BD 264089, số vào sổ CH 00344
do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp cho ông Lê Văn Đ ngày
20/12/2010.
4. Các phần sau đây của Bản án dân sự thẩm số 124/2025/DS-ST ngày
29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1-Tây Ninh có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị:
4.1. Buộc bà Thị Hồng T và ông Trường T1 hoàn trả cho Nguyễn
Thị Thu T2 số tiền 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng).
4.2. Buộc Nguyễn Thị Thu T2 giao trả cho Thị Hồng T ông Lê
Trường T1 quyền sử dụng đất tài sản (căn nhà mộ) gắn liền trên thửa đất
số 527 diện tích 985m
2
tờ bản đsố 1; địa chnhà đất tại khu phố A, thị trấn T,
tỉnh Long An (nay T, tỉnh Tây Ninh). Trích lục bản đồ địa chính do Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T ký duyệt ngày 24/02/2025.
4.3. Kiến nghị thu hồi chỉnh biến động sang tên Nguyễn Thị Thu T2
vào ngày 29/12/2022 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu
nhà tài sản gắn liền với đất số phát hành BD 264089, số vào sổ CH 00344
do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp cho ông Lê Văn Đ ngày
20/12/2010.
5. Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu quan
nhà nước thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đã cấp để cấp mới cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của
Tòa án.
6. Văn phòng đăng đất đai, quan Tài nguyên và Môi trường,
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của
Tòa án để giải quyết thu hồi, hủy bỏ, điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của
Tòa án.
7. Chi phí tố tụng tại cấp thẩm (xem xét, thẩm định tại chỗ) tổng cộng
6.500.000 đồng: buộc Thị Hồng T, ông Trường T1 Nguyễn Thị
Thu T2 mỗi bên chịu ½ 3.250.000đ (ba triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Lê Thị Hồng T và ông Lê Trường T1 đã nộp xong. Buộc bà Nguyễn Thị Thu
T2 nghĩa vụ nộp đhoàn trả cho Thị Hồng T, ông Trường T1 số
tiền 3.250.000đ (ba triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) đã tạm ứng.
8. Về nghĩa vnếu chậm thi hành án: kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành
án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
11
9. Về án phí dân sự sơ thẩm:
9.1. Buộc Thị Hồng T ông Trường T1 phải chịu 84.500.000
đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí do bà T và ông T1
đã nộp theo Biên lai thu số 0004045 ngày 22/6/2023 của Chi cục Thi hành án
dân shuyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (này Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 1-Tây Ninh) sang thi hành án phí. Bà T ông T1 còn phải nộp tiếp
84.200.000đ (tám mươi bốn triệu hai trăm ngàn đồng).
9.2. Buộc Nguyễn Thị Thu T2 phải chịu 750.000 đồng, được khấu trừ
vào số tiền 36.000.000 đồng tạm ứng án phí T2 đã nộp theo Biên lai thu số
0003501 ngày 15/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh sang thi hành án
phí. Hoàn trả cho T2 số tiền 35.250.000đ (ba mươi lăm triệu hai trăm năm
mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí còn thừa.
10. Án phí dân sự phúc thẩm:
10.1. Buộc ông Trường T1 Thị Hồng T mỗi người phải chịu
300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm
ngàn đồng) tạm ứng án phí T ông T1 mỗi người đã nộp theo các Biên lai
thu tiền tạm ứng án phí số 0010102 số 0010099 cùng ngày 30/10/2025 của
Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông Trường T1 Thị Hồng T đã
nộp đủ án phí phúc thẩm.
10.2. Nguyễn Thị Thu T2 không phải chịu được hoàn trả số tiền
300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm
ứng án phí số 0009153 ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
11. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án,
người phải thi hành án quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
12. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật k
từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 1-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 1-Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Tải về
Bản án số 507/2026/DS-PT Bản án số 507/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 507/2026/DS-PT Bản án số 507/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất