Bản án số 249/2026/DS-PT ngày 24/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 249/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 249/2026/DS-PT ngày 24/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 249/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 249/2026/DS-PT
Ngày: 24 - 4 - 2026
V/v: “Tranh chấp quyn sdụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Quang
Các Thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm
Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Phúc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lk: Nguyễn Thị Mai
Liên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 4 năm 2022 Toà án nhân dân huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk
Lắk đã xét xử sơ thẩm vụ án tại bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2022/DSST.
Ngày 10/8/2022 Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã xét xử phúc thẩm vụ án
tại bản án dân sự phúc thẩm số: 144/2022/DSPT.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 22/2025/DS-GĐT ngày 05/11/2025 của
Tòa án nhân dân Tối cao đã quyết định: Hủy bản án dân sự phúc thẩm số:
144/2022/DSPT ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk,
giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm lại.
Ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk t
xử phúc thẩm công khai lại vụ án dân sự thụ số: 38/2026/TLPT-DS ngày 05
tháng 02 năm 2026 về việc: Tranh chp quyn s dụng đất” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 193/2026/QĐSSST-DS ngày 23/3/2026, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá D sinh năm: 1952
Địa chỉ: Thôn 8A, xã Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Công Hải
Địa chỉ: Số 79 Ama Jhao, phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
*Bị đơn: Ông Bùi Xuân C sinh năm: 1964, có mặt.
Bà Vũ Thị In – sinh năm: 1964, có mặt.
2
Địa chỉ: Thôn 8A, xã Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Quang Hưởng
Địa chỉ: Thôn Hợp Thành, xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Thiệp – sinh năm: 1959
Địa chỉ: Thôn 8, xã Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Công Hải
Địa chỉ: Số 79 Ama Jhao, phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- Ông Nguyễn Duy Thông – sinh năm: 1954
Địa chỉ: Thôn 10A, xã Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
- Nguyễn Thị Lý- sinh năm: 1947
Địa chỉ: Thôn 7, xã Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
* Nhng ni làm chứng:
- Ông Nguyn Xuân Tuấn, sinh năm 1959 Nguyễn Thị Mộng Hoa,
sinh năm 1963; ng địa chỉ: Thôn 8A, Ea Kly, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk
Lắk.
- Ông Văn Ngọc Quang, sinh năm 1950; địa chỉ: Thôn 7, Ea Kly, huyn
Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk
- Đoàn Thị Oánh, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn 7, Ea Kly, huyện
Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk
- Ông Trần Hữu Phi; địa chỉ: Thôn 6A, Ea Kly, huyện Krông Pắc, tỉnh
Đắk Lắk
- Ông Nguyễn Văn Thảnh; địa chỉ: Thôn 6A, xã Ea Kly, huyn Krông Pắc,
tỉnh Đắk Lắk
- Thị Dĩnh, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn 8A, Ea Kly, huyện
Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk
- Thị Bản, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn 5, Ea Kly, huyện
Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
(Những người làm chứng đều vắng mặt)
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Bá D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên
đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
3
Khoảng tháng 4 năm 2004, ông D thuê gia đình ông C làm thuê trồng đậu
đen trên diện tích khoảng 9000 m
2
đất tại thôn 5, Vụ Bổn, huyện Krông Pắc,
tỉnh Đắk Lắk. Do ông D giáo viên không tự canh tác được nên ông D ông
C thỏa thuận đổi đất cho nhau, ông D đổi đất trên lấy đất 06m mặt tiền,
chiều dài hết đất của gia đình ông C tại thôn 8A, Ea Kly, huyện Krông Pắc,
tỉnh Đắk Lắk. Ngày 01/5/2004, tại n ông C, hai ông lập biên bản về việc đổi đất
nhưng giy ghi Giấy chuyển nhượng đất” đề ngày 01/5/2004, ni dung ông C để
lại cho gia đình ông D 06m đất mặt đưng nằm trong một phần thửa đất gia đình
ông C đang sinh sống, đất tại thôn 8A, Ea Kly, huyện Kng Pắc, tỉnh Đắk
Lắk, vị trí thửa đất pa Nam giáp nhà ông Biên, phía Bắc giáp phần đấtn lại của
ông C (Nay đất ông Lý, Hin), pa Đông giáp đường chính, đưng 1 ( Nay
đường liên xã), phía Tây giáp đường 2 (Nay đường ng liên thôn); n gia
đình ông D để lại cho gia đình ông C 9000 m
2
đất rẫy tại tn 5, Vụ Bổn, huyện
Kng Pc; phần đất rẫy của ông D chtương đương với 04m đất của gia đình
ông C nên ông D phải thêm 5.000.000 đồng ơng đương với 02m đất còn lại
cho đủ 06m.
Tớc khi lập giy chuyển đổi đt tn, Thiệp (vợ ông D) đã đưa trc tiếp
cho ông C số tiền 1.000.000 đồng tại nhà ông C, việc giao số tiền trên có gia đình
ông C biết. Số tiền 4.000.000 đồng n lại thì ông D đưa cho ông C tại nhà ông
Nguyễn Xuân Tuấn (Thầy Tuấn), thôn 8A, Ea Kly, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk
Lắk, ông Tuấn vợ Hoa biết vic giao tiền tn. Trước khi viết giấy
khoảng tháng 4/2004 gia đình ông D đã bàn giao khoảng 9000 m
2
đất chuyển đổi
cho gia đình ông C canh c thu hoa lợi tn đất, đến m 2008 gia đình ông C
tự ý không canh c trên đất. n ông C chphn 06m đất chuyển đổi cho gia
đình ông D cụ thể 06m tính từ giáp ranh n ông Bn đo về phía nhà ông C đủ
06m chiu ngang, chiều i hết đất. Trên thực tế c n chưa cắm mốc ông D
ng ca m trên phn đất y, đến năm 2008 ông D ý định y nhà trên
phn đất này thì gia đình ông C nn cản nói không chuyển đổi đất nữa nên c
n xảy ra tranh chp, thời điểm đó ông D mới biết việc gia đình ông C không tiếp
tục đổi đất nữa. Phần đất rẫy diện tích khoảng 9000 m
2
ông D chuyển đổi
hiện nay Nguyễn Thị đang canh tác, quản lý. Nay phần đất rẫy đã chuyển
đổi thành đất ruộng, còn ai cải tạo thành đất ruộng và cải tạo từ năm nào thì ông
D không biết. Thửa đất này theo kết quả đo đạc của Công ty TNHH ng lâm
nghiệp Đắk Lắk diện tích 5653,9m
2
, thửa số 60, tờ bản đồ số 153, thuộc địa
phận xã Vụ Bổn, huyện Krông Pắc.
Nay ông D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, tuyên hợp đồng đổi đất
(giấy chuyển nhượng đất) ngày 01/5/2004 giữa gia đình ông D và ông Bùi Xuân
C, Thị In hợp pháp; Buộc ông C, In trả cho gia đình ông D 06m đất
mặt đường chạy dọc 1, tứ cận phía nam giáp nhà ông Biên, phía tây giáp
đường 2 (Nay đường tông liên thôn), phía bắc giáp đất nhà ông C (Nay
4
đất ông Lý, bà Hin), phía đông giáp trục đường chính, đường 1 (Nay
đường liên xã), thửa đất tọa lạc tại thôn 8A, Ea Kly, huyện Krông Pắc, tỉnh
Đắk Lắk theo kết quả đo đạc có diện tích 341,6m
2
.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày,
nếu hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất hiệu thì đề nghị Tòa án xử
hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
* Người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn trình bày:
Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất ngày 01/5/2004 được lập tại n
ông Nguyễn D, khi đó chỉ ông C ông D viết giấy tay với nhau, không
ai làm chứng. Việc ông Nguyễn Xuân Tuấn làm chứng ký sau thời điểm
lập giấy chuyển đổi. Ông D cho rằng giao 1.000.000 đồng tại nhà ông C
không đúng sự thật, ông C không nhận số tiền này. Còn số tiền 4.000.000 đồng
là ông C không nhận trực tiếp từ ông D ở nhà ông Tuấn như ông D trình bày, mà
ông C chỉ nhận 01 xe máy tại nhà ông Tuấn trị giá 4.000.000 đồng vợ
chồng ông Tuấn, Hoa người giao xe cho ông C nói xe trên ông D
đã mua. Đối với số tiền 4.000.000 đồng này mặc ông C nhận 01 xe máy từ
ông Tuấn nhưng ông C thừa nhận xe máy trên tương đương với số tiền
4.000.000 đồng. Ngoài ra, trước đó ông C còn nợ ông D 200.000 đồng. Nên
tổng số tiền ông C thừa nhận là 4.200.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm nghìn đồng)
chứ chưa nhận đủ 5.000.000 đồng như lời trình bày của đại diện y quyền cho
ông D như thỏa thuận trong hợp đồng. Tất cả các lần giao nhận tiền thỏa
thuận đổi đất thì In hoàn toàn không biết. việc nhận xe ông Tuấn sau
thời điểm viết giấy chuyển đổi. Ông D cho rằng phần 5.000.000 đồng mà ông D
thêm tương đương với 02m đất chuyển đổi không đúng, giữa ông C
ông D không thỏa thuận về việc này thời điểm đó ông C cũng không
biết giá đất là bao nhiêu.
Ông C thừa nhận ngày 01/5/2004 ông C đi làm giúp (tỉa đậu đen) cho
ông D trên phần đất rẫy chuyển đổi. Đến tối ngày 01/5/2004, tại nhà ông D trong
lúc ăn cơm tối, ông D trao đổi việc đổi đất, ông C đồng ý. Cụ thể hai bên thỏa
thuận như giấy chuyển đổi đất ngày 01/5/2004. Sau khi viết giấy, ông D chỉ
phần đất chuyển đổi cho ông C phần đất đã tỉa đậu đen, sau đó ông C vào
canh tác nhưng phát hiện không đủ diện tích, ông C nói với ông D thì ông D
cam kết sẽ làm bìa đỏ cho ông C đúng diện tích 9000 m
2
nên ông C tiếp tục canh
tác được 01 năm. Khoảng 01 năm sau ông Quế (con của bà Nguyễn Thị Lý,
cháu của ông Nguyễn Duy Thông) dùng máy múc để múc đất rẫy trên để cải
tạo thành ruộng lúa. Tại thời điểm này ông C yêu cầu ông D đưa sổ đỏ cho ông
C nhưng ông D chưa làm được sổ đỏ nên ông C quyết định không đổi đất nữa và
nói đất của ai người đó tự làm. Như vậy, ông C xác nhận ông C canh tác 01
năm trên phần đất rẫy nhưng do diện tích đất rẫy không đủ như thỏa thuận, đất
5
đang tranh chấp ông D không làm được sđỏ nên ông C không canh tác trên
đất đổi từ năm 2005 cho đến nay. Đối với phần đất 06m ông C thỏa thuận
chuyển đổi cho ông D tông C vẫn canh tác từ đó đến nay, chưa bàn giao trên
thực tế để ông D canh tác.
Tại thời điểm thỏa thuận chuyển đổi viết giấy chuyển đổi ngày
01/5/2004 thì In hoàn toàn không biết không tham gia. Tuy nhiên, đến
cuối năm 2004 bà In biết được việc chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa ông C và
ông D, In không đồng ý. In sang nhà ông D xin trả lại tiền ông C đã
nhận nhưng ông D không đồng ý nên bà In đi về. Cho đến khi In biết được
việc đất rẫy ông C nhận chuyển đổi đang tranh chấp không làm được
sổ đỏ, qua tìm hiểu In biết được đất trên của ông Nguyễn Duy Thông thôn
10A, Ea Kly, huyện Krông Pắc nên gia đình In không canh tác trên phần
đất chuyển đổi nữa.
Nay nguyên đơn khởi kiện thì gia đình ông C, In không đồng ý đ
nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu, xử lý theo quy định của pháp luật. Đối
với số tiền 4.200.000 đồng, gia đình ông C trả lại cho ông D và tiền lãi theo mức
lãi suất 10%/năm kể từ ngày 01/5/2004 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.
* Người đại diện theo ủy quyền cho người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Phạm Thị Thiệp, ông Phạm Công Hải trình bày: Thống nhất như ý
kiến của đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy Thông trình
bày:
Năm 1987 đến năm 1990 ông Thông có khai hoang được khoảng 09ha đất
tại Vụ Bổn, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Đến năm 1998 ông Thông cho
ông Nguyễn D mượn 01 thửa đất diện tích khoảng hơn 5000 m
2
thuộc
thôn 5, Vụ Bổn, giáp ranh với thôn 7, Ea Kly để canh tác. Khi cho mượn,
hai bên nói miệng, không lập thành văn bản. Sau khi mượn thì ông D canh tác
trồng màu trên đất. Đến năm 2005 ông Thông thấy gia đình ông i Xuân C
canh tác 02 vụ mùa (từ 2004-2005), ông Thông hỏi ông C thì được biết ông D
đổi phần đất này cho gia đình ông C. Ông Thông nói với ông C đất này của gia
đình ông Thông nên kể từ đó ông C không canh tác trên đất này nữa. Kể từ
khi ông C không canh tác thì ông D cũng không canh tác. đất cho ông D
mượn nên ông Thông để xem ông D nói không, nhưng không thấy ông D
đến nói gì. Năm 2007 bà Nguyễn Thị Lý (chị gái ông Thông) đến hỏi mượn thửa
đất này để canh tác. Bà có trồng màu trên đất nhưng do đất cằn cỗi nên
năm làm, năm bỏ không, năm nào bỏ không tcũng
không ai làm. Năm 2016 phần đất này bị người khác dùng máy múc trộm.
Ông Thông nói với ông D đất cho ông D mượn ông D không bảo vệ
được, để người khác múc trộm đất nên không cho ông D mượn đất nữa. Cuối
6
năm 2017 bà Lý sang hỏi mượn lại lô đất này để canh tác, bà Lý cải tạo đất, chỗ
nào trũng trồng lúa, chỗ nào cao trồng màu. Đầu năm 2018 cải tạo hơn
5000 m
2
đất này thành ruộng để canh tác trồng lúa cho đến nay. Quá trình bà
mượn canh tác, ông D không ý kiến gì. Ông Thông c định, phần đất diện
tích khoảng hơn 5000 m
2
mà ông D đang tranh chấp với vợ chồng ông C, bà In là
đất của ông Thông khai hoang từ năm 1987. Thửa đất này nằm trên địa bàn thôn
5, xã VBổn, huyện Krông Pắc, hiện nay bà Nguyễn Thị Lý đang canh c. Việc
ông D cho rằng ông D mua thửa đất này của ông Thông là không đúng, vì trước
đây ông Thông chỉ cho ông D mượn. Việc tranh chấp giữa ông D với vợ chồng
ông C, In vviệc đổi đất đối với thửa đất này, ông Thông hoàn toàn không
đồng ý. Do hiện nay bà Lý đang canh tác nên ông Thông chưa có ý kiến hay yêu
cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Lý trình bày:
Năm 1992 vào Đắk Lắk sinh sống trú tại thôn 7, Ea Kly,
huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình sinh sống biết ông Nguyễn
Duy Thông khai hoang đất Vụ Bổn, huyện Krông Pắc, trong đó
khoảng 5000 m
2
tại thôn 5, xã Vụ Bổn, lô đất này hiện nay đang tranh chấp giữa
ông D vợ chồng ông C, In. Bà không biết việc ông Thông cho ông D
mượn phần đất này và cũng hoàn toàn không biết việc ông D với gia đình ông C
đổi đất chỉ thấy ông D canh tác một thời gian trên diện tích đất này, sau đó
gia đình ông C canh tác một đến hai vụ mùa trồng màu rồi không thấy ai canh
tác nữa. Năm 2007 do cần đất trồng màu nên mượn phần đất 5000 m
2
này của ông Thông. Từ năm 2007 đến năm 2016 canh tác trồng màu trên
diện tích đất này nhưng không thường xuyên, có vụ làm, vụ không, khi bỏ
không cũng không ai tới làm. Năm 2016 phn đất y bị người khác dùng máy
múc, c trộm. Khi biết vic, Lý hỏi ông Thông mi biết đất này cho ông D
mượn nên đ xem ông D i sao. Sau đó Lý hỏi mượn lại, ông Thông nói đồng
ý. Đến đầu năm 2018 cải tạo 5000 m
2
này thành đất ruộng canh tác
trồng lúa cho đến nay. Quá trình canh tác từ đó đến nay không thấy ai tới tranh
chấp gì. Bà xác định 5000 m
2
đất mà ông D và vợ chồng ông C, bà In đang tranh
chấp mượn của ông Thông hiện do đang quản lý, sử dụng.
Việc tranh chấp giữa ông D với vợ chồng ông C, In, đnghị Tòa án
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Xuân Tuấn, Nguyễn Thị Mộng Hoa trình bày: Năm
2004 ông Tuấn, Hoa biết gia đình ông Nguyễn D gia đình ông Bùi
Xuân C đổi đất cho nhau, cụ thể việc đổi đất như thế nào thì không rõ. Ông
Tuấn, bà Hoa chỉ biết gia đình ông C đổi đất rẫy lấy 06m đất mặt đường của gia
đình ông C thôn 8A, xã Ea Kly, huyện Krông Pắc. Do hai thửa đất này giá
7
trị chênh lệch nên gia đình ông D cho gia đình ông C 5.000.000 đồng. Ông
Tuấn, bà Hoa thỏa thuận bán chiếc xe máy cho gia đình ông C giá 4.000.000
đồng. Các bên thống nhất, ông C nhận xe máy còn ông D thanh toán tiền cho
ông Tuấn, bà Hoa.
- Ông Văn Ngọc Quang trình bày: Tháng 4 năm 2003 Hợp tác Tây
Sơn thành lập, khi đó ông Quang Chủ nhiệm hợp tác xã. Các hđất khu
vực gần trụ sở hợp c xã và có nhu cầu trồng sắn đăng ký với hợp tác xã để hợp
tác xã đầu phân, giống thu mua sắn, trong đó hộ ông Nguyễn D đăng
diện tích đất trồng sắn khoảng 5000 m
2
nằm ranh giới giữa Vụ Bổn
Ea Kly, hiện nay thửa đất này thuộc Vụ Bổn. Về nguồn gốc đất, ông Quang
biết ông Nguyễn Duy Thông khai hoang, sau đó nghe ông D, ông Thông nói lại
ông Thông đã sang nhượng cho ông D, còn việc sang nhượng như thế nào thì
không biết. Thời điểm đó ông Nguyễn Duy Thông đang phụ trách kế hoạch của
HTX Tây Sơn. Tháng 7 năm 2003 chủ trương của Liên Minh hợp tác tỉnh
Đắk Lắk giúp các hộ dân đăng cấp GCNQSD đất cho các viên, HTX Tây
Sơn thu tiền để làm GCNQSD đất của các viên, trong đó thu của ông
Nguyễn D 200.000 đồng. Trước khi thu tiền làm GCNQSD đất, ông Quang
thông qua danh sách các xã viên đăng ký làm GCNQSD đất để các xã viên đóng
tiền và không ai có ý kiến gì. Trong thời gian chờ, đến năm 2006 Hội đồng nhân
dân tỉnh Đắk Lắk chủ trương giải thể các Hợp tác nông nghiệp thông báo
cho các HTX biết những HTX nào không còn khoản nợ sẽ được giải thể. HTX
Tây Sơn đã thanh toán lại số tiền mà các xã viên nộp để làm GCNQSD đất. Như
vậy, HTX Tây Sơn vẫn chưa nộp các thủ tục để đăng cấp GCN đất cho
các viên lên quan thẩm quyền. Năm 2010 HTX Tây Sơn giải thể. Khi
đăng xã viên ông D được HTX đầu ông D nộp sản (Sắn) 02 năm
2003 và 2004.
- Bà Đoàn Thị Oánh trình bày: Năm 2000 bà Oánh tới thôn 7, xã Ea Kly,
huyện Krông Pắc sinh sống. Bà Oánh chứng kiến gia đình ông D canh tác 01
đất khoảng 5 sào. Năm 2004 gia đình ông D đổi 5 sào đất trên cho gia đình ông
Bùi Xuân C để nhận đất chiều ngang mặt đường 06m thôn 8A, Ea
Kly, huyện Krông Pắc, còn nội dung các n đổi như thế nào bà Oánh không
biết. Hiện nay thửa đất khoảng 5 sào do bà Nguyễn Thị Lý đang cách tác.
- Ông Trần Hữu Phi, ông Nguyễn Văn Thảnh trình bày: Vào vụ mùa
xuân hè năm 2004 gia đình ông D nhờ ông Phi, ông Thảnh trồng màu rẫy,
khi đó có cả ông Bùi Xuân C. Trong quá trình làm rẫy thì hai ông thấy ông C nói
“Gia đình tôi lao động không đất làm, nhà thầy D không lao động
lại đất”. Lúc đó hai ông những người làm giúp cho ông D nói hai bên đổi
đất, ông D ông C đồng ý. Đến giá đất thì mọi người bàn bạc góp ý, rẫy
ông D tương đương 4m đất mặt đường nhà ông C. Lúc này ông D lên tiếng 4m
8
hẹp qkhông được”, nên mọi người nói “muốn rộng thì mua thêm” hai
ông đồng ý. Ông C đồng ý bán thêm cho ông D 2m để đủ lô đất 6m. Sau đó
các bên làm thủ tục chuyển đổi đất cho nhau.
- Vũ Thị Dĩnh trình bày: Năm 2004 gia đình Dĩnh bán 01 thửa đất
chiều ngang 07m, chiều dài hết đất thửa đất giáp ranh thửa đất nhà ông C cho
gia đình Nguyễn Thị Bê, giá chuyển nhượng 2.000.000 đồng/1m ngang mặt
tiền. Về việc gia đình ông C với gia đình ông D đổi đất như thế nào Dĩnh hoàn
toàn không biết. Sau này Dĩnh nghe nói việc đổi đất giữa hai gia đình ông D
và ông C.
- Vũ Thị Bản trình bày: Năm 1991 Bản vào Đắk Lắk sinh sống tại
thôn 5, Vụ Bổn, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Qtrình sinh sống tại địa
phương Bản nghe ông Thông nói năm 1998 ông Thông bán cho ông D 01
thửa đất diện tích khoảng 07 đến 08 sào, thửa đất này giáp ranh thửa đất nhà
Bản. Việc mua bán giữa ông Thông với ông D như thế nào Bản hoàn toàn
không biết. Sau đó, ông D canh tác trên thửa đất thuê máy ủi san đất cho
bằng phẳng, canh tác được khoảng vài năm thì không thấy ông D canh tác nữa.
Quá trình sinh sống đó, Bản thấy vợ chồng ông C canh tác trồng Ngô trên
thửa đất ông Thông bán cho ông D được 02 năm thì không thấy canh tác
nữa. Sau đó lại thấy Nguyễn Thị canh tác trên thửa đất, hiện nay thửa đất
trên gia đình bà Lý làm lúa. Năm 2020 bà Bản nghe nói gia đình ông D đổi thửa
đất nêu trên cho ông C để lấy thửa đất ở tại Ea Kly, còn đổi đất thời gian nào
và như thế nào thì hoàn toàn không biết.
Tại bản án dân sự thẩm số: 16/2022/DSST ngày 12 tháng 4 năm
2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk, nay Tòa án
nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk đã quyết định:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điu
39, Điều 144, Điều 147; Điều 157; Điều 165; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều
264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Áp dụng Điều 74 Luật đất đai 1993;
- Áp dụng Điều 699, 700, 701, 702, 703 Điều 704 B luật Dân sự
1995; Điều 688 Bộ luật dân sự 2015;
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thưng vụ Quốc
Hội.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bá D.
Tuyên bố hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất (Giấy chuyển nhượng
đất) ngày 01/5/2004 giữa ông Nguyễn D với ông Bùi Xuân C (Bùi n C)
vô hiệu.
9
Ông Bùi Xuân C (Bùi Văn C), Thị In nghĩa vụ thanh toán cho
ông Nguyễn D số tiền 11.737.833 đồng (Mười một triệu, bảy trăm ba ơi
bảy nghìn, tám trăm ba mươi ba đồng)”.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất trong giai đoạn thi hành
án, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
Ngày 15/4/2022, nguyên đơn ông Nguyễn Bá D kháng cáo đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn; trường hợp tuyên bố hợp đồng chuyển đổi đất vô
hiệu thì buộc bị đơn phải thanh toán giá trị chênh lệch của hai thửa đất.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, đơn
kháng cáo.
Ti phiên a, đi din Vin kiểm sát nhân n tỉnh Đk Lắk phát biểu quan
đim vvụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình th gii quyết vụ án Thẩm pn, Hội đngt
x, T , c đương s đã chấp nh đúng quy định của B luật tố tng n sự.
Vnội dung: Kháng o ca ông D không có n c. Đ nghị XX căn
cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Không chấp
nhận kháng cáo của ông Nguyễn D giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm s
16/2022/DS-ST ngày 12 tháng 4 m 2022 của Toà án nn n huyn Krông Pắc
tỉnh Đk Lắk, nay Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đk Lk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ o c tài liu có trong h sơ v án đã đưc thẩm tra ti phn tòa,
căn cứ o kết qu tranh lun tại phn tòa trên cơ sở xem t đầy đ c tài liệu
chng cứ, li tnh bày củac đương s, ý kiến của Kiểmt vn, Hội đồngt x
nhn định:
[1] Về thtục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn D
được nộp trong hạn luật định đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm hợp lệ,
nên Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải xét giải quyết vụ án theo trình tự phúc
thẩm là phù hợp.
[2] t nội dung kháng o ca ông Nguyn Bá D, Hi đồng t xử thấy
rng:
[2.1] Theo Giấy chuyển nhượng đất ngày 01/5/2004 thể hiện ông Nguyễn
Bá D và ông Bùi Xuân C thỏa thuận chuyển đổi đất cho nhau. Việc đổi đất được
thực hiện bằng giấy tay, không công chứng, chứng thực. Tại thời điểm các
bên thỏa thuận đổi đất, diện tích phần đất 9.000m² (đo thực tế là 5.825,5m²)
thuộc thửa số 60, tờ bản đồ số 153, tại Vụ Bồn, huyện Krông Pắc mà ông D
đang sử dụng và phần đất có chiều ngang 6m, chiều dài hết đất (diện tích thực tế
341,6m²) thuộc thửa số 75, tờ bản đồ số 153, tại xã Ea Kly, huyn Kng Pắc ca
10
ông C đều chưa được cấp Giấy chng nhn quyn sử dụng đt. Ti Công n số
76/UBND-ĐC ngày 07/6/2021, Ủy ban nn dân Vụ Bn, huyn Kng Pắc cho
biết din tích 5.825,5m² đất thuc tha số 60 chưa được đăng ký kê khai trong h sơ
đa chính, nên chưa c đnh được ch sử dng đất. Đối với din ch 341,6m² đất
thuc tha s 75i sn chung hợp nhất của v chồng ông C, bà Vũ Th In nhưng
khi Giấy chuyn nhưng đ đi đất thì bà In không ký và cũng không biết vic
đi đất, cuim 2004 bà In mi biết và kng đồng ý. N vậy, Hp đng chuyn
đi quyền s dụng đất nêu trên vô hiệu do vi phạm cả nội dung và nh thc theo
quy định tại các điều 133, 136, 137, 139 BLDS m 1995. Bản án thm không
chp nhận yêu cu khi kin của ông D, tuyên bố hợp đồng chuyn đổi đất ngày
01/5/2004 giữa ông Nguyễn Bá D và ông Bùi Xuân C vô hiệu là có căn cứ, đúng
pháp luật. Tuy nhiên, ti phn quyết định ca Bản án sơ thm cháp dng các điu
lut v hp đng chuyn đổi quyn sử dụng đất mà không áp dng các điu luật của
B Lut n s m 1995 về giao dch n sự để tuyên bố hp đng hiu, gii
quyết hậu qu hợp đồng vô hiệu là thiếu t cấp phúc thẩm cn bổ sung cho đầy đủ.
[2.2] V gii quyết hậu qu ca hp đng vô hiu: Ti điu 146 BLDS năm
1995 quy định các n phải khôi phục lại nh trng ban đầu, hn trcho nhau
nhng đã nhn, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
HĐXX xét thấy, ti thi điểm chuyển đi quyền s dụng đất, ông D biết tha
đt của ông C và bà In cùng quản lý, sdng nng ca có sđng ý ca bà In mà
vn ký giy t chuyển đi. Mặt khác, tha đất mà ông D thỏa thuận chuyển đổi cho
ông C thì ông D ca có quyn sử dụng đi với tha đất. Khi chuyn đi đất, ông C
không tìm hiu k nguồn gc quyn s dụng đất chuyn đi có thuc quyn s dụng
ca ông D hay không mà đã thc hin vic chuyn đổi nên lỗi làm cho giao dch
hiu của hai ông là ngang nhau.
Sau khi kết hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất, ông D đã bàn
giao đất cho ông C, ông C đã canh tác cây ngắn ngày trong hai mùa vụ năm
2004, đến năm 2005 thì ông C không còn quản lý, sử dụng đất không tạo lập
thêm tài sản gì trên đất. Ông D chưa nhận bàn giao đất của ông C. Như vậy, trên
thực tế cả hai bên đổi đất đều không có thiệt hại về đất, tài sản trên đất. Hiện tại
các bên không ai còn quản lý sử dụng thửa đất đã đổi nên không phải giao trả lại
đất cho nhau cũng như không phát sinh nghĩa vụ bồi thường.
Tại Giấy chuyển nhượng đất ngày 01/5/2004 c bên thỏa thun ông C đổi
cho ông D 6m đất mặt đường chy dọc sut lô 1, ông D giao cho ông C 9.000m² đất
ry cùng vi 5.000.000 đồng. Quá tnh gii quyết v án, ông D không chng minh
được đã trả cho ông C 5.000.000 đồng, trong khi đó ông C tha nhận đã nhận 01 xe
máy, tr giá 4.000.000 đng của ông D và khon nợ ông D 200.000 đồng. N vậy,
11
cn c đnh ông C đã nhận ca ông D 4.200.000 đồng thì phải tr lại cho ông D.
Bn án thẩm buc ông C phải trả cho ông D 4.200.000 đồng và i suất từ ngày
1/5/2004 cho đến ngày t xử thẩm làn c. Kng cáo của ông D không có
cơ sđể chp nhn.
Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không
chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn D - giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thm s 16/2022/DS-ST ngày 12 tng 4 năm 2022 ca Toà án nn dân huyn
Kng Pc tỉnh Đk Lk, nay là Tòa án nhân dân khu vc 4 - Đk Lk.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Bá D được miễn án phí dân
sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Bá D giữ nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm s 16/2022/DS-ST ny 12 tháng 4 năm 2022 ca Toà án nhân n huyn
Kng Pc tỉnh Đk Lk, nay là Tòa án nhân dân khu vc 4 - Đk Lk.
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điu
39, Điều 144, Điều 147; Điều 157; Điều 165; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều
264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Áp dụng Điều 74 Luật đất đai 1993;
- Áp dụng các điều 133, 136, 137, 139, 146, 699, 700, 701, 702, 703
Điều 704 Bộ luật Dân sự 1995; Điều 688 Bộ luật dân sự 2015;
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thưng vụ Quốc
Hội.
Tuyên xử:
[1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
D.
Tuyên bố hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất (Giấy chuyển nhượng
đất) ngày 01/5/2004 giữa ông Nguyễn D với ông Bùi Xuân C (Bùi Văn C)
vô hiệu.
Ông Bùi Xuân C (Bùi Văn C), Thị In nghĩa vụ thanh toán cho
ông Nguyễn D số tiền 11.737.833 đồng (Mười một triệu, bảy trăm ba ơi
bảy nghìn, tám trăm ba mươi ba đồng)”.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
12
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và trích đo thửa
đất: Nguyên đơn ông Nguyễn Bá D phải chịu 19.754.000 đồng (Mười chín triệu,
bảy trăm năm mươi bốn nghìn đồng). Ông D đã nộp đủ và chi phí xong.
[3]. Về án phí dân sự:
Về án phí thẩm: Miễn án pthẩm cho ông Nguyễn D. Ông Bùi
Xuân C, Thị In phải chịu 587.000 đồng (Năm trăm tám mươi bảy nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Bá D.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyên thi hành án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,
Điều 7, Điều 7a, và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán - Chủ toạ phiên t
- TAND khu vực 4;
- Phòng THADS khu vực 4;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Minh Quang
Tải về
Bản án số 249/2026/DS-PT Bản án số 249/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 249/2026/DS-PT Bản án số 249/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất