Bản án số 310/2026/DS-PT ngày 28/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 310/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 310/2026/DS-PT ngày 28/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 310/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Quang T kiện Bà Huỳnh Nguyễn Mộng Đ về “Tranh chấp hợp đồng mua bán doanh nghiệp và giải quyết hậu quả pháp lý của yêu cầu hủy hợp đồng”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 310/2026/DS-PT
Ngày 28 - 4 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
doanh nghiệp và giải quyết hậu quả
pháp lý của yêu cầu hủy hợp đồng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Ông Trần Nam Phương.
- Thư phiên tòa: Trần Phương Thảo - Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Hoàng Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 755/2025/TLPT-DS ngày
18 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán doanh nghiệp
và giải quyết hậu quả pháp lý của yêu cầu hủy hợp đồng”;
Do Bản án dân sự thẩm số: 113/2025/DS-ST ngày 15-8-2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai có kháng cáo;
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 18/2026/QĐ-PT
ngày 12 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1976; Căn cước công
dân số: 04007600086X; nơi đăng thường trú: B1005, Tầng A, khối B,
chung L (T), Số F, đường L, Tổ A, Khu phố G, phường L, phường H,
Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.
2
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản y quyền ngày
16/4/2024): Ông Trương Văn V, sinh năm 1992; Căn cước công dân số:
04909201380X; địa chỉ: 14.07 LA, Chung cư T, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh; số điện thoại: 0903 096 022; có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Huỳnh Nguyễn Mộng Đ, sinh năm 1976; Căn cước công
dân số: 05617600834X; nơi đăng thường trú: Số E, Đường C, Khu phố H,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo y quyền của b đơn (văn bản ủy quyền ngày
02/8/2022): Ông Phạm Đình Đ1, sinh năm 1956; Căn cước công dân số:
05105600732X; địa chỉ: Số I, Khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai; số điện
thoại: 0913 891 656; vắng mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Mạnh H,
Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; nơi làm việc: Công ty L1, Số A, đường H,
phường T, tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1975; Căn cước công dân số:
06607500448X; nơi đăng thường trú: B, khu phố B, phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số E, Đường C, Khu phố H, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L (văn bản ủy quyền ngày
02/8/2022): Ông Phạm Đình Đ1, sinh năm 1956; Căn cước công dân số:
05105600732X; vắng mặt tại phiên tòa.
2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn G;
Địa chỉ trụ sở: Cụm G, phường B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Huỳnh Nguyễn Mộng Đ, chức vụ:
Giám đốc; có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của công ty (văn bản ủy quyền ngày
02/8/2022): Ông Phạm Đình Đ1, sinh năm 1956; Căn cước công dân số:
05105600732X; vắng mặt tại phiên tòa
3. Phan Thị B, sinh năm 1979; Căn ớc công dân số:
04017900002X; nơi trú: B, Chung T, Đường số D, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn ông Nguyn Quang T:
1.1. V yêu cu khi kin của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Quang T là chủ Doanh nghiệp Tư nhân (sau đây, viết tắt là
DNTN) Gốm Thành C, được Ủy ban nhân dân (sau đây, viết tắt là UBND) tỉnh
Đồng Nai cho thuê đất 50 năm, thuê trả hàng năm (ktừ ngày 14/10/2014).
Vào ngày 24/9/2016, ông T Huỳnh Nguyễn Mộng Đ Biên bản
thỏa thuận mua bán Doanh nghiệp nhân G1, trụ sở tại Cụm G, phường
T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Theo nội dung hợp đồng, ông T đồng ý bán
Đ đồng ý mua DNTN Gốm Thành C và toàn bộ tài sản, gồm: Máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất, quyền sử dụng đất tài sản gắn liền trên
đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất (sau đây, viết tắt giấy chứng nhận) số CD 543561,
do UBND tỉnh Đ cấp ngày 24/6/2016 đứng tên G1; giá mua bán là:
10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng); bà Đ đồng ý thanh toán cho ông T thành
3 đợt như sau:
- Đợt 1: Ngay sau khi Biên bản, Đ (Bên B) thanh toán trước (đặt
cọc) cho Bên A (ông T) 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), Bên A sẽ tiến
hành thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh mua bán doanh nghiệp cho Bên
B theo quy định của pháp luật về đăng doanh nghiệp (trong đó, bao gồm
thay đổi giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận, quyết định đồng ý đóng thuế
đất một lần … đứng tên Bên B).
- Đợt 2: Bên B thanh toán 6.000.000.000 đồng (sáu tỷ đồng) ngay sau
khi nhận đầy đủ hồ sơ pháp lý công ty.
- Đợt 3: Số tiền còn lại 3.000.000.000 đồng (ba t đồng), Bên B sẽ
thanh toán cho Bên A trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ
pháp Bên A đã thanh toán hết các khoản nợ, đóng các khoản thuế của
Bên A phát sinh trong quá trình hoạt động.
Ngày 29/9/2016, các bên đã tiến hành thủ tục nộp hồ chuyển đổi chủ
G1 từ ông Nguyễn Quang T sang Huỳnh Nguyễn Mộng Đ tại Phòng Đăng
kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tỉnh Đ; trong Hợp đồng mua bán
doanh nghiệp nộp, để làm thủ tục sang tên, giá trị mua bán doanh nghiệp các
bên ghi nhận 6.447.574.383 đồng (theo giá mua bán của chủ cũ). Ngày
01/10/2016, Phòng Đăng kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp
4
Giấy Chứng nhận đăng G1 (đăng thay đổi lần thứ 3), do Huỳnh
Nguyễn Mộng Đ là chủ doanh nghiệp. Các bên tiếp tục thực hiện thủ tục tại cơ
quan thẩm quyền, để yêu cầu được đóng tiền thuê đất một lần. Ngày
02/12/2016, UBND tỉnh Đ đã ban hành Quyết định số: 4087/QĐ-UBND, về
việc điều chỉnh hình thức sử dụng đất từ Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê
hàng năm, thành Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê một lần. Ông T đã bàn
giao bản chính Giấy chứng nhận số CD 543561 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 24/6/2016, Giấy chứng nhận đăng kinh doanh, nhà
xưởng cho bà Đ quản lý sử dụng từ năm 2016 cho đến nay.
Sau đó, Đ thực hiện thủ tục chuyển đổi từ G1 (sau đây, viết tắt
TNHH) Gốm Thành Châu, đăng vốn điều lệ 16.500.000.000 đồng (mười
sáu tỷ năm trăm triệu đồng); với hai (02) thành viên góp vốn Huỳnh
Nguyễn Mộng Đ góp 13.200.000.000 đồng và ông Nguyễn Đình L (chồng bà
Đ) góp 3.300.000.000 đồng; người đại diện theo pháp luật là Huỳnh
Nguyễn Mộng Đ - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc của công ty
(theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cấp ngày 24/10/2016).
Sau khi hoàn tất các thủ tục hồ sơ pháp lý chuyển đổi doanh nghiệp cho
Đ xong, Đ không thanh toán số tiền 6.000.000.000 đồng đợt 2 như cam
kết trong hợp đồng ngày 24/9/2016. Sau nhiều lần nhắc nhở, Đ thanh
toán cho ông T thêm được 600.000.000 đồng thì không thanh toán tiếp. Số tiền
còn lại chưa thanh toán là: 8.400.000.000 đồng (tám tbốn trăm triệu đồng).
Ngày 20/11/2016, bà Đ văn bản gửi cho ông T đề nghị chấm dứt hợp đồng,
các lần họp sau đó, Đ đều không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng yêu
cầu hoàn trả số tiền: 2.500.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm triệu đồng) bao gồm
tiền đặt cọc và tiền bồi thường, tiền chi phí khác.
Như vậy, Đ người vi phạm hợp đồng, nên ông T khởi kiện, yêu
cầu Tòa án giải quyết:
1) Tuyên hủy Biên bản thỏa thuận mua bán doanh nghiệp ngày
24/9/2016, giữa ông Nguyễn Quang T Huỳnh Nguyễn Mộng Đ và yêu
cầu giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng mua bán, các bên hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận và khôi phục lại tình trạng ban đầu, cụ thể:
- Yêu cầu bà Đ hoàn trả lại toàn bộ nhà xưởng, đường ống dẫn gas
yêu cầu di dời toàn bộ 02 (hai) lò nung, các thiết bị máy móc lắp đặt, xây dựng
trên nhà xưởng. Các chi phí liên quan đến việc di dời này, ông T không chịu
trách nhiệm chi trả.
5
- Yêu cầu bà Đ phải trả bản chính Giấy chứng nhận số CD 543561 do
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/6/2016 đứng tên G1 (hiện
nay đã được Văn phòng Đăng đất đai tỉnh Đ xác nhận nội dung cập nhật
người sử dụng đất chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ G1 thành Công ty
TNHH G vào ngày 26/6/2018).
- Đ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán, nên ông T không
trách nhiệm hoàn trả số tiền đặt cọc: 1.000.000.000đ (một tỷ đồng). Ông T
đồng ý hoàn trả cho Đ số tiền thanh toán là 600.000.000 đồng (sáu trăm
triệu đồng).
- Yêu cầu Tòa án xác định toàn bộ vốn góp của Công ty TNHH G thuộc
quyền sở hữu của ông T, để ông T liên hệ với cơ quan có thẩm quyền xin thay
đổi lại nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
2) Về chi phí tố tụng: Đề nghị bị đơn phải chịu theo pháp luật quy định.
1.2. Đối vi yêu cu phn t ca b đơn:
Bị đơn Huỳnh Nguyễn Mộng Đ phản tố yêu cầu ông T phải trả lại
tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng; yêu cầu bồi thường tiền cọc 1.000.000.000
đồng và bồi thường số tiền 140.000.000 đồng mà bị đơn Đ cho rằng bị thiệt
hại do bị cấm xuất cảnh thì nguyên đơn không đồng ý; bởi vì, ông T không vi
phạm hợp đồng, không gây thiệt hại cho Đ việc Đ không xuất cảnh
được là do lỗi của bà Đ chưa thi hành nghĩa vụ theo quyết định của cơ quan thi
hành án; do vậy, bà Đ phải gánh chịu hậu quả.
1.3. Đối vi yêu cầu độc lp ca người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn G:
1) Tiền dịch vụ công ích 316.722.902 đồng: Về khoản tiền này, nguyên
đơn đề nghị Công ty TNHH G làm rõ đây là tiền dịch vụ của 50 năm hay là từ
2016 đến nay. Nếu là của 50 năm thì chia ra tương ứng với thời gian; khi đó,
Đ đứng tên Công ty TNHH G bao nhiêu năm thì Đ chịu pbấy nhiêu
năm; phần còn lại, ông T sẽ chịu trách nhiệm trả khi nhận lại công ty phần
trước thời điểm sang tên cho bà Đ. Còn nếu đây là khoản tiền dịch vụ công ích
cho thời gian bà Đ làm chủ doanh nghiệp, thì ông T không chịu trách nhiệm.
2) Tiền chi trả dịch vụ bảo v1.663.200.000 đồng: Đây khoản tiền
phí dịch vụ mà ng ty TNHH G thuê dịch vụ bảo vệ, để bảo vệ công ty trong
thời gian Đ làm chủ doanh nghiệp, Công ty TNHH G thụ hưởng các dịch
6
vụ từ phía công ty bảo vệ cung cấp, thì phải thanh toán phí. Yêu cầu này là vô
lý, nên ông T không chấp nhận.
3) Khoản tiền trả thay công nợ mua gas số tiền 200.777.296 đồng: Về
khoản tiền này, ông T đồng ý trả lại cho Công ty TNHH G.
4) Số tiền ng ty TNHH G đã nộp cho quan Nhà nước liên
quan: Nộp tiền thuê đất trả tiền hàng năm 94.750.000 đồng; Thuế môn bài
18.000.000 đồng; nộp thuế trước bạ 20.014.202 đồng; thuế đất 3.790.000
đồng; tổng cộng stiền là: 136.554.202 đồng. Ông T không đồng ý yêu cầu
này, bởi các khoản này nghĩa vụ của Công ty TNHH G tương ứng với
những mối quan hệ pháp luật mà Công ty TNHH G đã kết, giao kết hoặc là
nghĩa vụ của Công ty TNHH G theo quy định của pháp luật thì công ty phải
thực hiện và phải chịu, không thể yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ hoàn trả.
5) Về khoản tiền mà Công ty TNHH G đã đầu tư:
- Đầu hai (02) nung giá 2.145.000.000 đồng: Việc đầu hai (02)
nung này do Công ty TNHH G quyết định, khi đó, chủ sở hữu công ty
gồm các thành viên góp vốn là ông L và bà Đ quyết định chủ trương đầu tư
quyết định đầu tư. Ông T không có tư cách và trách nhiệm trong khoản đầu
này, ông T buộc Công ty TNHH G phải di dời (02) nung này, để trả lại nhà
xưởng; do đó, ông T không đồng ý đối với yêu cầu này.
- Chi phí san lấp mặt bằng 693.750.000 đồng, ông T không đồng ý. Đối
với phần đất san lấp, theo Đ chỉ dẫn đo đạc xác định khối lượng
4.698,40 m
3
, còn bên ông T chỉ dẫn 1.617 m
3
. Do hiện trạng về việc san lấp
mặt bằng sự thay đổi so với ban đầu, nên ông T đồng ý cộng bình quân,
mỗi bên chịu 50% giá trị theo Chứng thư thẩm định giá.
- Chi phí xây tường rào Công ty TNHH G yêu cầu bồi thường
644.575.000 đồng thì ông T không đồng ý. Ông T chỉ đồng ý thanh toán cho
Công ty TNHH G theo giá thẩm định trong chứng thư thm định giá, gồm:
Diện tích tường rào mặt tiền công ty 12,44 m
2
= 4.528.160 đồng; diện tích
tường rào gạch block phía sau và hai bên 433,05 m
2
= 107.179.380 đồng; tổng
số tiền là 111.707.540 đồng.
- Ngoài ra, đối với các hạng mục do bên bị đơn (hoặc công ty) làm thêm
(Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/7/2023), như: Mái tôn
83,16 m
2
, vách tôn 24,64 m
2
, sân nền 173 m
2
, cửa đi + cổng trượt 19,8 m
2
, cửa
trượt phía sau 24,3 m
2
. Toàn bộ các tài sản này nguyên đơn đồng ý thanh toán
7
giá trị cho bên bị đơn (hoặc công ty) theo như Chứng thư thẩm định giá đã xác
định.
2. Bị đơn bà Huỳnh Nguyễn Mộng Đ:
Huỳnh Nguyễn Mộng Đ xác nhận, vào ngày 24/9/2016, giữa Đ
với ông T với nhau Biên bản thỏa thuận mua bán DNTN Gốm Thành C
theo như bên nguyên đơn trình bày. Theo Biên bản thỏa thuận ngày 24/9/2016,
các bên thỏa thuận giá trị mua bán doanh nghiệp 10 (mười) tỷ đồng, thanh
toán làm 03 đợt theo quy định tại mục 1.2 Điều 1 của hợp đồng. Trên thực tế,
ngay sau khi ký Biên bản, bị đơn đã hoàn tất việc thanh toán cho ông T số tiền
01 tỷ đồng; điều này ng đã được phía nguyên đơn thừa nhận tại Bản tự
khai ngày 25/9/2019.
Theo thỏa thuận thanh toán Đợt 1, ông T nghĩa vụ: “phải thực hiện
ngay thủ tục đăng kinh doanh mua bán doanh nghiệp cho Bên B theo quy
định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp (trong đó bao gồm như: thay đổi
Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, Quyết định đồng
ý đóng thuế thuê đất một lần... đứng tên Bên B”; trên thực tế, ông T đã không
thực hiện đầy đủ, cụ thể: Chỉ thực hiện được việc đăng thay đổi tên chủ
doanh nghiệp nhân từ ông T sang tên Đ, chưa hoàn tất thủ tục, để Đ
được đứng tên là chủ doanh nghiệp G1 ghi nhận trên giấy chứng nhận và nhận
được quyết định của quan thẩm quyền vviệc đồng ý cho Bên B được
đóng tiền thuê đất một lần.
Trong quá trình thực hiện thủ tục sang tên G1 qua tên của Đ, ông T
yêu cầu Đ thanh toán thêm 600.000.000 đồng, để ông T thanh toán nợ
còn thiếu trong khoảng thời gian ông T làm chủ doanh nghiệp, nên bà Đ đã
thanh toán thêm cho ông T 600.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền tiền cọc
mua bán doanh nghiệp Đ đã thanh toán cho ông T 1.600.000.000
đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng).
Về yêu cầu khởi kiện của ông T, Đ không đồng ý. Đ vẫn
nguyện vọng được tiếp tục thực hiện Biên bản thỏa thuận ngày 24/9/2016,
giữa ông T và Đ; trị giá thỏa thuận 10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng)
và thanh toán cho ông T khoản tiền còn lại. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn
vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nên bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố,
buộc nguyên đơn phải bồi thường khoản thiệt hại cho bị đơn các khoản sau:
8
1) Trả lại tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng và bồi thường do hủy hợp
đồng 1.000.000.000 đồng.
2) Hoàn trả lại cho Đ số tiền 600.000.000 đồng đã thanh toán thêm
cho ông T để thanh toán nợ còn thiếu.
3) Bồi thường thiệt hại cho Đ số tiền 140.000.000 đồng do bị áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Biên Hòa, khi bà xuất cảnh sang C do Công ty Cổ phần T3 tài trợ.
Tổng cộng: 2.740.000.000 đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi triệu đồng).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Đình L:
Ông Nguyễn Đình L chồng của Huỳnh Nguyễn Mộng Đ. Ông L
đồng ý với ý kiến trình bày của bà Đ của Công ty TNHH G. Ông L không
có ý kiến nào khác.
3.2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn G:
Công ty TNHH G được thành lập trên cơ sở chuyển đổi loại hình doanh
nghiệp từ G1 trước đây (theo Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp, do Sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp cho Công ty G vào ngày 24/10/2016). Đăng ký
vốn điều lệ 16.500.000.000 đồng với hai (02) thành viên góp vốn
Huỳnh Nguyễn Mộng Đ góp 13.200.000.000 đồng ông Nguyễn Đình L
(chồng bà Đ) góp 3.300.000.000 đồng. Đ người đại diện theo pháp luật,
chức vụ Giám đốc - Chủ tịch hội đồng thành viên.
Công ty TNHH G thống nhất như phần trình bày của bên bị đơn như
trên. Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu hủy hợp
đồng; do đó, Công ty TNHH G giữ nguyên yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án
giải quyết, buộc ông Nguyễn Quang T phải bồi thường cho Công ty TNHH G
các khoản thiệt hại, như sau:
1) Khoản tiền mà Công ty TNHH G đã thanh toán, gồm:
1.1. Thanh toán tiền dịch vụ công ích cụm gốm Tân Hạnh: 316.722.902
đồng (ba trăm mười sáu triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn, chín trăm lẻ hai
đồng);
1.2. Thanh toán cho việc thuê Công ty D là: 1.663.200.000 đồng (một tỷ
sáu trăm sáu mươi ba triệu, hai trăm nghìn đồng);
9
Đây là hai khoản tiền Công ty TNHH G đã thanh toán trong khoảng
thời gian (từ năm 2017 đến năm 2022). Công ty TNHH G có lập bảng kê hàng
năm kèm theo đơn và có Hợp đồng, hóa đơn chứng từ.
1.3. Khoản tiền trả thay tiền n mua gas Công ty P của ông T:
200.777.296 đồng (hai trăm triệu, bảy trăm bảy mươi bảy nghìn, hai trăm chín
mươi sáu đồng). Khoản nợ này Công ty TNHH G đã thi hành án xong theo
bản án của Tòa án, tài liệu chứng cứ liên quan đã có trong hồ sơ vụ án.
1.4. Số tiền mà ng ty TNHH G đã nộp cho các cơ quan Nhà nước
liên quan, gồm: nộp tiền thuê đất trả tiền hàng năm 94.750.000 đồng; nộp thuế
môn bài 18.000.000 đồng; nộp thuế trước bạ 20.014.202 đồng; nộp thuế đất:
3.790.000 đồng. Tồng số tiền là: 136.554.202 đồng.
Trong đó: Khoản tiền thuê đất 94.750.000 đồng Công ty trả cho
khoảng thời gian từ năm 2014 đến tháng 10/2016; khoản thuế môn bài
18.000.000 đồng Công ty nộp theo hàng năm cho khoảng thời gian tnăm
2017 đến năm 2022; khoản thuế trước b 20.014.202 đồng thuế đất
3.790.000 đồng, 02 khoản này, Công ty nộp khi đi làm thủ tục chuyển đổi loại
hình doanh nghiệp thay đổi từ G1 để cập nhật sang tên thành Công ty TNHH
G trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ xác nhận ngày 26/6/2018.
2) Khoản tiền mà Công ty TNHH G đã đầu tư:
2.1. Khoản đầu 02 (hai) nung hệ thống chân đế cùng với 04 hệ
thống máng trượt, để đẩy hàng vào nung mà Công ty TNHH G mới đầu tư,
nếu các tài sản này buộc phải tháo dỡ đi thì giá trị thiệt hại sẽ rất lớn; do đó,
Công ty TNHH G yêu cầu ông T phải bồi thường stiền 2.145.000.000 đồng
(hai tỷ một trăm bốn mươi lăm triệu đồng); đây khoản tiền Công ty TNHH
G đã bỏ ra đầu tư, không phải là số tiền tháo dỡ, di dời.
2.2. Chi phí san lấp mặt bằng: 693.750.000 đồng (sáu trăm chín ơi
ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
2.3. Xây tường rào: 644.575.000 đồng (sáu trăm bốn mươi bốn triệu
năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Đối với số tiền chi phí san lấp mặt bằng chi phí xây tường rào nói
trên, Công ty TNHH G hợp đồng thi công với đơn vị san lấp đơn vị xây
dựng.
10
3) Tổng cộng: 02 khoản 1) + 2) nêu trên: 5.807.049.688 đồng (năm tỷ
tám trăm lẻ bảy triệu không trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi tám
đồng).
3.3. Bà Phan Thị B:
B là vợ của ông Nguyễn Quang T, đồng ý với nội dung khởi kiện
của nguyên đơn đối với bđơn đã trình bày như trên, bà B không bổ sung ý
kiến nào khác, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo pháp luật.
4. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án dân sự thẩm số: 113/2025/DS-ST ngày 15-8-2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, đã quyết định:
1) Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Nguyễn Quang T với Huỳnh Nguyễn Mộng Đ về việc tranh chấp “Hợp
đồng mua bán doanh nghiệp yêu cầu giải quyết hậu quả của huỷ hợp
đồng”. Không chấp nhận đối với phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn
Quang T về việc yêu cầu xác định toàn bộ vốn góp của Công ty TNHH G
thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Quang T.
1.2. Hủy Biên bản thỏa thuận mua bán doanh nghiệp nhân G1 ngày
24/9/2016 giữa ông Nguyễn Quang T với Huỳnh Nguyễn Mộng Đ. Do đó,
Hợp đồng mua bán doanh nghiệp các bên ghi ngày 27/9/2016 được nộp tại
Phòng đăng kinh doanh Sở kế hoạch Đầu tỉnh Đ (nay Phòng đăng
kinh doanh - Sở Tài chính tỉnh Đ) để làm thủ tục thay đổi chủ doanh
nghiệp tư nhân từ tên ông Nguyễn Quang T sang tên bà Huỳnh Nguyễn Mộng
Đ không còn giá trị pháp lý, nên phải huỷ bỏ.
1.3. Buộc bà Huỳnh Nguyễn Mộng Đ Công ty TNHH G (thành viên
góp vốn Huỳnh Nguyễn Mộng Đ ông Nguyễn Đình L) nghĩa vụ
phải di dời các nguyên vật liệu làm gốm, khuôn đúc các sản phẩm gốm
trong nhà xưởng để giao trả cho ông Nguyễn Quang T tài sản bản chính
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có thông tin như sau:
Giao trả toàn bộ nhà xưởng, hệ thống đường ống dẫn gas, các thiết bị
lắp đặt, xây dựng trên nhà xưởng xây dựng trên diện tích đất thuê 9.096m
2
(thuộc thửa đất 39, tờ bản đsố 42) tại T (nay là phường B), tỉnh Đồng
Nai, cthể: Nhà xưởng có diện tích 1.680m
2
; Nhà vệ sinh 12,6m
2
; Nhà bảo vệ
11
16m
2
; Nhà văn phòng 30m
2
; Nhà tôn 40m
2
; 01 bồn ga 10m
3
; 01 hệ thống
đường dẫn ga (Toàn bộ các tài sản nói trên được ghi nhận theo biên bản xem
xét thẩm định tại chỗ ngày 04/11/2022 theo Chứng tthẩm định giá số
030805/CT-TTA.TĐG ngày 08/5/2024 của Công ty Cổ phần T4).
Giao trả cho ông Nguyễn Quang T bản chính Giấy chứng nhận Quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CD
543561 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/6/2016 đứng tên
doanh nghiệp tư nhân G1, đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ xác nhận
nội dung thay đổi người sử dụng đất chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ
doanh nghiệp tư nhân G1 thành Công ty TNHH G vào ngày 26/6/2018. Ông T
trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, để điều chỉnh lại
nội dung thay đổi người sử dụng đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nói trên theo quy định của pháp luật đất đai; liên hệ với quan thẩm
quyền, để đăng thay đổi hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo quy
định của Luật Doanh nghiệp.
1.4. Ông Nguyễn Quang T được sở hữu số tiền 1.000.000.000 đồng
(một tỷ đồng) của bà Huỳnh Nguyễn Mộng Đ do hủy hợp đồng.
1.5. Giao cho ông Nguyễn Quang T được sở hữu các tài sản mà Công ty
TNHH G đã đầu trên đất, nhà xưởng, gồm: Vách ngăn nhà xưởng 120m
2
(kết cấu tôn kẽm tận dụng); 02 gas + máng trượt (mỗi gas 16m
3
); Mái
tôn 83,16m
2
; Vách tôn 24,64m
2
; Sân nền 173m
2
; Cửa đi + Cổng trượt 19,8m
2
;
Cửa trượt phía sau 24,3m
2
; Tường rào gạch block phía sau hai bên tổng
cộng 433,05m
2
; Tường o xây (phía mặt tiền Công ty) 12,44m
2
; diện tích đất
san lấp 3.207m
3
(Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/11/2022, ngày
25/7/2023 và ngày 04/8/2023; Chứng thư thẩm định giá số: 030805/CT-
TTA.TĐG ngày 08/5/2024 của Công ty Cổ phần T4).
1.6. Buộc ông Nguyễn Quang T phải hoàn trả lại cho bị đơn Huỳnh
Nguyễn Mộng Đ số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng).
2) Đối với yêu cầu phản tố của bđơn: Không chấp nhận yêu cầu phản
tố của Huỳnh Nguyễn Mộng Đ đối với ông Nguyễn Quang T về việc yêu
cầu trả stiền cọc, bồi thường tiền đặt cọc bồi thường thiệt hại do bcấm
xuất cảnh. Tổng các khoản yêu cầu bồi thường không được chấp nhận
2.140.000.000 đồng (hai tỷ một trăm bốn mươi triệu đồng).
3) Đối với yêu cầu khởi kiện độc lập của Công ty TNHH G:
12
3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Công ty TNHH G đối với
việc yêu cầu ông Nguyễn Quang T phải hoàn trả khoản tiền đã trả nợ cho
Công ty TNHH P (S) và đối với phần tài sản đã đầu trên đất theo giá trị
thẩm định giá.
3.2. Không chấp nhận đối với phần yêu cầu khởi kiện độc lập của Công
ty TNHH G yêu cầu ông Nguyễn Quang T phải bồi thường các khoản sau:
Tiền dịch vụ công ích: 316.722.902 đồng; T1 thuê Công ty D là:
1.663.200.000 đồng; các khoản tiền thuế là 136.554.202 đồng; tiền chênh lệch
đối với 02 gas + 02 máng trượt: (2.145.000.000 đồng - 1.421.198.283
đồng) = 723.801.717 đồng; tiền chênh lệch đối với khoản chi phí san lấp mặt
bằng: (693.750.000 đồng - 347.347.000đồng) = 346.403.000đồng; tiền chênh
lệch đối với khoản chi phí xây tường rào: (644.575.000 đồng - 111.707.540
đồng = 532.867.460 đồng. Tổng cộng các khoản yêu cầu bồi thường không
được chấp nhận là 3.719.549.281 đồng (ba tỷ bảy trăm mười chín triệu năm
trăm bốn mươi chín nghìn, hai trăm tám mươi mốt đồng).
3.3. Buộc ông Nguyễn Quang T phải nghĩa vụ thanh toán lại cho
Công ty TNHH G (thành viên góp vốn bà Huỳnh Nguyễn Mộng Đ ông
Nguyễn Đình L) tổng số tiền 2.154.293.951 đồng (hai tỷ một trăm năm
mươi bốn triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, chín trăm năm mươi mốt đồng);
trong đó: Khoản tiền đã trả nợ thay cho Công ty TNHH P (S) 200.777.296
đồng giá trị các tài sản của Công ty TNHH G đã đầu trên đất giao cho
ông Nguyễn Quang T được sở hữu là 1.953.516.655 đồng.
4) Về chi phí tố tụng: Buộc Huỳnh Nguyễn Mộng Đ phải hoàn trả
cho ông Nguyễn Quang T số tiền 38.500.000 đồng (ba mươi tám triệu năm
trăm nghìn đồng).
5) Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về việc thi hành án, án phí
và quyền kháng cáo.
5. Kháng cáo:
- Nguyên đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa
bản án dân sự thẩm theo hướng, buộc bị đơn trách nhiệm di dời thiết bị
máy móc lò gas máng trượt ra khỏi nhà máy; không buộc nguyên đơn
chịu trách nhiệm với các chi phí đầu tư với các bộ thiết bị này.
- Bị đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa bản
án dân sự sơ thẩm theo hướng, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
13
6. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn tại phiên tòa
phúc thẩm:
Thứ nhất, Tòa thẩm đã tước đi quyền tự quyết của Đ. Tại phiên
tòa thẩm, bị đơn Đ đã khẳng định chỉ yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp
đồng, nhưng Tòa án thẩm lại xét xử theo hướng hủy hợp đồng phạt cọc
là những yêu cầu mà bà Đ đã rút. Đây là một sai lầm nghiêm trọng.
Thứ hai, về thực tế, suốt 9 năm qua, bà Đ đã thay đổi hoàn toàn bản chất
pháp của doanh nghiệp. Đ đã thay ông T trả nợ, đã được UBND tỉnh
hợp đồng cho thuê đất trực tiếp và bà Đ đã được tỉnh chấp thuận cho đóng tiền
thuê đất một lần. Đặc biệt, ông L đã góp vốn vào công ty với cách bên
thứ ba ngay tình. Việc Tòa án thẩm tuyên hủy hợp đồng một quyết định
bất khả thi, không thể thi hành không thể tháo rời quyền lợi của ông L
các quyết định hành chính của tỉnh ra khỏi doanh nghiệp này.
Thứ ba, xin ví dụ cho dễ hiểu là, một chiếc áo đã cắt ra và may thành bộ
quần áo hoàn chỉnh thì không thể bắt người thợ may phải trả lại tấm vải
nguyên vẹn. Trường hợp này, ông T đã chủ động kê khai giá thấp, để trốn thuế
khi bán doanh nghiệp, nay lại thấy giá trị đất tăng cao nên muốn dùng lỗi đó
để lấy lại nhà xưởng. Nếu chấp nhận điều này, hình chung pháp luật đang
bảo vệ, cổ súy cho hành vi trốn thuế và sự không trung thực trong giao dịch.
Thứ tư, khi giao kết các bên đã thống nhất không đơn phương hủy b
hợp đồng, trừ phi cùng thỏa thuận bằng phụ lục. Thêm nữa, đã thỏa thuận rằng
hai bên phải thiện chí thương lượng khi mâu thuẫn, tranh chấp nhưng
bên ông T đã không tuân thủ đúng thỏa thuận này. Nay đột nhiên khởi kiện
yêu cầu hủy bỏ là vừa không hợp tình, vừa không hợp lý.
Thứ năm, cho tới nay bản án sơ thẩm chưa tuyên hủy hay kiến nghị hủy
bất kỳ giấy đăng ký kinh doanh nào, nhưng lại tuyên giao trả tài sản của doanh
nghiệp cho nhân ông T chưa giải quyết đầy đủ quyền lợi hợp pháp của
các bên liên quan.
Thứ sáu, yêu cầu khởi kiện nguyên đơn căn cứ Hợp đồng ngày
24/9/2016, trong khi tình trạng pháp của doanh nghiệp, công ty hiện nay lại
căn cứ Hợp đồng ngày 27/9/2016 hợp đồng này đã được hai bên thanh
xong và không có tranh chấp. Như vậy, thực chất tranh chấp ở đây chỉ về thực
hiện quyền và nghĩa vụ của hai bên với nhau mà thôi.
14
Từ những căn cứ trên, doanh nghiệp đã đầu rất nhiều vào đất tài
sản trên đất, đnghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng
tiếp tục thực hiện hợp đồng, để doanh nghiệp an tâm m ăn, góp phần vào
kinh tế địa phương.
7. Phần phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
7.1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
- Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định về việc cấp tống
đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự chuyển hồ cho Viện kiểm sát
cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định. Phiên tòa thực hiện đúng các
quy định của B lut T tng dân sự, đảm bảo đúng thành phần, tư, khách
quan và không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ
án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sđã thực hiện đúng các quy
định tại các Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
7.2. Quan điểm đối với kháng cáo:
Kiểm sát viên đã phát biểu, đánh giá về vụ án; kết luận cấp sơ thẩm giải
quyết chưa căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản 3 Điều 308
của Bộ luật Tố tụng dân sự; hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, để giải quyết lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận được đơn đề nghị vắng mặt của
nguyên đơn người đại diện theo ủy quyền; nhận được thủ tục người bảo v
quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn; ông Phạm Đình Đ1 vắng mặt không
do. Căn cứ khoản 1 Điều 76 khoản 2, 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, Hội đồng xét xchấp nhận người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
cho bị đơn tham gia phiên tòa vẫn tiến hành xét xử vụ án, không hoãn
phiên tòa.
[2] Về nội dung, tố tụng và kháng cáo:
- Bản án thẩm nhận định: “Biên bản thỏa thuận mua bán doanh
nghiệp tư nhân G1 ngày 24/9/2016 giữa chủ doanh nghiệp ông Nguyễn Quang
T với bà Huỳnh Nguyễn Mộng Đ ... giao dịch này đủ các điều kiện quy
định tại Điều 117, Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên hợp đồng mua bán
15
doanh nghiệp giữa ông T với Đ phát sinh quyền nghĩa vụ đối với các
bên theo pháp luật quy định” (trang 11). Về nội dung này, nhận thấy tại Biên
bản thỏa thuận mua bán Doanh nghiệp Tư nhân Gốm Thành Châu ngày
24/9/2016, hai bên đã thống nhất giá mua bán doanh nghiệp là 10.000.000.000
đồng; sau đó, khi nộp hồ chuyển đổi chủ doanh nghiệp tại Phòng Đăng
kinh doanh, đương sự nộp Hợp đồng mua bán doanh nghiệp ngày 27/9/2016
(bút lục số 81), ghi giá trị mua bán 6.447.574.383 đồng. Điều này thể hiện,
dấu hiệu của hành vi sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản
chất giao dịch hoặc giá trị thực tế, để xác định sai số tiền thuế phải nộp. Ngoài
ra, theo tài liệu do Phòng Đăng ký kinh doanh cung cấp, thể hiện có “Biên bản
thanh hợp đồng mua bán doanh nghiệp” ngày 27/9/2016 (bút lục số 79),
được ký kết giữa ông Nguyễn Quang T (chG1) với bà Huỳnh Nguyễn Mộng
Đ, nội dung biên bản ghi các bên đã hoàn thành nghĩa vchuyển quyền sở
hữu tài sản thanh toán tiền liên quan đến việc mua bán doanh nghiệp.
Những vấn đnày chưa được cấp thẩm thu thập, xác minh làm rõ, việc
công nhận hiệu lực giao dịch mua bán doanh nghiệp nêu trên chưa căn
cứ.
- Tại Quyết định số: 4087/QĐ-UBND ngày 02/12/2016 của Ủy ban
nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Nai, về việc điều chỉnh hình thức sử dụng đất
ghi tại Quyết định số: 3183/QĐ-UBND ngày 14/10/2014 của UBND tỉnh Đ,
nội dung: “Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần”, “Giám đốc Công ty
TNHH G trách nhiệm thi hành quyết định này”, thời hạn thuê đất tngày
02/12/2016 đến ngày 14/10/2064 (bút lục số 244 247); Thông báo về việc
đôn đốc nộp tiền thuê đất (bút lục số 245). Từ các nội dung này, thể hiện, vụ
án còn tồn tại quan hệ “Hợp đồng thuê đất”, nhưng khi giải quyết, cấp sơ thẩm
không lấy ý kiến của UBND tỉnh Đ, để xem xét việc đưa chủ thể này tham gia
tố tụng là có thiếu sót.
- Liên quan đến việc “Hợp đồng thuê đất”, hồ vụ án thể hiện: Hợp
đồng thuê đất số: 01/HĐTĐ ngày 06/01/2015, giữa UBND tỉnh Đ với Doanh
nghiệp nhân G1 do ông Nguyễn Thành N làm ch(bút lục số 17 18);
Hợp đồng thuê đất số: 57/HĐTĐ ngày 30/8/2018, giữa UBND tỉnh Đ với
Công ty TNHH G do bà Huỳnh Nguyễn Mộng Đ làm Chủ tịch Hội đồng thành
viên kiêm Giám đốc đại diện (bút lục số 141 đến 144); tại phiên tòa phúc
thẩm, Phan Thị B (vợ nguyên đơn) xác nhận không hợp đồng thuê đất
nào được kết giữa UBND tỉnh Đ với doanh nghiệp do ông Nguyễn Quang
T làm đại diện. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vô hiệu hoặc hủy hợp đồng,
16
cũng cần phải xem xét đến hợp đồng thuê đất, số tiền thuê đã nộp, chủ thể s
dụng đất tiếp theo, ...
- Bản án thẩm xác định đương sự chỉ yêu cầu hủy “Biên bản thỏa
thuận mua bán Doanh nghiệp nhân G1 ngày 24/9/2016”, không đương
sự nào yêu cầu Tòa án tuyên hủy “Hợp đồng mua bán doanh nghiệp ngày
27/9/2016” (bút lục số 81); tuy nhiên, tại phần quyết định, Tòa án lại tuyên
hủy luôn hợp đồng ngày 27/9/2016 vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương
sự, vi phạm tố tụng.
- Trong trường hợp Tòa án tuyên bố hiệu hoặc hủy giao dịch dân sự
giữa các đương sự nêu trên, trong bản án, phải giải quyết hết các hậu quả pháp
lý; trong đó có: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp (Điều 212 Luật Doanh nghiệp); giải quyết việc thuê đất với Nhà
nước; nghĩa vụ tài chính với Nhà nước,... Ngoài ra, tài sản trên đất phát
sinh sau khi xét xử sơ thẩm cũng cần được xem xét, giải quyết.
Từ các phân tích trên, hồ vụ án chưa được thu thập đầy đcác tài
liệu, chứng cứ để giải quyết triệt để vụ án; cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng; do đó, hủy bản án thẩm đgiải quyết lại vụ án; đồng thời,
không giải quyết kháng cáo của các đương sự.
[3] Chi phí tố tụng:
Được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[4] Án phí:
Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án; người kháng o không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nghĩa
vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[5] Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên; không chấp nhận quan
điểm của Luật sư tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
17
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự thẩm số: 113/2025/DS-ST ngày 15-8-
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
2. Chuyển toàn bộ hồ vụ án đến Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng
Nai, để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Đồng Nai quyết định khi giải quyết lại vụ án.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Hoàn trả lại ông Nguyễn Quang T số tiền tạm ứng án phí đã nộp
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai T2 tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số: 0000936 ngày 09-9-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
- Hoàn trả lại Huỳnh Nguyễn Mộng Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai T2 tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số: 0000935 ngày 26-8-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Tòa án nhân dân khu vực 1 (kèm hồ
vụ án);
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
- Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Tài
chính tỉnh Đồng Nai;
- Văn phòng Đăng đất đai tỉnh Đồng
Nai;
- Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- Ủy ban nhân dân phường Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai;
- Lưu: Hồ sơ vụ án và Văn phòng (20).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký và đóng dấu
Nguyễn Văn Thành
18
Tải về
Bản án số 310/2026/DS-PT Bản án số 310/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 310/2026/DS-PT Bản án số 310/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất