Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 24/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/04/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông C yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 24/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 23-4-2026
V/v “Tranh chấp ly hôn, chia
tài sản chung, hợp đồng mua
bán tài sản hợp đồng vay tài
sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Liêm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Hà Thúy Thảo - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19/3/2026, ngày 16/4/2026 ngày 23/4/2026 tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia
đình thụ lý số: 06/2026/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026, về việc
“Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, hợp đồng mua bán i sản hợp đồng
vay tài sản”.
Do bản án hôn nhân gia đình thẩm số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 14
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 708/2026/QĐ-PT ngày
23 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã G, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Khắc H,
sinh năm 1985; Địa chỉ: Số A L, phường P, Thành phố Hồ CMinh (theo Hợp
đồng ủy quyền ngày 10/01/2025, có mặt).
2. Bị đơn:Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Ấp T, xã G, tỉnh Đồng Tháp.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Trần Quang V, sinh năm
1984; Địa chỉ: Ấp G, T, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ trú: Số A, T, ấp H, T,
tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/8/2024, có mặt);
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
3.2. Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1997 (vắng mặt, đơn xin vắng
mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã G, tỉnh Đồng Tháp.
3.3. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1962 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.4. Anh Lê T2, sinh năm 1994 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã G, tỉnh Đồng Tháp.
3.5. Ông Phan Văn K, sinh năm 1977 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.6. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1970 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp G, xã G, tỉnh Đồng Tháp.
3.7. Ông Tăng Văn D, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C người đại diện theo ủy quyền
ông Nguyễn Lê Khắc H trình bày: Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Ngọc H1
cưới nhau năm 1990, do tự nguyện đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân
(UBND) thị trấn T. Sau khi cưới ông sống hạnh phúc đến m 2020 thì phát
sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc
sống vợ chồng, làm ăn thất bại dẫn đến nợ nần nhiều người, nên vợ chồng sống
không hạnh phúc; ông C và bà H1 đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay ông
C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm
được nên ông C yêu cầu ly hôn với H1.
Về con chung: 02 con tên Nguyễn Thanh L, sinh ngày 23/12/1994
Nguyễn Thị Thùy D1, sinh ngày 24/01/2002. Hiện 02 con đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng ông C H1 tạo
lập được tài sản chung gồm:
+ Thửa đất số 1077, tbản đồ số 05, diện tích 1.770m
2
, đất lúa, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất số H01554 do UBND huyện G cấp ngày
3
26/9/2008 cho hộ ông Tăng Văn D đã chuyển nhượng cho ông C năm 2008. Thửa
1077 đã có căn nhà của bà Nguyễn Thị N ở trên đất.
+ Ngoài ra, còn có số tiền vchồng bỏ ra để sửa căn nhà của ông ngoại
ông để lại, chi phí sửa nhà 400.000.000 đồng; chi phí san lấp thửa đất số 215
38.000.000 đồng. Căn nhà trên thửa đất số 215, tờ bản đồ s 20, diện tích
1.305,8m
2
, đất lúa, theo Giấy chứng nhận QSD đất số CH04200 do UBND huyện
G cấp ngày 10/11/2014, tặng cho ông Nguyễn Văn C theo hồ số
004200.TA.001.
Tài sản riêng của ông C thửa đất số 215, tờ bản đồ số 20, diện tích
1.305,8m
2
, đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận QSD
đất số CH04200 do UBND huyện G cấp ngày 10/11/2014, tặng cho ông Nguyễn
Văn C theo hồ số 004200.TA.001 theo hợp đồng tặng cho số 1915 ngày
28/3/2022.
Khi ly hôn ông C yêu cầu chia đôi thửa đất số 1077, yêu cầu nhận phần đất
căn nhà N và anh Nguyễn Thanh T3, chia tiền sửa nhà và san lấp mặt bằng
cho bà H1 là 100.000.000 đồng.
Về nợ chung:
+ Nợ Đại lý thức ăn Tám Thương của Nguyễn Thị T1 tiền mua thức ăn
và thuốc nuôi tôm tổng cộng là 1.658.279.000 đồng.
+ Nợ ông Phan Anh K1 số tiền 400.000.000 đồng (do ông mượn để trả nợ
chung tại Ngân hàng TMCP L2, ông Phan Văn D2, bà Nguyễn Thị Hồng D3, ông
Lê Văn B và ông Nguyễn Kim L1).
+ Nợ anh T2 số tiền 45.000.000 đồng.
Ông C yêu cầu chia đôi số nợ chung mỗi người trả ½.
Ông C còn có đơn khởi kiện bổ sung với bà Nguyễn Thị N như sau:
Vào ngày 30/10/2008 ông C mua (nhận chuyển nhượng) thửa đất số
1077, tờ bản đồ số 05, tọa lạc ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang của ông Tăng
Văn D, sinh năm 1981, tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Trong thời điểm
đó bà N có 01 căn chòi lá cặp bờ kênh khoảng 4m
2
ông C đã nhiều lần yêu cầu bà
N di dời nhưng bà N không di dời, do ông C làm ăn xa nhà không kiểm soát được
nên bà N đã lấn vào thửa đất do ông C mua để cất (xây dựng) nhà tiền chế ở, ông
C không đồng ý làm đơn trình báo Công an ấp ngăn chặn không cho N
tiếp tục xây dựng trên đất của ông C nhưng bà N vẫn cố chấp kéo dài cho đến
hôm nay trong khi tài sản đất đai của N nhưng N cố tình chiếm đất của
ông C để xây dựng nhà ở.
Nay ông C yêu cầu bà N và các thành viên đang sử dụng đất tháo dỡ, di dời
nhà và tài sản trên đất để trả lại phần đất diện tích 100m
2
thuộc thửa 1077, tờ bản
4
đồ số 05, tọa lạc p T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang do ông C nhận chuyển
nhượng với diện tích là 1.770m
2
.
- Bị đơn Nguyễn Ngọc H1 người đại diện theo ủy quyền ông
Trần Quang V trình bày:
Về tình cảm: H1 thống nhất với lời trình bày của ông C về thời gian
địa điểm kết hôn, n về quá trình chung sống mâu thuẫn gia đình là do ông C có
quan hệ chung sống với người phụ nữ khác về đánh bà nhiều lần. Bà H1 và ông C
đã ly thân từ năm 2021 đến nay, nay H1 đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Văn
C.
Về con chung: 02 con tên Nguyễn Thanh L, sinh ngày 23/12/1994
Nguyễn Thị Thùy D1, sinh ngày 24/01/2002. Hiện 02 con đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng H1 có tạo lập được
tài sản chung gồm:
+ Thửa đất số 1077, tbản đồ số 05, diện tích 1.770m
2
, đất lúa, theo Giấy
chứng nhận QSD đất số H01554 do UBND huyện G cấp ngày 26/9/2008 cho hộ
ông Tăng Văn D đã chuyển nhượng cho ông C năm 2008. Thửa đất 1077 đã
căn nhà của bà Nguyễn Thị N ở trên đất và 46 cây dừa.
+ Thửa đất số 215, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.305,8m
2
, đất ở nông thôn và
đất trồng cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận QSD đất số CH04200 do UBND
huyện G cấp ngày 10/11/2014, tặng cho ông Nguyễn Văn C theo hồ sơ số
004200.TA.001 theo hợp đồng tặng cho số 1915 ngày 28/3/2022.
+ Ngoài ra còn có căn nhà trên thửa đất số 215 do vợ chồng bà xây cất mới
toàn bộ năm 2018, chi phí san lấp thửa đất số 215 là 38.000.000 đồng, số tiền ông
C bán máy, thiết bị, dụng cụ nuôi tôm là 55.000.000 đồng.
Khi ly hôn H1 yêu cầu chia đôi các tài sản gồm: Thửa đất số 1077,
yêu cầu nhận phần đất căn nhà của N anh T2, xin tặng lại cho bà N
diện tích đất ngôi nhà của N; 46 cây dừa trên thửa đất 1077; ngôi nhà trên
thửa đất số 215; thửa đất số 215; chi phí san lấp mặt bằng và chi phí ông C đã bán
máy, thiết bị, dụng cụ nuôi tôm.
Về nợ chung gồm:
+ Nợ bà Nguyễn Thị N2 số tiền 150.000.000 đồng.
+ Nợ bà Nguyễn Thị N1 số tiền 42.000.000 đồng.
+ Nợ bà Nguyễn Thị Ú số tiền 20.000.000 đồng.
+ Nợ bà Nguyễn Thị N3 số tiền 50.000.000 đồng.
+ Nợ bà Huỳnh Thị X số tiền 55.000.000 đồng.
+ Nợ Ngân hàng TMCP L2 số tiền 250.000.000 đồng (ông C đã trả xong).
+ Nợ anh Lê T2 số tiền 45.000.000 đồng.
5
Bà yêu cầu chia đôi số nợ chung mỗi người trả ½.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị N trình bày:
Năm 1995, ông Tăng Văn D tặng cho một phần đất thửa 1077 ngang
khoảng 20m, dài khoảng 20m, không giấy tờ cho đất. Từ năm 1995 đã cất
nhà đến nay, năm 2008 ông D chuyển nhượng đất cho ông C trọn thửa đất số
1077 nên hiện nay ngôi nhà của bà trên thửa đất số 1077 mà ông C và bà H1 đang
tranh chấp. Năm 2023 dỡ nđể cất lại nhà mới thì ông C ngăn cản nên
tháng 12/2023 đã khởi kiện ông C theo vụ án thụ số 311/2023/TLST-DS
ngày 15/12/2023, sau đó vụ án được nhập vào vụ kiện ly hôn của ông C
H1.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành T trình
bày: Anh thống nhất với lời trình bày của bà N.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T1 trình bày:
Vào năm 2015 bán thức ăn thủy sản thuốc nuôi tôm cho vợ chồng ông
Nguyễn Văn C bà Nguyễn Ngọc H1. Hình thức mua bán giao hàng trước,
thanh toán tiền sau mỗi vụ tôm. Tính đến năm 2021, vchồng ông C, H1 còn
nợ bà số tiền 1.658.279.000 đồng, giữa bà và vợ chồng ông C, bà H1 đã đối chiếu
và thống nhất số nợ trên nhưng ông C, bà H1 hứa hẹn nhiều lần mà không trả.
T1 yêu cầu ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Ngọc H1 cùng nghĩa vụ trả cho
T1 stiền 1.658.279.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, yêu cầu trả tiền khi án
có hiệu lực pháp luật.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh T2 trình bày: Năm
2019 do mối quan hệ quen biết nên anh cho vợ chồng ông Nguyễn n C
Nguyễn Ngọc H1 mượn tiền để làm vốn nuôi tôm với tổng số tiền nợ
45.000.000 đồng. Anh T2 yêu cầu ông C và bà H1 thanh toán số tiền nợ
45.000.000 đồng cho anh.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn K trình bày:
Ngày 18/6/2024 ông cho ông C mượn số tiền 400.000.000 đồng, hẹn 02 tháng
sau trả tiền nhưng đến nay ông C vẫn chưa trả. Nay ông yêu cầu ông C trả số tiền
400.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị N1 trình bày:
Năm 2019 do có mối quan hệ quen biết nên bà có cho vợ chồng ông Nguyễn Văn
C Nguyễn Ngọc H1 mượn tiền để làm vốn nuôi tôm với tổng số tiền nợ
42.000.000 đồng. N1 yêu cầu ông C H1 thanh toán số tiền nợ
42.000.000 đồng cho bà.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tăng Văn D trình bày:
Thửa đất số 1077 có nguồn gốc của gia đình ông D tặng cho ông, được cấp Giấy
chứng nhận QSD đất vào thời gian không nhớ cụ thể nhưng cách nay trên 10 năm
6
ông cho N một phần đất đcất nhà trên thửa đất số 1077. Khi cho đất
không đo nên không xác định được diện tích, việc cho đất không làm giấy
tờ. Sau khi cho đất N cất nhà một thời gian thì ông D chuyển nhượng đất
cho ông C. Khi bán đất cho ông C thì ông D i với vợ chồng ông C N
trừ phần đất của N ra thêm 02m phải chừa lại, còn lại diện tích bao nhiêu
ông bán hết cho ông C. Nhưng đến nay ông D mới biết toàn bộ diện tích thửa đất
số 1077 đã sang tên qua ông C lý do gì thì ông không biết. Ông D yêu cầu ông
C phải trả tiền sử dụng đất cho bà N phần diện tích mà ông đã cho N cất nhà ở
trước khi ông bán cho ông C, ông không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 14
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp đã xử:
1. Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Văn C bà Nguyễn
Ngọc H1.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.
Chia cho ông Nguyễn Văn C diện tích 892,5m
2
đất thuộc thửa đất số 1077,
tờ bản đồ số 05, diện ch 1.770m
2
, đất lúa, theo Giấy chứng nhận QSD đất số
H01554 do UBND huyện G cấp ngày 26/9/2008, đã chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Văn C, sinh năm 1972, CMND số 310848869, cấp ngày 18/6/2008, ngụ
tại: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay ấp T, G, tỉnh Đồng Tháp);
nhận chuyển nhượng QSD đất theo hợp đồng số 135 ngày 29/10/2008; trên
đất có 26 cây dừa.
Có Sơ đồ kèm theo.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Nguyễn Ngọc H1.
Chia cho Nguyễn Ngọc H1 diện tích 892,5m
2
đất thuộc thửa đất số
1077, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.770m
2
, đất lúa, theo Giấy chứng nhận QSD đất
số H01554 do UBND huyện G cấp ngày 26/9/2008, đã chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Văn C, sinh năm 1972, CMND số 310848869, cấp ngày 18/6/2008, ngụ
tại: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay ấp T, G, tỉnh Đồng Tháp);
nhận chuyển nhượng QSD đất theo hợp đồng số 135 ngày 29/10/2008; trên
đất có căn nhà của bà Nguyễn Thị N, 01 cây xoài và 03 bụi chuối.
Có Sơ đồ kèm theo.
Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Ngọc H1 tiếp tục cho Nguyễn
Thị N tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất 165,4m
2
thuộc thửa đất 1077, diện
tích 892,5m
2
mà bà H1 được nhận.
Chia cho bà Nguyễn Ngọc H1 phần công sức đóng góp quản lý, tôn tạo đối
với thửa đất s215, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.350,8m
2
, đất nông thôn và đất
trồng cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận QSD đất số CH04200 do UBND huyện
G cấp ngày 10/11/2014, tặng cho ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972, CMND số
7
310848869, địa chỉ thường trú: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp
T, G, tỉnh Đồng Tháp) theo hồ số 004200.TA.001 theo Hợp đồng tặng cho
số 1915 ngày 28/3/2022 tương đương 20% giá trị QSD đất là 156.696.000 đồng.
Chia cho bà Nguyễn Ngọc H1 ½ giá trị ngôi nhà, cây trồng, tiền san lấp đất
trên thửa đất 215, ½ giá trị cây trồng trên thửa đất 1077, ½ giá trị máy, thiết bị
nuôi tôm với số tiền 364.842.000 đồng.
Kể từ ngày Nguyễn Ngọc H1 đơn yêu cầu thi hành án nếu ông
Nguyễn Văn C không giao stiền trên thì hàng tháng ông C phải trả lãi tương
ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự.
Giao cho ông C tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà, 68 cây dừa (có 46 cây
dừa di dời từ thửa đất 1077 qua), 03 cây xoài, 02 cây mận trên thửa đất số 215, tờ
bản đồ số 20, diện tích 1.350,8m
2
, đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm, theo
Giấy chứng nhận QSD đất số CH04200 do UBND huyện G cấp ngày 10/11/2014,
tặng cho ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972, CMND số 310848869, địa chỉ
thường trú: Ấp T, T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay ấp T, G, tỉnh Đồng
Tháp) theo hồ sơ số 004200.TA.001 theo hợp đồng tặng cho số 1915 ngày
28/3/2022.
Ông Nguyễn n C bà Nguyễn Ngọc H1 được quyền liên hvới
quan thẩm quyền để đăng cấp Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định
pháp luật.
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc yêu
cầu bà Nguyễn Thị N di dời căn nhà và công trình xây dựng có diện tích 165,4m
2
thuộc thửa đất 1077, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.770m
2
, đất lúa, theo Giấy chứng
nhận QSD đất số H01554 do UBND huyện G cấp ngày 26/9/2008, đã chuyển
nhượng cho ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972, CMND số 310848869, cấp ngày
18/6/2008, ngụ tại: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, G, tỉnh
Đồng Tháp); nhận chuyển nhượng QSD đất theo hợp đồng số 135 ngày
29/10/2008 và 79,8m
2
thuộc đất bờ kênh.
5. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu
công nhận phần đất diện tích 165,4m
2
đất thuộc thửa đất s1077, tờ bản đồ s
05, diện tích 1.770m
2
, đất lúa, theo Giấy chứng nhận QSD đất số H01554 do
UBND huyện G cấp ngày 26/9/2008, đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C,
sinh năm 1972, CMND s310848869, cấp ngày 18/6/2008, ngụ tại: Ấp T, T,
huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay ấp T, G, tỉnh Đồng Tháp); nhận chuyển
nhượng QSD đất theo hợp đồng số 135 ngày 29/10/2008 thuộc QSD đất của
Nguyễn Thị N.
8
6. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Nguyễn Thị T1 ông Nguyễn Văn C,
Nguyễn Ngọc H1.
Ông Nguyễn Văn C Nguyễn Ngọc H1 mỗi người trách nhiệm trả
cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 829.139.500 đồng.
Kể từ ngày Nguyễn Thị T1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn
Văn C Nguyễn Ngọc H1 không trsố tiền trên thàng tháng ông C
H1 phải trả lãi tương ứng với số tiền thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
7. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn K.
Buộc ông Nguyễn Văn C trách nhiệm trả cho ông Phan Văn K số tiền
400.000.000 đồng.
Kể từ ngày ông Phan Văn K đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn
Văn C không trả số tiền trên thì hàng tháng ông C phải trả lãi tương ứng với số
tiền và thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Ngọc H1 trả lại cho ông Nguyễn
Văn C số tiền 176.885.000 đồng.
Kể từ ngày ông Nguyễn Văn C đơn yêu cầu thi hành án nếu Nguyễn
Ngọc H1 không trả số tiền trên thì hàng tháng bà H1 phải trả lãi tương ứng với số
tiền và thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự.
8. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N1.
Buộc ông Nguyễn Văn C Nguyễn Ngọc H1 mỗi người trả cho bà
Nguyễn Thị N1 số tiền 21.000.000 đồng.
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị N1 đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn
Văn C Nguyễn Ngọc H1 không trsố tiền trên thàng tháng ông C
H1 phải trả lãi tương ứng với số tiền thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
9. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê T2.
Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Ngọc H1 mỗi người trả cho anh
T2 số tiền 22.500.000 đồng.
Kể từ ngày anh T2 đơn yêu cầu thi nh án nếu ông Nguyễn Văn C
và bà Nguyễn Ngọc H1 không trả số tiền trên thì hàng tháng ông C và bà H1 phải
trả i tương ng với số tiền thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
10. Về án phí:
10.1. Ông Nguyễn Văn C phải chịu:
9
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 75.000 đồng;
- Án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung là 22.493.840 đồng;
- Án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị T1
được chấp nhận là 15.437.168 đồng;
- Án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn K
được chấp nhận là 20.000.000 đồng;
- Án pdân sự thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị N1
được chấp nhận là 1.050.000 đồng;
- Án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của anh T2 được
chấp nhận là 1.125.000 đồng;
- Án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị N không
được chấp nhận là 300.000 đồng;
Tổng cộng án phí ông C phải chịu 60.606.008 đồng, được trừ vào tạm
ứng án phí ông C đã nộp gồm 22.713.000 đồng theo biên lai thu số 0013187 ngày
24/01/2024 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013837 ngày 17/12/2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông (nay là Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Tháp), nên ông C còn phải nộp tiếp số tiền 37.593.008 đồng.
11.2. Bà Nguyễn Ngọc H1 phải chịu:
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 75.000 đồng;
- Án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung là 36.673.146 đồng;
- Án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị T1
được chấp nhận là 15.437.168 đồng;
- Án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị N1
được chấp nhận là 1.050.000 đồng;
- Án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của anh T2 được
chấp nhận là 1.125.000 đồng;
Tổng cộng án phí H1 phải chịu 54.485.314 đồng, H1 được giảm
50% án pdo gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không đtài sản để nộp án
phí (bị ông C đuổi ra khỏi nhà, phải thuê nhà trọ sinh sống, không nghề
nghiệp, thu nhập thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ruộng đất không có) xác
nhận của UBND G, tỉnh Đồng Tháp nên H1 phải chịu 27.242.657 đồng án
phí dân sự thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp gồm 7.500.000 đồng
theo biên lai thu số 0013459 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Công Đông, tỉnh Tiền Giang (nay Thi hành án dân sự tỉnh Đồng
Tháp) 1.305.425 đồng theo biên lai thu số 0000666 ngày 24/7/2025 của Thi
hành án n sự tỉnh Đồng Tháp, nên H1 còn phải nộp tiếp số tiền 18.437.232
đồng.
10
11.3. H2 lại cho ông Phan Văn K 20.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu số 0013553 ngày 27/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Gò Công Đông (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).
11.4. H2 lại cho bà Nguyễn Thị N1 1.050.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu số 0013693 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Gò Công Đông (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).
11.5. H2 lại cho anh T2 1.125.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu số 0013692 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Gò Công Đông (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).
11.6. H2 lại cho Nguyễn Thị N 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu số 0013083 ngày 13/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Gò Công Đông (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi
hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/8/2025 nguyên đơn ông Nguyễn Văn C
đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một
phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bị đơn, cụ thể:
- Chia ½ thửa đất số 1077 trong khối tài sản thuộc vị trí đất căn nhà
của Nguyễn Thị N cho ông Nguyễn Văn C. Yêu cầu N di dời căn nhà
công trình xây dựng diện tích 165,4m
2
thuộc thửa đất số 1077 ra khỏi thửa đất
số 1077 để ông C điều kiện thu hồi tài sản, bán tài sản để trả nợ cho các ch
nợ (bà Nguyễn Thị T1 và ông Phan Văn K).
- Công nhận thửa đất số 215, tờ bản đồ số 20 theo Giấy chứng nhận QSD
đất, quyền shữu nhà tài sản khác gắn liền với đất sBP815894, số vào số
cấp GCN: CH04200 do UBND huyện G, tỉnh Tiền Giang (cũ) cấp ngày
10/4/2014 tài sản riêng của ông Nguyễn Văn C không chấp nhận yêu cầu
của bà Nguyễn Ngọc H1 về việc xem xét giá trị công sức đóng góp, tôn tạo, quản
lý đối với tài sản này.
- Đối với khoản nợ chung của Nguyễn Thị T1 ông Phan Văn K, đề
nghị Tòa án xác định phần trách nhiệm cụ thể của từng người để quyền lợi
ích hợp pháp được đảm bảo và thuận tiện cho quá trình thi hành án.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C y quyền cho ông Nguyễn Khắc H
đại diện trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông C, theo
đó ông C được chia ½ thửa đất số 1077 và được nhận vị trí đất có căn nhà của
Nguyễn Thị N; xác định thửa đất số 215 là tài sản riêng của ông C do hộ bà N đã
11
cho riêng ông C năm 2022, không còn là tài sản chung với bà H1; Tòa án sơ thẩm
đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng khi chấp nhận thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà
H1 tại phiên tòa thẩm đối với phần công sức đóng góp quản lý, tôn tạo thửa
đất số 215 tương đương 20% giá trị QSD đất, trong khi trước đó H1 yêu cầu
được chia ½ thửa đất này, đây là hai yêu cầu khác nhau; Tòa án sơ thẩm xác định
căn nhà được xây dựng mới hoàn toàn trong thời kỳ hôn nhân để chia ½ cho
H1 là không sở, do căn nhà ông C được ông ngoại tặng cho riêng cùng với
thửa đất số 215, căn nhà này chỉ được sửa chữa lại, trong trường hợp phải chia
đôi thì chỉ chia phần giá trị sửa chữa mới; số tiền bán máy móc, thiết bị nuôi tôm
là 48.000.000 đồng thì ông C đã sử dụng để chi phí hết cho cuộc sống gia đình và
chi phí sản xuất, nên Tòa án cấp sơ thẩm chia ½ cho H1 không phù hợp; số
tiền nợ ông Phan Văn K 400.000.000 đồng cần chia đôi, theo đó H1 ông C
mỗi người có trách nhiệm trả ông K 200.000.000 đồng mới hợp lý.
- Bị đơn Nguyễn Ngọc H1 ủy quyền cho ông Trần Quang V đại diện
trình bày: Không thống nhất kháng cáo của ông C. Bởi lẽ, H1 hai con
không có chỗ ở, nên việc yêu cầu được chia phần đất thuộc thửa 1077 tại vị trí
nhà bà N (chị ruột của ông C) là phù hợp đH1 điều kiện thuận lợi xây
dựng nhà ở, đồng thời đảm bảo chỗ ổn định cho N, hạn chế tranh chấp
phù hợp Điều 59, Điều 105 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014; Đối với thửa
đất số 215, từ năm 1990 khi chung sống với ông C thì H1 công sức đóng
góp trong việc tôn tạo giữ gìn tài sản cùng ông C, nên Tòa án thẩm chấp
nhận yêu cầu của bà H1 đối với phần công sức đóng góp quản lý, tôn tạo thửa đất
số 215 tương đương 20% giá trị QSD đất là phù hợp; căn nhà được xây dựng mới
trong thời kỳ hôn nhân, nên Tòa án thẩm chia ½ giá trị căn nhà cho H1
có căn cứ phù hợp lời khai những người làm chứng; số tiền bán máy móc, thiết bị
nuôi tôm 48.000.000 đồng thì ông C đã thừa nhận, nên Tòa án cấp thẩm
chia ½ cho bà H1 là phù hợp; số tiền nợ ông Phan Văn K 400.000.000 đồng, ông
K chỉ yêu cầu đối với cá nhân ông C, còn bà H1 đã tự nguyện trả lại cho ông C số
tiền 176.885.000 đồng phù hợp theo thỏa thuận khi trả nợ cho Ngân hàng đã
được ghi nhận trong biên bản hòa giải ngày 15/11/2024. vậy, yêu cầu Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông C giữ nguyên bản án
thẩm.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C thc
hiện đúng quy định và hp l theo quy định của Bộ luật Ttụng dân sự. Việc
tuân theo pháp luật của Thm phán, Hội đồng xét x Thư phiên tòa kể t
khi th lý v án đến thời điểm xét x phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng,
đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thc
hiện đúng, đầy đủ quyn và nghĩa v tố tụng theo quy định của pháp luật.
12
+ Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Ttụng dân sự; điểm b,
khoản 2 Điều 13, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C; Sửa
một phần Bản án thẩm số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp theo hướng: Buộc bị đơn Nguyễn Ngọc H1
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định; Giữ nguyên các phần khác của án
sơ thẩm; Án phí dân sự phúc thẩm buộc ông C phải chịu theo quy định.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
680/PB-VKS-HNGĐ ngày 16/4/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng ctrong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp thụ và giải
quyết thẩm vụ án đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều
35 điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và
thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Văn C
không thng nhất bản án thẩm nên đã kháng cáo. Vic ông C kháng cáo vào
ngày 25/8/2025 là trong thi hn kháng cáo theo quy đnh tại Điều 273 B lut
T tng dân sự, nên được xem xét gii quyết theo th tc phúc thm.
Ti phiên tòa phúc thm Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Thành T, anh
T2, Nguyễn Thị N1, ông Tăng Văn D vắng mặt đơn yêu cầu xét xử vắng
mặt; còn bà Nguyễn Thị T1, ông Phan Văn K vắng mặt sau khi được Tòa án triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đng xét x tiến hành xét x vng mt theo
quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V ni dung: Ông Nguyễn Văn C Nguyễn Ngọc H1 chung sống
với nhau năm 1990, đăng kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện G, tỉnh Tiền
Giang ngày 02/7/2000. Ông C H1 02 con tên Nguyễn Thanh L, sinh
ngày 23/12/1994 Nguyễn Thị Thùy D1, sinh ngày 24/01/2002. i sản ông C
và bà H1 tạo lập trong thời kỳ hôn nhân gồm QSD đất thuộc thửa 1077, tờ bản đồ
số 05, diện tích 1.770m
2
, đất lúa (viết tắt thửa 1077) thửa đất số 215, tờ bản
đồ số 20, diện tích 1.350,8m
2
, đất nông thôn đất trồng cây lâu năm (viết tắt
thửa 215) do ông Nguyễn Văn C đứng tên giấy chứng nhận QSD đất ngày
18/6/2008 (thửa 1077) và ngày 28/3/2022 (thửa 215), đất cùng tọa lạc tại ấp T, xã
T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay ấp T, xã G, tỉnh Đồng Tháp), cùng nhà ở,
công trình và cây trồng trên đất. Trong quá trình chung sống ông C H1 còn
13
nợ Nguyễn Thị T1, ông Phan n K, Nguyễn Thị N1, anh T2, do mâu
thuẫn gia đình trầm trọng ông C H1 đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay.
Các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chia tài sản chung, xác định tài
sản riêng và nghĩa vụ trả nợ khi ly hôn, do không thỏa thuận được đã làm phát
sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C như nêu trên, ngoài
ra tại phiên tòa phúc thẩm ông C bổ sung nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án
cấp thẩm xác định căn nhà được xây dựng mới tài sản chung của vợ chồng
ông C, H1 để chia cho mỗi người ½ không có sở, do căn nhà của ông
ngoại ông C tặng cho riêng ông C cùng với thửa đất 215, căn nhà được ông C sửa
lại vào năm 2017 nên cần xác định giá trị phần xây dựng mới (sửa chữa mới) đ
chia mới đúng; đối với số tiền bán máy móc, thiết bị nuôi tôm là 48.000.000 đồng
thì ông C đã sdụng để chi phí cho cuộc sống gia đình chi phí sản xuất hết
nên không thống nhất chia ½ cho bà H1. Xét đơn kháng cáo yêu cầu kháng
cáo của ông C tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
- Ông C và bà H1 thống nhất thửa đất số 1077 là tài sản chung giữa ông bà,
riêng diện tích đất 165,4m
2
mà bà N đã xây dựng (cất) nhà ở, công trình thì ông C
không thống nhất là của riêng bà N; ông C và H1 đều có yêu cầu được nhận ½
thửa đất 1077 tại vị trí đất có ngôi nhà của bà N. Xét bà N thống nhất với yêu cầu
của H1 yêu cầu được nhận ½ thửa đất 1077 tại vị trí căn nhà của N,
đồng thời ông D cũng xác nhận cho N trên đất trước khi chuyển nhượng
cho ông C dành riêng phần đất nhà bà N không chuyển nhượng cho ông C.
Ngoài ra, xét N chị ruột ông C và đã cất nhà tại thửa đất này trước khi
ông C nhận chuyển nhượng đất t ông D tại phiên tòa thẩm H1 tự
nguyện tặng cho lại N phần đất N đã cất nhà khi được chia ½ thửa đất
1077, do đó để đảm bảo ổn định về chỗ cho N trong quá trình giải quyết
tranh chấp, đồng thời tạo điều kiện cho H1 chỗ ở sau khi ly hôn nên Tòa án
cấp sơ thẩm giao cho H1 ½ thửa đất 1077 diện tích 892,5m
2
tại vị trí
ngôi nhà của bà N, trên đất còn có 01 cây xoài và 03 bụi chuối là có cơ sở.
- Đối với thửa đất s215 ông C cho rằng đây là tài sản riêng của ông C
được tặng cho năm 2022, căn cứ hồ cấp giấy chứng nhận QSD đất thể hiện
mặc ông C được tặng cho năm 2022 nhưng về bản chất đây thửa đất vợ
chồng ông C được cha mcho canh tác, tôn tạo và quản từ năm 1990 cho đến
nay, do giấy chứng nhận QSD đất cấp cho hộ Nguyễn Thị N (chị ruột ông C)
nên năm 2022 mới thực hiện thủ tục tặng cho để ông C đứng tên hợp pháp. Theo
trình bày của N thì hợp đồng tặng cho QSD đất thửa đất số 215 chuyển cho
cả gia đình của ông C nhưng do không hiểu biết n hợp đồng tặng cho
nhân ông C, ngoài ra bà N xác nhận bà H1 đã sinh sống cùng ông C quản lý thửa
đất 215 từ năm 1993 đến năm 2022. Như vậy, mặc dù thửa đất 215 về nguồn gốc
14
của gia đình ông C nhưng H1 cũng có công quản lý, tôn tạo từ năm 1993 đến
nay, nên việc Tòa án cấp thẩm xem xét chấp nhận cho bà H1 được hưởng một
phần công sức đóng góp đối với thửa đất 215 này với tỷ lệ 20% giá trị QSD đất là
sở phù hợp. Việc thay đổi yêu cầu của H1 tại phiên tòa thẩm từ
yêu cầu chia đôi thửa đất số 215 sang yêu cầu được nhận 20% giá trị QSD đất do
công sức đóng góp, tôn tạo đối với thửa đất 215, xét không vượt qyêu
cầu khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân
sự, nên việc Tòa án cấp thẩm chấp nhận thay đổi yêu cầu của bà H1 căn
cứ, không xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
- Đối với căn nhà trên thửa đất 215, ông C cho rằng do ông ngoại của ông
tặng cho riêng ông cùng với thửa đất 215, căn nhà này được ông C sửa lại vào
năm 2017 nên trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng cần xác định giá
trị phần xây dựng mới (sửa chữa mới) để chia mới đúng. Tuy nhiên, ông C không
cung cấp được i liệu, chứng cứ chứng minh phần giá trị xây dựng mới của căn
nhà. Ngoài ra, xét lời khai của những người làm chứng xác định căn nhà tại thửa
đất s215 xây dựng mới hoàn toàn chứ không phải sửa chữa lại như ông C
trình bày. Mặt khác, xét thấy căn nhà được xây dựng trong thời kỳ hôn nhân, ông
C không chứng minh được giá trị tài sản riêng giá trị tài sản chung của vợ
chồng đối với căn nhà. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định căn nhà tài sản
chung được vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân để chia đôi cho ông C và
H1 là có cơ sở.
- Đối với số tiền bán máy móc, thiết bị nuôi tômH1 yêu cầu chia đôi số
tiền 55.000.000 đồng. Còn ông C thừa nhận đã bán máy móc, thiết bị nuôi tôm
được stiền 48.000.000 đồng nhưng cho rằng ông đã sử dụng số tiền này để chi
phí cho cuộc sống gia đình chi phí sản xuất hết nhưng ông C không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ chứng minh trình bày của mình có cơ sở. Cho nên việc
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu bà H1 chia đôi số tiền này
căn cứ và phù hợp pháp luật.
- Đối với yêu cầu độc lập của ông Phan Văn K yêu cầu ông C trả số tiền
400.000.000 đồng. Tại phiên hòa giải ngày 15/11/2024 (bút lục 302-303), ông C
đồng ý trả cho ông K 233.115.000 đồng, H1 đồng ý trả 176.885.000 đồng
nhưng ông K chỉ yêu cầu ông C trả số tiền trên do ông K chỉ cho một mình ông C
vay. Nên Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K, buộc ông
C trả cho ông K số tiền 400.000.000 đồng và ghi nhận sự tự nguyện của bà H1 trả
lại cho ông C số tiền 176.885.000 đồng là có cơ sở.
Ngoài ra, xét thấy việc Tòa án cấp thẩm chia đôi giá trị cây trồng, công
trình, vật kiến trúc trên đất thửa 1077 thửa 215 cho ông C, H1 mỗi người
nhận ½ sau khi ly hôn, t căn cứ. Đối với khoản nợ Nguyễn Thị T1,
Nguyễn Thị N1 và anh T2, tại phiên tòa phúc thẩm ông C không kháng cáo,
15
thống nhất bản án thẩm nên Tòa án cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét giải
quyết.
[4] Tại phiên tòa, anh Nguyễn Khắc H đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn ông Nguyễn Văn C yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng
cáo của ông C như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của anh H
không đcăn cứ, đồng thời ông C cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình sở như đã phân tích trên,
nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] T s trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
ca ông Nguyễn Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng t xử xét thấy là có sở và phù hp pháp lut, nên
được xem xét chấp nhận. Riêng đề nghị sửa án phí thẩm buộc bị đơn
Nguyễn Ngọc H1 phải chịu toàn bộ 54.485.314 đồng, do theo quy định tại
điểm b, khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án t H1 không thuộc trường hợp
được giảm 50% án pdân sự thẩm. Xét thấy giá trị tài sản chung của vợ
chồng H1 được chia thấp hơn nghĩa vụ nH1 phải trsau khi ly hôn, mặt
khác sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không
kháng nghị đối với phần án phí H1 phải chịu, nếu sửa án sơ thẩm buộc H1
phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là gây bất lợi cho bà H1, không đảm bảo
quyền kháng cáo của H1. vậy, để ổn định bản án, nên Hội đồng xét xử
không chấp nhận đnghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung này giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của ông Nguyễn Văn C không được chấp
nhận, nên ông C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phn khác ca bn án thm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C;
2. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 31/2025/HNGĐ-ST
ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp.
16
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí a
án.
Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được
trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông C đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001877, ngày 25/8/2025 của Thi hành án dân
sự tỉnh Đồng Tháp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tnh Đng Tháp;
- TAND Khu vc H - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc H - Đng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án (Liêm).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Tải về
Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất