Bản án số 353/2026/DS-PT ngày 08/04/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 353/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 353/2026/DS-PT ngày 08/04/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 353/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông L kiện ông  yêu cầu trả đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH L Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 353/2026/DS-PT
Ngày: 08/4/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Triệu Hữu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lương
Ông Vương Minh Tâm
- Thư phiên tòa: Huỳnh Thanh Thảo Thẩm tra viên chính Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh L tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Anh Định - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh L xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thsố: 119/TLPT DS ngày 09/02/2026 về
việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 273/2025/ DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh L bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 276/2026/-PT ngày
04 tháng 3 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số 383/2026/QĐ-PT ngày
24/3/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng L; Địa chỉ: ấp P, T, tỉnh Vĩnh L:
mặt
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thanh L, sinh năm 1977; Địa chỉ:
Số C, đường số A, khu dân cư B, khu phố C, phường B, tỉnh Vĩnh L (văn bản ủy
quyền ngày 16/3/2026): có mặt
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Văn , sinh năm 1936. Địa chỉ: ấp T, T, tỉnh Vĩnh L:
vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1979; Địa chỉ:
ấp H, xã P, tỉnh Vĩnh L: có mặt
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Thị Mỹ H- Trợ giúp viên
pháp lý Trung tâm T, tỉnh Vĩnh L: có mặt
2.2. Bà Thị G, sinh năm 1947. Địa chỉ: ấp T, T, tỉnh Vĩnh L: vắng mặt.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1979; Địa chỉ:
ấp H, xã P, tỉnh Vĩnh L: có mặt
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Ông Đào Công H- Trợ giúp viên
pháp lý Trung tâm T, tỉnh Vĩnh L: có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1981: vắng mặt;
3.2. Bà Hồ Thị Kim L, sinh năm 1987: vắng mặt;
3.3. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1972: vắng mặt;
3.4 Bà Phạm Thị K, sinh năm 1976: vắng mặt;
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh L.
1.3.5. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983: vắng mặt
Địa chỉ: ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh L.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T, L, ông V, K, T: Ông Huỳnh
Minh T, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp H, xã P, tỉnh Vĩnh L: có mặt.
4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hoàng L là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/9/2024, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện đề ngày
12/8/2025, đơn xin rút đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện đề ngày 27/8/2025, biên
bản hòa giải ngày 31/10/2025, ông Nguyễn Tấn Đ (là đại diện theo ủy quyền của
ông Nguyễn Hoàng L) trình bày:
Ông Nguyễn Hoàng L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tại đơn khởi kiện
đề ngày 23/9/2024 yêu cầu ông Nguyễn Văn , Thị G cùng những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung T, Hồ Thị Kim L, ông
Nguyễn Văn V, Phạm Thị K phải giao phần đất đã chuyển nhượng ngày
01/11/2021 có diện tích qua đo đạc thực tế 986.6m
2
thửa đất số 211 tờ bản đồ số
32 cho ông L quản lý sử dụng, bởi vì sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất tại y ban nhân dân T thì ông kêu Nguyễn Thị T nhận tiền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ông L với bà T giao nhận tiền tại nhà ông
L, giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 450.000.000đ nhưng chỉ ghi trong
hợp đồng chuyển nhượng ch20.000.000đ, hdo T tự thuê người làm
chứ ông L không biết. Việc giao nhận số tiền chuyển nhượng được giao hai lần,
lần thứ nhất 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), lần thhai 150.000.000đ
(một trăm năm mươi triệu đồng) chứ không phải 450.000.000đ (bốn trăm năm
mươi triệu đồng), cả hai biên nhận này đều không có ghi ngày tháng năm. Do khi
mua đất không mua tài sản trên đất nên nay ông L đồng ý trả lại giá trbằng
tiền đối với tất cả tài sản trên đất cho ông Ẩ, bà G, ông T, bà L, ông V, bà K theo
giá Hội đồng định giá đã định.
* Tại bản tự khai ngày 22/4/2025, đơn phản tố đề ngày 03/6/2025, biên bản
hòa giải ngày 31/10/2025, ông Huỳnh Minh T (là đại diện theo y quyền của ông
Nguyễn Văn , Thị G, ông Nguyễn Văn V, Phạm Thị K, ông Nguyễn
Trung T, bà Hồ Thị Kim L, bà Nguyễn ThT) trình bày:
3
Cuối tháng 10/2021, bà Nguyễn Thị T có năn nỉ ông Nguyễn Văn ,
Thị G cho mượn sổ đỏ thế chấp vay tiền, quá thương con nên đã cho T mượn
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 211 tờ bản đồ số 32 để thế chấp vay
tiền. Sau đó, ông , G đến Ủy ban nhân dân T tên trong hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông L nhưng tưởng là ký giấy để bà T vay
tiền nên khi hợp đồng xong thì ông , bà G cũng không nhận số tiền
20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) ghi trong hợp đồng. Trên đất này, ông G
cho con ruột ông T cất chuồng riêng, kho đrơm; cho ông C nhà
riêng, còn nhà của ông nữa nên không thể chuyển nhượng quyền sử dụng
đất được mà đây là tiền vay của T với ông L. Bà T vay tiền của ông L có đóng
lãi, đã cung cấp được một biên lai đóng lãi bằng hình thức chuyển khoản nên
chứng tỏ lời khai của ông Ẩ, bà G, bà T là đúng sự thật của hợp đồng vay tài sản
giữa ông L với bà T nên ông G, bà vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố là yêu cầu
hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất i sản gắn liền với đất lập
ngày 01/11/2021 tại thửa đất số 667 tờ bản đsố 10 (nay là thửa số 211 tờ bản đồ
số 32) yêu cầu kiến nghị quan thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất từ ông L sang cho ông , bà G đứng tên tại thửa số 667 tờ bản
đồ số 10 (nay là thửa số 211 tờ bản đồ số 32). Còn ông L với bà T giải quyết tiền
vay như thế nào thì ông Ẩ, bà G không biết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 273/2025/DS-ST ngày 17/11/2025của Tòa án
nhân dân khu vực 8- Vĩnh L đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng L về việc yêu
cầu ông Nguyễn Văn , Thị G, ông Nguyễn Trung T, HThị Kim L,
ông Nguyễn Văn V, Phạm Thị K phải giao phần đất đã nhận chuyển nhượng
ngày 01/11/2021 có diện tích qua đo đạc thực tế 986.6m
2
thửa đất số 211 tờ bản
đồ số 32 tọa lạc tại xã T, tỉnh Vĩnh L cho ông L quản lý sử dụng (có họa đồ ngày
03/10/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực 25 kèm theo).
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn , Thị G đối với
ông Nguyễn Hoàng L về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 01/11/2021 tại thửa số 667 tờ bản đồ
số 10 (nay là thửa đất số 211 tờ bản đồ số 32).
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất và tài sản gắn liền với đất
lập ngày 01/11/2021 tại thửa số 667 tờ bản đồ số 10 (nay thửa đất số 211 tờ bản
đồ số 32), có diện tích qua đo đạc thực tế 986.6m
2
giữa ông Ẩ, G với ông L tọa
lạc tại T, tỉnh Vĩnh L (có họa đồ ngày 03/10/2025 của Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai khu vực 25 kèm theo).
- Kiến nghị quan thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất tại thửa đất s211 tờ bản đồ số 32, diện tích qua đo đạc thực tế
986.6m
2
tông L sang cho ông , bà G đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí ttụng, án phí, nghĩa vụ thi
hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
4
Sau khi xét xử thẩm, ngày 25 tháng 11 năm 2025, nguyên đơn ông Nguyễn
Hoàng L kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền trình
bày: Nguyên đơn thay đổi một phần kháng cáo. Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo
hướng buộc ông Ẩ, bà G liên đới trả lại cho ông L số tiền 450.000.000 đồng.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng về phía bị
đơn do người đại diện theo y quyền trình bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo.
Đề nghị giữ nguyên bản án thẩm. T chỉ thừa nhận vay tiền của ông L số tiền
300.000.000 đồng.
Trong phần tranh tụng, các đương sự thống nhất: Biên lai nhận tiền (BL40)
nội dung T nhận 300.000.000 đồng đúng chữ ký, chviết của T. Các
đương sự thống nhất kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá.
Vấn đề không thống nhất:
Nguyên đơn trình bày: Số tiền 450.000.000 đồng theo biên lai nhận tiền
không ghi ngày tháng là do bà T ký vay tiền trước khi ông L hợp đồng chuyển
nhượng ngày 01/11/2011 với ông Ẩ, bà G. Sau đó, ông L mang biên lai nhận tiền
do T đi vay tiền của người khác để có tiền nhận chuyển nhượng đất với ông
, bà G. Biên lai nhận tiền 300.000.000 đồng là do bà T viết, ký tên và nhận tiền
tại xã chứng kiến của ông , G. Sau đó, ông L giao thêm cho T
150.000.000 đồng không có viết biên nhận do đã có biên lai nhận tiền trước đó là
450.000.000 đồng. Ông L thừa nhận biên lai nhận tiền 450.000.000 đồng do
ông L viết nhưng chưa giao tiền.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Số tiền 300.000.000 đồng theo
biên nhận là do T vay của ông L nhiều lần trước đó. Do bà T bị nợ tiền và tin
lời T nên ông , bà G mới hợp đồng chuyển nhượng đất nhưng thực tế
không nhận tiền không giao đất. Hợp đồng chuyển nhượng đất hiệu
do giả tạo, ông , G không nhận tiền nên không liên quan tiền vay của
T. Yêu cầu ông L kiện bà T đòi tiền vay trong vụ kiện khác.
Ông L yêu cầu ông Ẩ, bà G liên đới trả số tiền 450.000.000 đồng do chuyển
nhượng đất bị hiệu nhưng ông , G không đồng ý yêu cầu ông L kiện
T bằng vụ kiện khác. T chỉ thừa nhận vay nhiều lần số tiền 300.000.000
đồng nhưng ông L trình bày tiền bà T vay là số tiền khác.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng là đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến
khi xét xử phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn không khởi kiện hợp đồng vay nên
cấp thẩm không xem xét bđơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị T)
hoàn trả số tiền vay mà dành cho đương sự vụ kiện khác là có căn cứ. Do cấp sơ
thẩm không giải quyết nên cấp phúc thẩm không thể xem xét các khoản vay tiền
này (không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm).
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
5
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn phát biểu về án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hsơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa; trên sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương
sự; căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên
tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn là hợp lệ nên được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có người
đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng nên Tòa án vẫn xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn đã được thay đổi tại phiên
tòa về việc yêu cầu buộc ông , bà G liên đới trả cho ông L số tiền 450.000.000
đồng liên quan Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/11/2021 buộc bị đơn cùng
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giao diện tích đất đo đạc thực tế
986,6m
2
thuộc thửa 211 nhưng bị đơn yêu cầu phản tố hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất do giả tạo, che giấu hợp đồng vay tiền giữa T
ông L; ông , G không nhận tiền chuyển nhượng đất. Trong giai đoạn
thẩm, nguyên đơn đã nộp chứng cứ thể hiện T vay tiền bị đơn cung cấp được
chứng cứ thể hiện việc bà T trlãi stiền vay. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày nếu hợp đồng chuyển nhượng đất
bị hiệu tyêu cầu giải quyết hậu quả buộc ông , G liên đới với T
trả lại tiền do T đã nhận nhưng Tòa án cấp thẩm chưa giải thích hậu quả
pháp lý của hợp đồng vô hiệu là chưa thực hiện đúng hướng dẫn của Tòa án nhân
dân tối cao tại mục 2 phần III Công văn số 01/2017/GĐ- TANDTC ngày
07/4/2017 của Tòa án nhânn Tối cao về giải đáp một số vấn đề nghiệp v“Khi
giải quyết vụ án dân sự yêu cầu tuyên bố hợp đồng hiệu nhưng đương sự
không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án phải giải thích cho
các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng hiệu. Việc giải
thích phải được ghi vào biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án. Trường hợp Tòa án đã
giải thích nhưng tất cả đương sự vẫn không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng
hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không phải giải quyết hậu quả
hợp đồng hiệu; trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp
đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba”.
Đồng thời, mặc dù trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có yêu cầu
giải quyết buộc bị đơn liên đới với T trả lại tiền và sau đó rút lại yêu cầu này
và không có yêu cầu giải quyết hợp đồng vay tiền của bà T. Tuy nhiên, bị đơn đã
yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do giả tạo nhằm che
giấu hợp đồng vay tiền và Tòa án cũng đã thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn nên
vẫn thuộc phạm vi xét xử thẩm theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng
dân sự. Hồ vụ án cũng thể hiện nguyên đơn đã nộp chứng cứ bản gốc biên
6
lai nhận tiền nội dung T vay tiền và Tòa án cấp thẩm cũng đã xác định
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu do giả tạo nhằm che giấu
giao dịch vay tiền giữa T ông L. Tuy nhiên, Thẩm phán cấp thẩm chưa
xác minh làm số tiền do ông L cho T vay 300.000.000 đồng hay
450.000.000 đồng theo biên lai nhận tiền và ông Ẩ, bà G nghĩa vụ như thế nào
đối với số tiền thể hiện trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà ông
, G đã bhiệu để xem xét giải quyết trong cùng vụ án chưa thực hiện
đúng quy định tại khoản 1 Điều 124 của Bộ luật dân sự “1. Khi các bên xác lập
giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì
giao dịch dân sự giả tạo hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực,
trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật
khác có liên quan ”.
Mặc khác, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết hủy hợp đồng cũng không đúng
quy định tại Điều 423 của Bộ luật dân sự hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đã được Tòa án cấp thẩm xác định là giả tạo nhằm che giấu hợp đồng
vay tiền nên thuộc trường hợp hợp đồng bị hiệu do giả tạo theo quy định tại
Điều 122, Điều 124 của Bộ luật dân sự.
Do vậy, để đảm bảo các nguyên tắc xét xử, giải quyết đầy đủ các quan hệ
pháp luật tranh chấp, các vi phạm về thủ tục tố tụng việc thu thập, đánh giá
chứng cứ tại cấp sơ thẩm chưa được đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung
được nên cần hủy bản án sơ thẩm và chuyển giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ
thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Các căn cứ pháp đánh giá chứng cứ như đã nhận định trên cơ
sở để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự quan điểm của
đại diện Viện kiểm sát.
[4] Án phí dân s phúc thm: Do hy bản án sơ thẩm nên người kháng cáo
không phi chu án phí dân s phúc thẩm. Nghĩa v chu án phí chi pt tng
khác được xác đnh li khi gii quyết li v án theo th tục sơ thẩm.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 3 Điều 148 ca B lut t tng dân s
năm 2015; khoản 3 Điều 29 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH4 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Hy bn án dân s sơ thẩm s 273/2025/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm
2025 ca Toà án nhân dân khu vc 8 nh L v việc Tranh chp hp đồng
chuyển nhượng quyn s dụng đt” giữa nguyên đơn ông Nguyn Hoàng L vi
b đơn ông Nguyễn Văn Ẩ, bà Nguyn Th G; người có quyn lợi, nghĩa vụ liên
quan Nguyn Th T và 04 người khác.
Giao h cho Tòa án nhân dân khu vc 8 - Vĩnh L gii quyết li v án
theo th tục sơ thẩm.
2. Án pdân s phúc thm: Ông Nguyn Hoàng L không phi chu án phí
7
dân s phúc thm. Hoàn tr li cho ông Nguyn Hoàng L s tiền 300.000 đồng
tm ng án phí dân s phúc thẩm đã nộp theo biên lai s 0011262 ngày
04/12/2025 ca Thi hành án dân s tnh Vĩnh L.
Nghĩa vụ chu án phí chi phí t tụng khác được xác định li khi gii
quyết li v án theo th tục sơ thẩm.
3. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Chánh án;
- VKSND tỉnh Vĩnh L;
- TAND Khu vực 8 – Vĩnh L;
- VKSND Khu vực 8 – Vĩnh L;
- THADS tỉnh Vĩnh L;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Triệu Hữu
Tải về
Bản án số 353/2026/DS-PT Bản án số 353/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 353/2026/DS-PT Bản án số 353/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất