Bản án số 508/2026/DS-PT ngày 10/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 508/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 508/2026/DS-PT ngày 10/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 508/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hoàng Minh Q "tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đòi tài sản, hủy chỉnh lý biến động chuyển nhượng" Nguyễn Chánh T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 508/2026/DS-PT
Ngày: 10-4-2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, đòi tài sản, hủy chỉnh
lý biến động chuyển nhượng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Phạm Thị Thanh Giang
bà Phạm Thị Hồng Vân
- Thư phiên a: Hữu Thái Dương Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông
Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2026/TLPT-DS ngày 02 tháng 02
năm 2026 về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đòi
tài sản, hủy chỉnh lý biến động chuyển nhượng”.
Do Bản án dân sự thẩm số 304/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2026/QĐ-PT ngày 24 tháng 02
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Hoàng Minh Q, sinh năm 1982; địa chỉ: I, tầng A, khối
A (I), Khu phức hợp HaDo Centrosa thuộc Khu C, số B đường C tháng 2, khu
phố E, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Q: ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm
1983; địa chỉ: C tổ A ấp M, N, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền ngày
13/3/2026).
- Bị đơn: ông Nguyễn Chánh T, sinh năm 1968; địa chỉ: Số G L, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cũ: Số G L, phường B, quận B, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: ông Trần Quang M, sinh năm
1989; địa chỉ: Số D ấp B, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cũ: Số D ấp B,
2
xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy ủy quyền ngày 27/4/2023).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Văn phòng C; địa chỉ: ấp G, H, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: ấp G, thị
trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1984; địa chỉ: A B, phường A, Thành
phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cũ: A B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Thị H, sinh năm 1979, hộ khẩu thường trú: Số A đường số
A, Khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cũ: Số A đường số
A, Khu phố B, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của H: ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm
1982; địa chỉ: số A đường A, Khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh
(theo văn bản ủy quyền ngày 04/9/2025).
4. Ông Phạm Hồng T1, sinh năm 1985, địa chỉ: Số B, đường số A, phường
Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cũ: Số B, đường số A, phường B, thành phố
T, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Ông Trần Quốc V, sinh năm 1985; địa chỉ: A B, phường A, Thành phố
Hồ Chí Minh; địa chỉ cũ: A B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông V:
5.1. Ông Trần Minh V1, sinh năm 1999; hoặc:
5.2. Ông Nguyễn Trung H2, sinh năm 1991; hoặc:
5.3. Ông Trần Văn K, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ liên hệ: C N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cũ:
C N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy ủy quyền ngày
24/4/2023).
- Người kháng cáo: nguyên đơn, ông Hoàng Minh Q và bị đơn, ông
Nguyễn Chánh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các đơn khởi kiện ngày 17/02/2023, ngày 03/3/2023 trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, nguyên đơn ông Hoàng Minh Q do ông
Võ Hoàng Anh K1 đại diện trình bày như sau:
Tháng 12 năm 2021, ông Q có mua thửa đất số 120, tờ bản đồ số 01, tọa lạc
tại T, huyện Đ, tỉnh Long An với diện tích 1.178m
2
của Nguyễn Thị H.
Sau khi mua đất, ông Q tách mảnh đất trên thành 03 thửa, để ông Nguyễn Chánh
T đứng tên quyền sử dụng đất một phần thửa đất số 120, với diện tích 233m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số vào sổ CS 07353, số phát hành DD 539568 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh L cấp ngày 27/01/2022 (sau đây viết tắt GCNQSDĐ số
DD 539568), 02 (hai) thửa còn lại ông Q người nhà ông Q đứng tên. Tuy
nhiên, tất cả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều do ông Q cất
3
giữ. Để thể hiện việc đứng tên giùm, ngày 04/02/2022, ông T đã tự tay viết Bản
cam kết về việc đứng tên giùm ông Q mảnh đất nêu trên, nhưng ghi nhầm ngày
viết là ngày 04/02/2023.
Đến đầu tháng 5/2022, ông Q giao bản chính giấy chứng nhận để ông T
đưa cho khách xem. Ngày 05/05/2022, ông T tự ý chuyển nhượng mảnh đất của
ông Q cho ông Trần Quốc V, với giá 900.000.000 đồng. Việc ông T tự ý chuyển
nhượng đất cho người khác, tự quyết định gmua bán không sự đồng ý
của ông Q đã vi phạm cam kết ban đầu giữa ông Q ông T, vi phạm nghiêm
trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông Q. Sau đó, ông T báo đã làm mất
bản chính giấy chứng nhận. Đến ngày 16/01/2023, ông T làm đơn cớ mất giấy
tờ.
Nay, ông Q yêu cầu a án giải quyết: tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Chánh T với ông Trần Quốc V do
Văn phòng C1 số 7855, quyển số 05/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/05/2022
(sau đây viết tắt Hợp đồng số 7855); hủy phần cập nhật biến động sang tên cho
ông Trần Quốc V trên GCNQSDĐ số DD 539568 yêu cầu ông T trả cho ông
Q thửa đất số 120. Trong trường hợp không hiệu được giao dịch giữa ông T
ông V, thì yêu cầu ông T phải trả lại số tiền 900.000.000 đồng trả tiền lãi
tính từ tháng 5/2022 đến tháng 9/2025 (41 tháng) với mức lãi suất 20%/năm,
615.000.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Chánh T do ông Trần Quang M đại diện theo ủy quyền
trình bày:
Ông T viết Bản cam kết ghi ngày 04/02/2023 về việc đứng tên giùm ông
Q thửa đất số 120 như đại diện nguyên đơn đã trình bày. Tuy nhiên, việc ông
Trung chuyển N thửa 120 cho ông V vào ngày 05/05/2022 với giá 900.000.000
đồng thì ông T đã báo cho ông Q bằng điện thoại. Do đó, ông T không đồng ý
yêu cầu khởi kiện của ông Q.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Văn phòng công chứng (VPCC) Ngọc M1 trình bày: VPCC Ngọc
M1 công chứng 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan
đến thửa đất số 120 tờ bản đồ số 1 xã T, huyện Đ, tỉnh Long An, cụ thể:
Hợp đồng ngày 10/12/2021 giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Chánh T
diện tích 233m
2
theo GCNQSDĐ s CP 751968 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh L cấp ngày 22/11/2018, cập nhật chỉnh biến động ngày
08/01/2021.
Hợp đồng ngày 05/05/2022 giữa ông Nguyễn Chánh T và ông Trần Quốc V
theo GCNQSDĐ số phát hành DD 539568 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
L cấp ngày 27/01/2022.
Việc công chứng 02 hợp đồng nêu trên đúng trình tự thủ tục theo quy định
pháp luật. Văn phòng đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo đúng quy
định của pháp luật, đồng thời xin vắng mặt trong quá trình tố tụng.
4
Ông Trần Quốc V do ông Trần Minh V1 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 05/05/2022, ông V ông Nguyễn Chánh T kết Hợp đồng số
7855, với giá trị 900.000.000 đồng, hai bên đã giao nhận đủ số tiền 900.000.000
đồng, lập Giấy nhận tiền viết tay đề ngày 05/05/2022 ông T tên, điểm
chỉ. Ngay sau khi giao nhận tiền, ông T đưa ông V đến địa chỉ thửa đất, chỉ
các điểm ranh hai bên tiến hành giao nhận đất, nhưng không lập biên bản.
Ngày 19/07/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long
An đã cập nhật biến động sang tên cho ông V trên GCNQSDĐ số DD 539568.
Ông V đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Minh Q; công
nhận Hợp đồng số 7855 cập nhật biến động sang tên cho ông V trên
GCNQSDĐ số DD 539568 là có hiệu lực pháp luật.
Nguyễn Thị Ngọc D Nguyễn Thị H xin vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết vụ án.
Các đương sự thống nhất kết quả đo đạc theo Mảnh trích đo địa chính số
117-2023 do Công ty TNHH Đ1 đo ngày 30/5/2023 được Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 16/6/2023 (sau đây viết tắt
Trích đo số 117-2023); kết quả định giá theo Chứng thư Thẩm định giá số
096/23/BĐS-DV ngày 28/7/2023 của Công ty TNHH G1 thực hiện.
Tại Bản án dân sự thẩm số 304/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 147, Điều 271,
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015; Điều 117, khoản 2 Điều 133, Điều
166, Điều 332, Điều 357, Điều 468, Điều 500 Bộ luật Dân snăm 2015; Điều
26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Minh
Q về việc “tranh chấp đòi tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
hủy chỉnh lý biến động chuyển nhượng” đối với bị đơn ông Nguyễn Chánh T.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q về việc yêu cầu hiệu hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7855, quyển s 05/2022TP/CC-
SCC/HĐGD do Văn phòng C1 ngày 05/05/2022 giữa ông Nguyễn Chánh T với
ông Trần Quốc V không chấp nhận hủy phần cập nhật biến động sang tên
cho ông Trần Quốc V trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số CS07353; số phát hành DD 539568 do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 27/01/2022.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Q về việc yêu cầu ông T trả tiền lãi
615.000.000 đồng. Buộc ông T trả cho ông Q 900.000.000 đồng, trả một lần khi
án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu lãi nếu
chậm thi hành án, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo, việc thi hành án theo
5
quy định của pháp luật.
Ngày 30/9/2025, bị đơn ông Nguyễn Chánh T đơn kháng cáo toàn bộ
bản án dân sự sơ thẩm.
Ngày 03/10/2025, nguyên đơn ông Hoàng Minh Q đơn kháng cáo toàn
bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Nguyễn Văn Đ trình bày: ông Q kháng cáo toàn bộ bản án thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
ông Q về việc hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T ông V, hủy cập
nhật chỉnh biến động tên của ông V trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trả lại thửa 120 cho ông Q. Trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng
không hiệu, tyêu cầu ông T phải trả lại cho ông Q số tiền 900.000.000
đồng mà ông V đã giao cho ông T và ông Q không yêu cầu tính lãi.
Ông Trần Quang M trình bày: ông T kháng cáo một phần bản án thẩm,
không đồng ý trả cho ông Q số tiền 900.000.000 đồng vì khi chuyển nhượng cho
ông V thì ông T đã điện thoại xin ý kiến của ông Q. Thực chất, số tiền
900.000.000 đồng là tiền vay của ông V, không phải tiền chuyển nhượng và ông
V đã chuyển khoản vào tài khoản của ông Phạm Hồng T1 theo yêu cầu của ông
Q.
Ông Trần Minh V1 trình bày: ông Vĩnh hoàn T2 không giao dịch cho
vay với ông Q, ông T, ông T1, số tiền 900.000.000 đồng tiền ông V trả
để nhận chuyển nhượng thửa 120 với ông T. Ông V đã giao đủ tiền cho ông T,
chuyển khoản 03 lần tổng cộng 700.000.000 đồng vào stài khoản do ông T
cung cấp, nội dung chuyển khoản ghi thanh toán tiền chuyển nhượng giao
thêm 200.000.000 đồng bằng tiền mặt tại Văn phòng công chứng, ông T viết
biên nhận nhận đủ 900.000.000 đồng. Nguyễn Thị Ngọc D vợ của ông V
và có đơn xin vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của ông Nguyễn Chánh T và ông
Hoàng Minh Q đủ điu kiện để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung: hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 120 giữa
ông T ông V đúng quy định tại Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của
Bộ luật Dân snăm 2015, ông V đã được cập nhật chỉnh biến động trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, ông V người thứ ba ngay tình, nên kháng o
của ông Q yêu cầu hiệu hợp đồng là không căn cứ. Tòa án cấp thẩm
buộc ông T phải trả lại cho ông Q số tiền 900.000.000 đồng là đúng. Đối với yêu
cầu tính lãi, thì tại cấp phúc thẩm ông Q rút lại yêu cầu này nên đề nghị hủy
đình chỉ xét xử đối với yêu cầu ông Q đã rút. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm
buộc ông T phải trả tiền một lần ngay khi bản án hiệu lực không thuộc
thẩm quyền của Tòa án thuộc giai đoạn thi hành án. Do đó, đề nghị căn cứ
6
khoản 1 Điều 308, Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của ông Q; hủy và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện
đòi 615.000.000 đồng ông Q đã rút, đồng thời sửa cách tuyên án về việc thi
hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của ông Hoàng Minh Q ông Nguyễn Chánh T thực hiện
đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Điều 276 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng
cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về
việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Việc xét xử vắng mặt các đương sự: ông Hoàng Minh Q, ông Nguyễn
Chánh T, ông Trần Quốc V vắng mặt, nhưng có người đại diện theo ủy quyền có
mặt; Văn phòng C, Nguyễn Thị H do ông Nguyễn Xuân H1 đại diện
Nguyễn Thị Ngọc D đơn xin xét xử vắng mặt; ông Phạm Hồng T1 vắng mặt
đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn
Văn Đ xác định ông Hoàng Minh Q kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, còn ông
Trần Quang M xác định ông Nguyễn Chánh T kháng cáo một phần bản án
thẩm. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
[4] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: theo đơn khởi kiện quá
trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, ông Q trình bày ông T chỉ là người đứng
tên thay cho ông trên GCNQSDĐ thửa 120, nhưng lại tự ý chuyển nhượng cho
ông V, nên các bên phát sinh tranh chấp ông Q yêu cầu hiệu hợp đồng
chuyển nhượng giữa ông T và ông V, hủy chỉnh lý biến động tên của ông V trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trả lại thửa 120 cho ông Q; trong trường
hợp không hiệu hợp đồng thì yêu cầu ông T trả bằng giá trị bồi thường
thiệt hại trả tiền lãi. Như vậy, quan hệ tranh chấp trong trường hợp này cần
được xác định tranh chấp hợp đồng ủy quyền (đứng tên thay trên
GCNQSDĐ), yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[5] Về vị trí, diện tích đất tranh chấp: theo Trích đo số 117-2023, phần đất
tranh chấp là thửa đất số 120 diện tích 233m
2
theo GCNQSDĐ số phát hành DD
539568, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 07353 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh L cấp ngày 27/01/2022 cho ông Nguyễn Chánh T đứng tên, cập nhật
biến động sang tên cho ông Trần Quốc V vào ngày 19/07/2022.
[6] Các tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh theo khoản 2 Điều
92 của Bộ luật Tố tụng dân sự: nguồn gốc thửa 120 do ông Hoàng Minh Q
nhận chuyển nhượng tNguyễn Thị H, nhưng đcho ông Nguyễn Chánh T
người đứng tên dùm ông Hoàng Minh Q trên GCNQSDĐ, theo giấy cam kết
của ông T viết ghi ngày 04/02/2023 (bút lục số 112, 131); giữa ông Q H
không tranh chấp; ông T đã chuyển nhượng thửa 120 cho ông Trần Quốc V
7
với giá 900.000.000 đồng và đã nhận đủ tiền của ông Vĩnh G (bút lục số 113).
Xét kháng cáo của ông Hoàng Minh Q yêu cầu hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa 120 giữa ông Nguyễn Chánh T ông Trần
Quốc V:
[7] Căn cứ cho yêu cầu kháng cáo của ông Q: thửa 120 ông T chỉ là người
đứng tên dùm GCNQSDĐ cho ông Q, nhưng lại tự ý chuyển nhượng cho ông V.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: ông Q không chứng minh được rằng, tại
thời điểm ông V nhận chuyển nhượng thửa 120 thì ông V biết và/hoặc bắt buộc
phải biết việc ông T chỉ là người đứng tên thay cho ông Q trên GCNQSDĐ. Ông
Q cho rằng ông T ông V chưa sgiao nhận đất trên thực tế, còn ông V
trình bày đã nhận đất xong. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày
05/5/2023, thì hiện trạng thửa 120 là đất trống, không có công trình vật kiến trúc
chỉ có 02 bụi trúc (bút lục số 224-225), cho nên, không đủ căn cứ vững chắc
để xác định trình bày của ông Q hay ông V về giao nhận đất là đúng sự thật
khách quan. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử n căn cứ vào các tình tiết khác trong
vụ án để xem xét các yêu cầu của các đương sự. Hồ sơ vụ án thể hiện, ông V đã
thanh toán đủ số tiền 900.000.000 đồng cho ông T đã được chỉnh cập nhật
biến động trên GCNQSvào ngày 19/7/2022. Cho đến ngày 17/02/2023 thì
ông Q mới nộp đơn khởi kiện tranh chấp với ông T (bút lục số 21-22). Như vậy,
tại thời điểm xác lập giao dịch chuyển nhượng thửa 120 giữa ông T ông V,
thì hợp đồng có đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch theo quy định tại
Điều 117, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm
2015 đã hiệu lực kể từ thời điểm ông V được cập nhật chỉnh biến động
trên giấy chứng nhận quyền sdụng đất theo khoản 7 Điều 95, Điều 188 của
Luật Đất đai năm 2013. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Q
về việc vô hiệu giao dịch giữa ông T và ông V, là có căn cứ.
Xét kháng cáo của ông Hoàng Minh Q yêu cầu ông Nguyễn Chánh T trả
900.000.000 đồng tiền lãi do chậm trả nếu giao dịch chuyển nhượng giữa
ông T và ông V không vô hiệu; kháng cáo của ông Nguyễn Chánh T không đồng
ý trả số tiền 900.000.000 đồng cho ông Q:
[8] Căn cứ cho yêu cầu kháng cáo của ông T: ông người đứng tên dùm
ông Q trên GCNQSthửa 120 khi chuyển nhượng cho ông V thì ông T đã
được sự đồng ý của ông Q. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[9] Ông T đã thừa nhận rằng, mình người chỉ đứng tên dùm giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Q. Mặc dù ông T trình bày khi chuyển nhượng
thửa 120 cho ông V thì đã sự đồng ý của ông Q, nhưng, ông T lại không
giấy tờ, tài liệu để chứng minh; đồng thời, ông T cũng không chứng minh
được đã giao lại số tiền 900.000.000 đồng cho ông Q. Căn cứ Điều 565 của
Bộ luật Dân snăm 2015, nghĩa vụ của ông T bên được y quyền (đứng tên
thay trên giấy chứng nhận quyền sdụng đất) phải giao lại cho ông Q (bên ủy
quyền) số tiền mà ông T đã nhận khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông
V. Tuy nhiên, ông T đã không thực hiện việc giao lại tiền, nên ngoài việc hoàn
trả cho ông Q số tiền ông V đã thanh toán 900.000.000 đồng, thì từ thời
8
điểm ông T nhận tiền của ông V nhưng không giao lại cho ông Q đã phát sinh
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của ông T đối với ông Q, do ông T thực hiện
không đầy đủ trách nhiệm của bên được ủy quyền. Giá trị thiệt hại chính ông
T phải chịu lãi trên số tiền chậm giao trả tương ứng với thời gian chậm trả với
mức lãi suất 10%/năm, theo Điều 357, khoản 6 Điều 565 khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T trả lại cho ông Q
số tiền 900.000.000 đồng, nhưng không chấp nhận yêu cầu tính lãi của ông Q, là
không đúng quy định, nên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của ông Q yêu cầu
tính lãi do ông T chậm giao trả tiền, căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc
thẩm, người đại diện của ông Q thay đổi yêu cầu kháng cáo, không yêu cầu ông
T trả lãi, lợi cho ông T, nên chấp nhận một phần kháng cáo của ông Q.
Ông T kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới làm thay
đổi nội dung vụ án, nên không có căn cứ chấp nhận.
[10] Tuy nhiên, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án của
đương sự. Việc bản án thẩm tuyên buộc “ông T trả cho ông Q 900.000.000
đồng, trả một lần khi án hiệu lực pháp luật” là không phù hợp quy định tại
Điều 6, Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, nên Tòa án cấp sơ thẩm
cần rút kinh nghiệm về cách tuyên án.
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Q phải chịu 300.000 đồng án phí không
giá ngạch do yêu cầu hiệu hợp đồng không được chấp nhận; ông T phải
chịu án phí tương ứng với số tiền phải trả cho ông Q.
[12] Một phần đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, được chấp nhận.
[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Hoàng Minh Q không phải chịu do
kháng cáo được chấp nhận một phần; buộc ông T phải chịu án phí do kháng cáo
không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 165, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, khoản 6 Điều 565 và khoản 2 Điều 468, Điều
117, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
khoản 7 Điều 95, Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 27, Điều 29 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, ông Hoàng Minh Q.
3. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, ông Nguyễn Chánh T.
4. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 304/2025/DS-ST ngày 19 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh:
4.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Minh Q vviệc
yêu cầu hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn
Chánh T với ông Trần Quốc V do Văn phòng C công chứng số 7855, quyển số
9
05/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/05/2022 và không chấp nhận hủy phần cập
nhật biến động sang tên cho ông Trần Quốc V trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CS
07353; số phát hành DD 539568 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp
ngày 27/01/2022.
4.2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Minh Q về việc tranh
chấp hợp đồng ủy quyền đối với ông Nguyễn Chánh T.
4.3. Buộc ông Nguyễn Chánh T hoàn trả cho ông Hoàng Minh Q số tiền
900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng).
5. Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm (đo đạc, định giá, xem xét thẩm định
tại chỗ) tổng cộng 30.000.000 đồng, do ông Hoàng Minh Q nộp tạm ứng toàn bộ
đã chi xong: buộc ông Nguyễn Chánh T ông Hoàng Minh Q mỗi người
chịu ½ 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Buộc ông Nguyễn Chánh T
phải nộp số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) để hoàn trả tạm ứng
cho ông Hoàng Minh Q.
6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
7.1. Buộc ông Hoàng Minh Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng),
được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ông
Q đã nộp theo biên lai số 0008147 ngày 03/3/2023, ông Q đã nộp đủ án phí.
7.2. Buộc ông Nguyễn Chánh T phải chịu 39.000.000 đồng (ba mươi chín
triệu đồng).
8. Án phí dân sự phúc thẩm:
8.1. Ông Hoàng Minh Q không phải chịu được hoàn trả số tiền 300.000
đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai
thu tạm ứng số 0005636 ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
8.2. Ông Nguyễn Chánh T phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số
tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông T
đã nộp theo biên lai thu tạm ứng số 0006794 ngày 10/10/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông T đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
9. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án,
người phải thi hành án quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tnguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
10
10. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật k
từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 3-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Tải về
Bản án số 508/2026/DS-PT Bản án số 508/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 508/2026/DS-PT Bản án số 508/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất