Bản án số 04/2026/HC-PT ngày 09/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 04/2026/HC-PT ngày 09/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 04/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/04/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bản án 04-HCPT-09-4-2026- Ph - UBND xã An Ninh- Khiếu kiện hành vi hành chính về quản lý đất đai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 04/2026/HC-PT
Ngày 09-4-2026
V/v khiếu kiện hành vi hành
chính trong lĩnh vực đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
Các thẩm phán:
1. Ông Nguyễn Phước Thanh;
2. Ông Nguyễn Thiện Tâm.
- Thư phiên t: Ngô Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Kim Thoa – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ số: 08/2025/TLPT- HC ngày
24 tháng 12 năm 2025 về việc: Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai”.
Do bản án sơ thẩm s: 02/2025/HC-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa
án nhân dân Khu vc 3, tnh Tây Ninh, b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐ-PT ngày 23 tháng 02
năm 2026; giữa:
Người khởi kiện:
1. Ông Phan Văn P, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp L, xã A, tỉnh Tây Ninh;
mặt;
2. Phan Thị C, sinh năm 1960. Địa chỉ: Khu phố A, phường T, tỉnh Tây
Ninh; có mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Ông Phan Văn P, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp L, xã A, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Đặng
Minh C1, Luật Công ty TNHH M1; thuộc Đoàn Luật Thành phố H
(không tham gia cấp phúc thẩm).
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, Long An.
2
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân A, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công An xã L, huyện Đ, tỉnh Long An
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng:Công An A, tỉnh Tây Ninh;
vắng mặt.
2. Phan Thị Thanh H, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp L, A, tỉnh Tây
Ninh; có mặt.
Người kháng cáo: Phan Thị C là người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của Phan Thị C ông Phan P người đại diện
hợp pháp cho bà C trình bày: Bà Phan Thị C khởi kiện yêu cầu buộc:
- Ủy ban nhân dân L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng, quản lý,
bảo vệ nhà cửa, đất đai hợp pháp của đối với phần đất của Nguyễn Thị Đ
được Uỷ ban nhân dân (Viết tắt UBND) huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 22312 CNĐĐ P ngày 15-6-1993 Quyết định cấp nhà tình nghĩa
số 5302/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày 29-12-2004; công khai xin lỗi do
hành vi không đúng pháp luật đã gây ra.
- Ủy ban nhân dân L thực hiện trách nhiệm quản đất đai đúng pháp
luật, bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp của Đ, quyền sở hữu nhà tình nghĩa
hợp pháp của Đ; trách nhiệm xử lý, kiến nghị xử các hành vi vi phạm
pháp luật làm xâm phạm nhà đất, ảnh hưởng đến quyền lợi của ông P, bà C.
Theo bà C, ông P trình bày: Nguyễn Thị Đ chết để lại khu đất căn
nhà tình nghĩa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 22312 CNĐĐ P ngày
15-6-1993 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp gồm 08 thửa đất trong đó 03
thửa đất số 2561, 2562, 2563, loại đất thổ, tọa tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay làấp L, A, tỉnh Tây Ninh) theo Quyết định số 5302/QĐ-UB cấp
nhà tình nghĩa do UBND huyện Đ cấp ngày 29-12-2004.
Phan Thị C con ruột của bà Nguyễn Thị Đ; ông Phan Văn P cháu
nội của Đ. Sau khi ba ông P chết, ông P được bà Đ nuôi dưỡng, sống chung
nhà, chung hộ khẩu với Đ. Sau khi Đ chết; ông P, H, các con cháu của
Đ là những người quản lý di sản, có nghĩa vụ bảo vệ di sản của bà Đ theo quy
định pháp luật. Ông P được sự đồng ý của C làm rào phía trước nhà tình
nghĩa để bảo vệ nhà tình nghĩa, đất đai của bà Đ.
Ngày 30-9-2023, ông P tiến hành kêu máy kobe đến để dọn dẹp nền sân,
mặt bằng phía trước và tiến hành làm hàng rào bảo vnhà cửa đất đai trên phần
đất thuộc 03 thửa đất s2561, 2562, 2563 (theo giấy trắng Đ được cấp năm
1993) thì cán bộ địa chính Công an L đến lập biên bản, không cho ông P
tiến hành làm hàng rào bảo vệ khu đất.
3
Việc UBND xã L (nay Ủy ban nhân dân A) lập biên bản ngày 30-9-
2023 cản trở ông P, C làm rào để bảo vệ di sản Đ, đất, nhà tình nghĩa
của Đ; đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của C, ông P.
Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.
Theo đơn khởi kiện ông Phan Văn P trình bày:
Ngày 30-9-2023, ông P tiến hành thuê máy kobe đến dọn dẹp nền sân,
làm hàng rào bảo vệ nhà đất trên phần đất thuộc 03 thửa đất số 2561, 2562, 2563
(theo giấy trắng Đ được cấp năm 1993) thì cán bộ địa chính và Công an L
đến lập biên bản, không cho ông P tiến hành làm hàng rào bảo vệ khu đất.
Việc UBND xã L (nay Ủy ban nhân dân A) lập biên bản ngày 30-9-
2023 cản trở ông P, C làm rào để bảo vệ di sản Đ, đất, nhà tình nghĩa
của Đ; đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của C, ông P.
Do đó, ông P khởi kiện yêu cầu:
- Ủy ban nhân dân L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng, quản lý,
bảo vệ nhà đất hợp pháp đối với phần đất của Nguyễn Thị Đ được UBND
huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s22312 CNĐĐ P ngày 15-6-
1993 Quyết định cấp nhà tình nghĩa số 5302/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp
ngày 29-12-2004; công khai xin lỗi do hành vi không đúng pháp luật đã gây ra.
- Ủy ban nhân dân L thực hiện trách nhiệm quản đất đai đúng pháp
luật, bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp của Đ, quyền sở hữu nhà tình nghĩa
hợp pháp của Đ; trách nhiệm xử lý, kiến nghị xử các hành vi vi phạm
pháp luật làm m phạm nhà đất của Đ, m ảnh hưởng đến quyền lợi của
ông P, bà C.
Ngày 05-6-2025, ông Phan Văn P xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Người bị kiện Ủy ban nhân dân xã L trình bày tại văn số 134/CV-UBND
ngày 24-02-2025 như sau:
Ủy ban nhân dân xã L xác định ngày 30-9-2023 UBND đã thực hiện
đúng quyền và nghĩa vụ của UBND xã về quản lý đất đai theo quy của Luật đai.
Nguồn gốc các thửa đất số 344,328, 586; tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại ấp
L, L, Đ, Long An trước khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Phan Văn N
vào năm 2002 của cha mẹ ông Phan Văn N để lại. Ngày 30-5-2003, UBND
huyện Đ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phan Văn N với
tổng diện tích 4.582 m
2
; gồm các thửa đất 328, 344, 586; tờ bản đồ số 14, đất tọa
lạc tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
Quá trình giải quyết vụ việc:
- Ngày 02-6-2021, UBND L tiến hành hòa giải tranh chấp đất của ông
Phan Văn N với ông Phan Văn P, kết quả cuộc hòa giải không thành chuyển đến
cấp có thẩm quyền giải quyết theo đúng quy định.
- Theo Bản án số 46/2022/DS-ST ngày 06-5-2022 của Tòa án nhân dân
huyện Đức Hòa (nay Tòa án nhân khu vực 3 Tây Ninh) về việc tranh chấp
4
chia tài sản chung quyền sử dụng đất. Tuyên xử: “Không chấp nhận yêu cầu của
ông Phan Văn P về việc tranh chấp chia tài sản chung quyền sử dụng đất với ông
Phan Văn N 1/6 diện tích đối với các thửa 586, 344 328 tờ bản đồ 14; tại
xã L, huyện Đ, tỉnh Long An, với diện tích 656.1 m
2
; đất BHK và ONT”.
- Ông Phan Văn P kháng cáo Bản án số 46/2022/DS-ST ngày 06-5-2022.
Tại Bản án số 204/2022/DS-PT ngày 16-8-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long
An (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh); tuyên xử: “… Không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông Phan Văn P về việc tranh chấp chia tài sản chung quyền
sử dụng đất với ông Phan Văn N 1/6 diện tích đối với các thửa 586, 344
328; tờ bản đồ 14, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An; với diện tích 626,1 m
2
; loại đất
BHK và ONT.
Bản án số 204/2022/DS-PT ngày 16-8-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long
An (nay Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh) hiệu lực pháp luật kể từ ngày
tuyên án; nhưng ông Phan Văn P, Phan Thị C, Phan Thị Thanh H tiếp tục
gửi nhiều đơn kiến nghị, phản ánh, khiếu nại nội dung liên quan đến quyền sử
dụng đất của ông N đến nhiều cơ quan từ xã đến huyện và tỉnh.
Vào ngày 23-9-2023, ông P tự ý thuê người cưa cây trên các thửa đất 586,
344 328 của ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trần
ThM (vợ ông N) trình báo, đề nghị Ủy ban nhân dân X vụ việc. Ủy ban
nhân dân xã chỉ đạo công chức địa chính phối hợp với ấp L đến hiện trường trao
đổi với ông P và yêu cầu ông P giữ nguyên hiện trạng.
Ngày 24-9-2023, ông P tiếp tục thuê người cưa cây, bà M tiếp tục trình báo
Ủy ban nhân dân xã.
Ngày 30-9-2023, ông P tiếp tục thuê người vào đất ông N cưa cây cho
máy K vào múc gốc cây ban sửa mặt bằng. Trần Thị M tiếp tục trình báo
Ủy ban nhân dân V Công an xã. Ủy ban nhân dân chỉ đạo cho công chức
địa chính phối hợp với Công an Trưởng ấp L lập biên bản ghi nhận hiện
trạng, hiện trường vụ việc.
Đối với việc Ủy ban nhân dân đến lập biên bản đối với gia đình ông
Phan Văn P do hiện tại phần đất này trên pháp do ông Phan Văn N đang
đứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời gia đình ông Phan Văn P
vẫn còn gửi đơn khiếu nại nên Ủy ban nhân dân L biên bản đề nghị giữ
nguyên hiện trạng chờ cấp thẩm quyền giải quyết, tránh tình trạng gây mất
trật tự tại địa phương theo đúng quy định tại Điều 202, 203 Luật Đất đai năm
2013.
Từ những căn cứ nêu trên ông Phan Văn P, Phan Thị C khởi kiện
không có căn cứ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Thanh H trình bày:
đã có đơn trình báo yêu cầu Ủy ban nhân dân L, ngăn chặn xử vi phạm
trên đất Đ (mẹ ruột bà), nhưng Ủy ban nhân dân không xử còn lập
biên bản sử dụng đất ngày 30-9-2023 đối với ông P, cản trở việc bảo vệ di sản
của bà Đ.
5
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ng an L (người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng Công an xã A): Xin vắng mặt, không có ý kiến trình
bày.
Tại Bản án Hành chính thẩm số 02/2025/HC-ST ngày 06 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ Điều 30, Điều 31; Điều 116, Điều 123, Điều 143; Điều 144; điểm a
khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 357, Điều 358 của Luật Tố tụng hành chính
Luật sửa đổi bổ sung Luật Tố tụng hành chính năm 2025; Điều 22, Điều 23,
Điều 24, Điều 25, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 32 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ pTòa
án;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phan Thị C, về việc yêu cầu
Ủy ban nhân dân L, huyện Đ, tỉnh Long An (người kế thừa quyền nghĩa
vụ tố tụng Ủy ban nhân dân A) chấm dứt hành vi cản trở bà thực hiện
quyền sử dụng, quản lý, bảo vệ nhà cửa, đất đai hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ
theo giấy cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 22312 CNĐĐ P do UBND
huyện Đ ngày 15-6-1993 Quyết định cấp nhà tình nghĩa số 5302/QĐ-UB do
UBND huyện Đ cấp ngày 29-12-2004.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Phan Thị C về việc yêu cầu Ủy ban
nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là
Ủy ban nhân dân A, tỉnh Tây Ninh) thực hiện trách nhiệm quản đất đai
đúng pháp luật, bảo v quyền sử dụng đất hợp pháp của Nguyễn Thị Đ,
quyền sở hữu nhà tình nghĩa hợp pháp của bà Đ; có trách nhiệm xử lý, kiến nghị
xử các hành phạm pháp luật làm xâm phạm đất đai, nhà cửa của Đ ảnh
hưởng đến quyền lợi của ông P, bà C.
3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Phan Thị C về việc
yêu cầu Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (người kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng Ủy ban nhân dân A) công khai xin lỗi do hành vi không
đúng pháp luật đã gây ra.
4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn P về
việc yêu cầu Ủy ban nhân dân L (cũ) chấm dứt hành vi cản trở quyền sử
dụng, quản lý, bảo vệ nhà cửa, đất đai hợp pháp của Đ, công khai xin lỗi do
hành vi không đúng pháp luật đã gây ra; yêu cầu Ủy ban nhân dân L (cũ)
thực hiện trách nhiệm quản đất đai đúng pháp luật, bảo vệ quyền sử dụng đất
hợp pháp của Đ, quyền sở hữu nhà tình nghĩa hợp pháp của Đ; trách
nhiệm xử lý, kiến nghị xử hành phạm pháp luật làm xâm phạm đất đai, nhà
cửa của bà Đ ảnh hưởng đến quyền lợi của ông.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 11-8-2025, Phan Thị C đơn kháng cáo yêu cầu huỷ bản án
thẩm để giải quyết lại theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.
6
Tại phiên toà phúc thẩm, Phan Thị C ông Phan Văn P người đại
diện hợp pháp cho bà C trình bày: C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị
cấp phúc thẩm hu bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo hướng chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà C; vì cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày:
Về tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, Thư Tòa án đã tuân thủ đúng các quy
định của Luật Tố tụng Hành chính trong việc thụ vụ án, ban hành văn bản tố
tụng đúng thẩm quyền và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự,
bảo đảm đúng trình tự thủ tục, dân chủ trong xét hỏi tranh luận tại phiên toà.
Đối với những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ tố
tụng của mình theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính.
Về nội dung:
+ Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 143; khoản 4
Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một
phần yêu cầu kháng cáo của Phan Thị C; hủy một phần bản án thẩm
đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần bản án thẩm tuyên bác yêu cầu khởi
kiện của bà C. do, u cầu khởi kiện của C về việc C yêu cầu Ủy ban
nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là Ủy ban nhân dân xã A), tỉnh Tây
Ninh chấm dứt hành vi cản trở C thực hiện quyền sử dụng, quản lý, bảo vệ
nhà cửa, đất đai hợp pháp của Nguyễn Thị Đ; yêu cầu này thuộc trường
hợp sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
+ Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng
xét xử: Giữ nguyên phần còn lại của bản án sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
1.1. Phan Thị C đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
1.2. Người bkiện Ủy ban nhân dân xã A người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Công An xã A, có văn bản xin vắng mặt; căn cứ Điều 225 của Luật Tố
tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo luật định.
[2] Xét về đối tượng khởi kiện thẩm quyền giải quyết, Hội đồng xét xử
nhận thấy:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị C yêu cầu: Ủy ban nhân dân xã
L, huyện Đ, tỉnh Long An (người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng Ủy ban
nhân dân xã A) chấm dứt hành vi cản trở bà C thực hiện quyền sử dụng, quản lý,
bảo vệ nhà cửa, đất đai hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ theo giấy cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 22312 CNĐĐ P do UBND huyện Đ ngày 15-6-1993
Quyết định cấp nhà tình nghĩa số 5302/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày
29-12-2004, xét thấy:
7
Theo Phan Thị C ông Phan Văn P người đại diện của C trình
bày: Ngày 30-9-2023, C giao cho ông P cắt cây, dọn dẹp mặt bằng để làm
hàng rào trên thửa đất của bà Nguyễn Thị Đ chết để lại thuộc các thửa đất 2561,
2562, 2563, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An
(nay ấp L, A, tỉnh Tây Ninh) thì bị Ủy ban nhân dân L ng với Công
an L đến lập biên bản không cho ông P thợ tiếp tục làm. Hành vi này của
UBND xã đã trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý, sử dụng đất của bà C.
Người bị kiện UBND xã L xác định việc UBND xã L lập biên bản ghi nhận
hiện trạng đúng chức năng nhiệm vụ, công vụ thẩm quyền quản đất đai
theo quy định của Điều 22, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 202, Điều 203 của
Luật Đất đai năm 2013.
Nhận thấy, ngày 23-9-2023, ông P tý thuê người cưa cây trên đất do ông
Phan Văn N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trần Thị M (vợ
ông N) trình báo, đề nghị Ủy ban nhân dân X vụ việc. Ủy ban nhân dân
chỉ đạo công chức địa chính phối hợp với ấp L đến hiện trường trao đổi với ông
P và yêu cầu ông P giữ nguyên hiện trạng; nhưng ngày 24-9-2023, ông P tiếp tục
thuê người cưa cây, bà M tiếp tục trình báo Ủy ban nhân dân xã. Đến ngày 30-9-
2023, ông P tiếp tục thuê người vào đất ông N cưa cây cho máy K1 vào múc
gốc cây và ban sửa mặt bằng. Bà Trần Thị M tiếp tục trình báo Ủy ban nhân dân
xã V Công an xã. Ủy ban nhân dân xã chỉ đạo cho công chức địa chính phối hợp
với Công an xã và Trưởng ấp L lập biên bản ghi nhận hiện trạng, hiện trường vụ
việc.
Nhận thấy, Biên bản ghi ngày 30-9-2023 của UBND L, ghi nhận hiện
trạng việc cắt cây trên thửa đất ông P cho rằng của bà Nguyễn Thị Đ, nội
dung: “Tại thời điểm 13 giờ 00 ngày 30-9-2023 ông P đã cắt 12 cây phượng
tràm vàng; 5,5m tường rào lưới B40. Đồng thời, cho xe Kobelco ban sửa nền
sân và mặt bằng phía trước tỉnh 821.
Căn cứ khoản 3, 4 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính quy định, thì Biên
bản ngày 30-9-2023 ghi nhận hiện trạng, hiện trường vụ việc nêu trên chỉ là văn
bản hành chính thông thường để thực hiện chức trách, nhiệm vụ công vụ được
pháp luật quy định, nhằm ghi nhận sviệc ông P tự ý làm thay đổi hiện trạng,
tài sản, cây trồng trên đất này đlàm căn cứ giải quyết vụ việc nêu trên; nên
hành vi này không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của C thuộc trường hợp sự việc không thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 123
của Luật Tố tụng hành chính. Trong trường hợp này, khi xem xét thụ đơn
khởi kiện thì cấp thẩm cần ban hành Thông báo trả đơn khởi kiện, nhưng lại
thụ lý, giải quyết bác yêu cầu khởi kiện nêu trên của C vi phạm thủ tục tố
tụng khi xem xét thụ vụ án; nên cấp phúc thẩm cần huỷ một phần bản án
thẩm và đình chỉ giải quyết một phần vụ án đối với phần cấp sơ thẩm tuyên bác
yêu cầu khởi kiện của C như nhận định trên, theo quy định điểm h khoản 1
Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính.
8
Do huỷ một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết một phần vụ án nên
không cần phải xác định lại người tham gia tố tụng; người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng (theo quy định mới về phân cấp thẩm quyền chung thẩm
quyền riêng về lĩnh vực quản đất đai của quan hành chính Nhà nước
người bị kiện trong vụ án này).
[3] Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 241 của Luật
Tố tụng hành chính; chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị C;
hủy một phần bản án thẩm đình chỉ giải quyết một phần vụ án hành chính
như nhận định trên.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Phan Thị C thuộc trường hợp được
miễn tiền án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 30, Điều 31; Điều 116, Điều 123, Điều 143; Điều 144; khoản
1, khoản 4 Điều 241; Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính và
Luật sửa đổi bổ sung Luật tụng hành chính năm 2025; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên
xử:
1. Hủy một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2025/HC-ST ngày 06-8-
2025 của Toà án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh và đình chỉ giải quyết yêu
cầu khởi kiện của Phan Thị C, về việc yêu cầu Ủy ban nhân dân xã L, huyện
Đ, tỉnh Long An (Nay là Ủy ban nhân dân A), tỉnh Tây Ninh, chấm dứt hành
vi cản trở C thực hiện quyền sử dụng, quản lý, bảo vệ nhà cửa, đất đai hợp
pháp của bà Nguyễn Thị Đ.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Phan Thị C về việc yêu cầu Ủy ban
nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là
Ủy ban nhân dân A, tỉnh Tây Ninh) thực hiện trách nhiệm quản đất đai
đúng pháp luật, bảo v quyền sử dụng đất hợp pháp của Nguyễn Thị Đ,
quyền sở hữu nhà tình nghĩa hợp pháp của bà Đ; có trách nhiệm xử lý, kiến nghị
xử các hành phạm pháp luật làm xâm phạm đất đai, nhà cửa của Đ ảnh
hưởng đến quyền lợi của ông P, bà C.
3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Phan Thị C về việc
yêu cầu Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (người kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng Ủy ban nhân dân A) công khai xin lỗi do hành vi không
đúng pháp luật đã gây ra.
4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn P về
việc yêu cầu Ủy ban nhân dân L (cũ) chấm dứt hành vi cản trở quyền sử
dụng, quản lý, bảo vệ nhà cửa, đất đai hợp pháp của Đ, công khai xin lỗi do
hành vi không đúng pháp luật đã gây ra. yêu cầu Ủy ban nhân dân L (cũ)
thực hiện trách nhiệm quản đất đai đúng pháp luật, bảo vệ quyền sử dụng đất
9
hợp pháp của Đ, quyền sở hữu nhà tình nghĩa hợp pháp của Đ; trách
nhiệm xử lý, kiến nghị xử hành phạm pháp luật làm xâm phạm đất đai, nhà
cửa của bà Đ ảnh hưởng đến quyền lợi của ông P.
5. Về án phí hành chính sơ thẩm:
- Bà Phan Thị C được miễn án phí hành chính sơ thẩm,
- Ông P không phải chịu án phí, hoàn lại cho ông P 300.000 đồng tiền tạm
ứng án phí dân sự thẩm theo biên lai thu số 0004496, ngày 10/01/2025 của
Chi cục hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Long An (nay là Phòng hành án dân sự
khu vực 3, tỉnh Tây Ninh).
6. Về án phí hành chính phúc thẩm: Phan Thị C thuộc trường hợp được
miễn tiền án phí hành chính phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 3; tỉnh TN;
- VKSND Khu vực 3;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS Khu vực 3; tỉnh TN;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN –CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Quốc Tuấn
Tải về
Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất