Bản án số 1293/2025/DS-PT ngày 24/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1293/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1293/2025/DS-PT ngày 24/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1293/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Quá trình tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm chưa tiến hành đối chất làm rõ vợ chồng ông H2, bà C1 về việc có thỏa thuận ông H2 được quyền thỏa thuận chuyển nhượng diện tích tranh chấp cho bà C để nhận số tiền 12 triệu đồng. Tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý ngày 22/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P, chưa đo vẽ xác định toàn bộ thửa đất số 796 diện tích 672m2 của bà H để so sánh với diện tích tranh chấp hiện nay, chưa thể hiện diện tích xây dựng chuồng heo của gia đình ông Đ trên phần đất tranh chấp ở vị trí nào. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xác định đường đất tự mở trong Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý ngày 22/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P thuộc thửa đất nào và diện tích bao nhiêu. Bên cạnh đó, phải làm rõ phần đất ông T chuyển nhượng cho bà V, sau đó bà V cho bà C ở vị trí nào, chưa xác định số thửa, tờ bản đồ để đối chiếu với đất có cùng một vị trí tranh chấp hay không; việc chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn thì diện tích thửa đất số 796 có đảm bảo điều kiện tách thửa hay không theo Quyết định số 38/2024/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh B? Từ những phân tích trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ và chứng minh chưa đầy đủ mà tại cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Thành phố Hồ Chí Minh) có căn cứ chấp nhận một phần. Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H có căn cứ chấp nhận một phần.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1293/2025/DS-PT Bản án số 1293/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1293/2025/DS-PT Bản án số 1293/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1293/2025/DS-PT
Ngày: 24-09-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ngọc Mai
Ông Nguyễn Văn Tài
- Thư phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hoàng Quân - Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n Thành phHồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 24 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
773/2025/TLPT-DS ngày 05/8/2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 07/5/2025 của Tòa án nhân
dân huyện P, tỉnh Bình Dương (nay Tòa án nhân dân khu vực A - Thành phố Hồ
Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4867/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 8
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã
P, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ngưi đi din hp pháp ca nguyên đơn: Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1977;
địa chỉ: số A đường H, khu phố G, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại
diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 15/8/2025); có mặt.
- Bị đơn: Trần Thị C, sinh năm 1942; địa chỉ: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh
Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh), chết ngày 17/02/2025.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:
1. Ông Đặng Hữu Đ, sinh năm 1981; có mặt;
2. Bà Trần Thị V, sinh năm 1966; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;
3. Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1976; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;
2
Cùng địa chỉ: ấp B, P, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay P, Thành phố
Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của V H1: Ông Đặng Hữu Đ, sinh năm
1981; địa chỉ: ấp B, P, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay xã P, Thành phố Hồ Chí
Minh), người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 16/4/2025); mặt.
- Ngưi có quyn li, nghĩa vliên quan:
1. Ông Đặng Hữu Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp B, P, huyện P, tỉnh Bình
Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
2. Ông Tào Văn T, sinh năm 1954; địa chỉ: khu phố T, phường T, thành phố
T, tỉnh Bình Dương (nay phường T, Thành phố Hồ CMinh); có đơn đề nghị giải
quyết vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1967; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;
4. Bà Trịnh Thị C1, sinh năm 1965; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã P, Thành phố
Hồ Chí Minh).
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1954; địa chỉ: Ấp B, P, huyện P, tỉnh
Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị giải quyết vắng
mặt.
2. Trần Thị V, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp B, P, huyện P, tỉnh Bình
Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Bích H.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh
Bình Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực A Thành phố Hồ Chí Minh).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm,
người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Nguyễn Thị Bích H là người quyền sử dụng đất hợp pháp phần đất diện
tích 761m
2
thuộc thửa số 796, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã P được Ủy ban nhân dân
(UBND) huyện P cấp ngày 29/3/2013. Nguồn gốc thửa 796 được cha mẹ tặng cho,
sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà chưa canh tác đcha mẹ
gần đó quản lý và sử dụng. Bà Trần Thị C có các thửa đất kế bên thửa đất của bà H,
khi đo đạc tách thửa đều sự chứng kiến của Trần Thị C và gia đình, không
tranh chấp xảy ra. Trước đó, gia đình ông Đặng Hữu Đ con C xây dựng chuồng
heo lấn chiếm một phần quyền sử dụng đất của H tại thửa 796 tổng diện tích
khoảng 480m
2
. Gia đình H đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Đ nói sẽ thương
lượng nhận chuyển nhượng phần đất lấn chiếm, tuy nhiên ông Đ vẫn không thực
hiện. Đầu năm 2023, bà H có nghe C nói với cha mH gọi bà H về ký tên sang
sổ, H tưởng hỗ trợ liên ranh để H thực hiện chuyển nhượng nhưng H
3
không đồng ý nên khởi kiện ra Tòa yêu cầu C, ông Đ tháo dỡ chuồng heo trên đất
để trả lại đất lấn chiếm cho H. Đất tứ cận phía Tây Bắc giáp đường đất, phía
Đông Bắc giáp đường đất đỏ tự mở, phía Tây Nam phía Đông Nam giáp đất
C. Trước đó, nguồn gốc đất vào năm 2007, ông Nguyễn Văn H2 và bà Trịnh Thị C1
mua của ông Tào Văn T nguyên sổ diện tích 17.846m
2
thuộc nhiều thửa khác nhau,
tờ bản đồ số 11, 8, tọa lạc tại P, huyện P, tỉnh Bình Dương, hai bên làm hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang sổ theo quy định của pháp luật. Năm 2008
C1, ông H2 có bán cho ông Phương diện T2 trên 200m
2
để làm đường đi vào đất
chiều ngang 4m chiều dài khoảng 60m, bán cho ông T3 10m ngang kế đường bán
cho ông P, bán 20m ngang cho người khác kế ông T3. Vào năm 2013, H được
cha mẹ cho quyền sử dụng đất diện tích 761m
2
thuộc thửa số 796, tờ bản đồ s8
nhưng chưa canh tác từ đó đến nay. Diện tích đất đường đi ông H2, C1 bán cho
ông P năm 2008 hiện nay vẫn đường đi ông T1 vẫn đi trên đất để vào cao su.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tình bày:
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn trả lại diện tích đất 239m
2
thuộc thửa số 796, tờ bản đồ số 8; nguồn gốc đất năm 2007 ông H2, C1 nhận
chuyển nhượng của ông Tào Văn T, khi nhận chuyển nhượng theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, không đo đạc thực tế. Năm 2008, ông H2 C1 bán cho ông
P (đã chết) làm đường đi ngang 04m dài 60m giáp đất C. Năm 2013, ông H2, bà
C1 tặng cho con gái là H diện tích đất nêu trên bao gồm đất bán cho ông P nhưng
không đo đạc thực tế trích lục để UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Sau khi nhận tặng cho quyền sử dụng đất bà H không canh tác vì không ở
địa phương thành phố B nên do cha mẹ bà quản lý. Thống nhất biên bản định
giá và Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh lý ngày 22/8/2024.
Tại đơn phản tố, bản tự khai, biên bản hòa giải tại phiên tòa đại diện bị
đơn đồng thời người người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Hữu Đ trình
bày:
Diện tích đất tranh chấp nguồn gốc từ ông Tào Văn T bán cho V (con
C) bằng giấy tay năm 1990, sau đó bà V cho bà C canh tác từ năm 1993 đến nay.
Khi nhận đất từ V gia đình trồng cây tiêu, điều và đào ao cá trên đất. Sau khi hiến
đất làm đường đi đến năm 2012 gia đình xây hàng rào xung quanh xây chuồng
heo trên đất tranh chấp. Tuy nhiên, diện tích C đang canh tác nằm trong giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Bích H đã được UBND huyện P
cấp cho H thuộc thửa 796, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại P, huyện P, tỉnh Bình
Dương. Tháng 02/2023, gia đình C đi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
lại mới phát hiện thửa đất bà C sử dụng bị cấp nhầm vào giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất do H đứng tên. Ngày 28/6/2023 C và ông có đến nhà ông H2, C1
cha mẹ của H để trao đổi về việc cấp nhầm thửa đất 796, gia đình ông H2
C1 đồng ý trả lại phần đất cấp nhầm cho C nhưng bà C phải đưa 12.000.000 đồng
để làm chi phí đi lại giấy tờ liên quan, bên H đưa lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất để C đi tách thửa. Sau khi thỏa thuận xong hai bên viết giấy
nhận tiền nhưng bà H không đồng ý vì vậy dẫn đến tranh chấp.
4
Nay, bị đơn đơn phản tố: Yêu cầu Tòa án kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện
P thu hồi phần diện tích đất 672m
2
thuộc thửa số 796, tờ bản đồ số 8 cấp cho
Nguyễn Thị Bích H công nhận cho bị đơn diện tích đất 672m
2
thuộc một phần
thửa 796, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại xã P, huyện P.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện những người thừa kế quyền nghĩa vụ
tố tụng của bị đơn trình bày thay đổi yêu cầu phản tố: Theo Mảnh trích lục địa chính
có đo đạc chỉnh lý ngày 22/8/2024, phần đất yêu cầu phản tố có diện tích 239m
2
nên
bị đơn yêu cầu thu hồi phần diện tích đất 239m
2
thuộc thửa số 796, tờ bản đồ số 8
cấp cho Nguyễn Thị Bích H đề nghị Tòa án công nhận cho bị đơn diện tích đất
239m
2
thuộc một phần thửa 796, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại P, huyện P. Số tiền
12.000.000 đồng đã giao cho bà C1, ông H2, không yêu cầu trả lại; Thống nhất biên
bản định giá và Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh lý ngày 22/8/2024.
Tại bản tự khai người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2
và bà Trịnh Thị C1 thống nhất trình bày:
Năm 2007, vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất
từ ông Tào Văn T vợ chồng ông đã đăng xác lập quyền sử dụng được
UBND huyện P cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định,
trong đó có giấy chứng nhận số AK 159805, thuộc thửa 759, tờ bản đồ số 8, số vào
sổ H01591 ngày 30/7/2007 mang tên ông Nguyễn Văn H2 và bà Trịnh Thị C1. Năm
2013, vợ chồng ông tách ra 03 phần từ thửa 759 bán cho ông P 01 phần, ông T3
01 phần 01 phần cho con gái Nguyễn Thị Bích H thửa hiện tại 796, tờ bản
đồ số 8 hiện đang bị Trần Thị C lấn chiếm, phần còn lại hiện ông bà đang quản
sử dụng. Khi tiến hành đo đạc, tách sổ để chuyển nhượng tặng cho thì đềusự
chứng kiến của C gia đình bà C, hai bên không bất kỳ tranh chấp nào phát
sinh đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BH 033988 thuộc thửa đất số
796, tờ bản đồ số 8 ngày 29/3/2013 có diện tích 672m
2
cho con Nguyễn Thị Bích H.
Do Nguyễn Thị Bích H lấy chồng theo chồng làm ăn không quản sdụng
nên đã để lại cho ông bà quản lý và sử dụng. Sau đó, ông bà có thấy ông Đặng Hữu
Đ xây dựng chuồng heo lấn chiếm một phần quyền sử dụng đất tại thửa đất 796
thì ông nói cho con về việc lấn chiếm, nghĩ đất đã cho con nên do con tự
quyết và không quan tâm. Thời gian sau ông bà có nghe C nói về việc sẽ thương
lượng mua phần đất lấn chiếm nhờ nói với con (H) để chuyển nhượng phần
đất lấn chiếm nêu trên nhưng con H không đồng ý và xảy ra tranh chấp cho đến nay.
Đầu năm 2023, bà C có nói với vợ chồng ông bà việc nhờ nói với H về ký tên hỗ trợ
ký liên ranh để bà C thực hiện việc nộp hồ sơ xin cấp đổi sổ. Khi đó do H làm ăn xa
nên bà C đưa cho vợ chồng ông 12.000.000 đồng nói hỗ trợ chi phí đi lại cho
H. Một thời gian sau, C cùng với con gái Trần Thị V trưởng ấp B con trai
Đặng Hữu Đ đến nhà viết giấy và kêu ông bà ký tên vào giấy tờ để xác nhận đã nhận
tiền 12.000.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tào Văn
T trình bày:
5
Nguồn gốc của khu đất (bao gồm cả phần đất tranh chấp) do ông khai phá năm
1990 và ông bán lại một phần đất khai phá cho cho V và ông T4 (con gái con
rễ của C) thời điểm này ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Đến thời điểm ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông chuyển
nhượng lại phần đất được cấp giấy chứng nhận cho ông H2 (cha của bà H) vào năm
2006. Thời điểm ông giao đất cho vợ chồng bà V, ông T4 và cho ông H2 thì có ranh
giới đất tứ cận ràng nhưng ranh giới đất ông giao trước đây và ranh giới thực
tế hiện tại thì ông không nắm rõ được vì thời gian đã quá lâu và trước đây đất rừng
nhiều cây cối.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai người làm chứng Nguyễn Văn T1 trình
bày:
Trước đây, gia đình ông Huỳnh Văn P khu đất thuộc thửa đất số 76, 722,
835, tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại P phía sau đất C ông H2, C1. Do ông P
không lối đi vào đất nên năm 2008 ông P mua lại của ông H2, C1 diện tích
232m
2
làm lối đi để đi vào khu đất, con đường có chiều ngang 04m dài khoảng 60m,
sau này ông P bán đất và qua nhiều chủ sử dụng đến khi ông mua lại vào năm 2017,
ông nhận chuyển nhượng các thửa đất số 76, 722, 835, tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại xã
P của bà L1 A, hiện tại ông vẫn đi trên con đường này vào đất và diện tích đất trên
hiện nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị Bích H. Năm
2023, ông yêu cầu H ủy quyền cho ông để tách thửa nhưng do không đủ điều
kiện tách thửa nên chưa làm thủ tục được. Ông thường xuyên đi trên con đường này
vào trong đất để canh tác, ông thấy gia đình C canh tác diện tích đất các bên
tranh chấp, gia đình C đã xây tường rào kiên cố cao 02m, tường rào sát đường đất
đỏ cặp kênh S, trên đất có chuồng heo.
Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Trần Thị V trình bày:
Bà là con ruột củaTrần Thị Cẩm . Nguồn gốc đất bà H, bà C tranh chấp là
của ông Tào Văn T khai phá năm 1992 bán lại cho bà diện tích bao nhiêu bà không
nhớ vì đã làm đường giao thông nông thôn. Bà mua bán có giấy tờ nhưng đã bị thất
lạc, phần đất này đã cho mẹ C năm 1993, hiện tại mẹ em trai (Đặng
Hữu Đ) đang sử dụng xây dựng chuồng heo năm 2016 không ai tranh chấp. Đất của
ông H2 và bà C1 là cha mẹ của bà H kế bên đất bà C khi C xây dựng chuồng heo
gia đình H không có ý kiến. Năm 2023, khi gia đình bà C điều chỉnh giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mới phát hiện phần đất canh tác từ xưa đến nay (thửa 796)
do H con ông H2 C1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên C
đến nhà ông H2 C1 yêu cầu trả lại đất. Các bên thống nhất trả đất cho C nhưng
C phải trả 12.000.000 đồng cho ông H2, C1 H để làm thủ tục tách thửa
nhưng phía bà H sau khi nhận tiền xong không thực hiện việc trả đất.
Tại Bản án dân sự thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 07/5/2025, Tòa án nhân
dân huyện P, tỉnh Bình Dương (nay Tòa án nhân dân khu vực A - Thành phố Hồ
Chí Minh) đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Bích
H đối với bị đơn bà Trần Thị C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
6
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Trần Thị C đối với nguyên đơn
Nguyễn Thị Bích H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
3. Buộc bà Nguyễn Thị Bích H phải trả cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng của bị đơn Trần Thị C: Trần Thị V, ông Đặng Hữu Đ, Đặng Thị H1
quyền sử dụng đất diện tích 239m
2
(trong đó 151,5m
2
thuộc hành lang BVĐB,
thuộc một phần thửa 796, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Phần diện tích đất đất tứ cận: Hướng Tây Bắc giáp đường đất, hướng Đông Bắc
giáp đường đất đỏ tự mở, hướng Tây Nam giáp thửa đất 20, hướng Đông Nam giáp
thửa đất 20. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
4. Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương thu hồi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00851 ngày 29/3/2013
đứng tên bà Nguyễn Thị Bích H để điều chỉnh diện tích theo quy định của pháp luật.
5. Nguyên đơn, bị đơn (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:
Trần Thị V, ông Đặng Hữu Đ, Đặng Thị H1) có quyền và nghĩa vụ liên hệ với
quan có thẩm quyền để điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hoặc giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất)
theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, trách nhiệm thi hành án
và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi bản án thẩm, ngày 21/5/2025 của nguyên đơn Nguyễn Thị
Bích H đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 26/2025/DS-ST ngày
07/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương (nay Tòa án nhân dân
khu vực A - Thành phố Hồ Chí Minh), đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ
bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 19/5/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình
Dương (nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực A Thành phố Hồ Chí Minh)
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-DS đối với Bản án dân sự thẩm
số 26/2025/DS-ST ngày 07/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương
(nay là Tòa án nhân dân khu vực A - Thành phố Hồ Chí Minh), đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
yêu cầu kháng cáo; bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố; các đương sự không thỏa
thuận được với nhau vviệc giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham
gia phiên tòa giữ nguyên toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân huyện P, tỉnh Bình Dương (nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực AThành
phố Hồ Chí Minh).
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
7
Về nội dung: Trong vụ án, nguyên đơn có kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân
khu vực A Thành phố Hồ Chí Minh có kháng nghị. Diện tích đất tranh chấp 239m
2
thuộc thửa đất số 796, tờ bản đsố 08 của H được tách một phần từ thửa đất số
759 của ông H2, C1, trước đó ông H2, C1 nhận chuyển nhượng từ ông Tào
Văn T. Quá trình chuyển nhượng, tặng cho thì c bên không có tranh chấp. Bà H đã
được cấp GCNQSDĐ với diện tích 239m
2
. Do đó, đề nghị Hội đồng t xử căn cứ
theo khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà, kết quả tranh tụng của các đương sự tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện
kiểm sát,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H là trong thời hạn luật
định. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
[1.2] Tại cấp phúc thẩm, Ngưi có quyn li, nghĩa vliên quan ông Nguyễn
Văn H2 và bà Trịnh Thị C1 đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Ngưi có quyn li,
nghĩa vliên quan ông Tào Văn T đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt. Căn c
theo Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử
vắng mặt các đương sự này.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về yêu cầu của các đương sự:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ công trình (chuồng heo) diện tích 180m
2
để trả lại diện tích đất lấn chiếm 239m
2
thuộc thửa đất 796, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại
xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) cho nguyên
đơn. Phần đất tứ cận: Hướng Tây Bắc giáp đường đất; hướng Đông Bắc giáp
đường đất đỏ tự mở; hướng Tây Nam giáp thửa đất 20; hướng Đông Nam giáp thửa
đất 20.
Bị đơn không chấp nhận trước toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Lý
do: Diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc nhận sang nhượng của ông Tào Văn T từ
năm 1990, sau đó gia đình bị đơn sử dụng canh tác ổn định, trên phần đất tranh
chấp, gia đình đã xây dựng chuồng heo và hàng rào bao quanh từ năm 2011 đến năm
2013. Đến khi gia đình bị đơn làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất mới biết một phần diện tích bị đơn đang sử dụng bị cấp nhầm qua thửa đất 796
do nguyên đơn đứng tên. Gia đình bị đơn đã thống nhất với gia đình nguyên đơn
nguyên đơn sẽ làm thủ tục điều chỉnh để trả lại phần đất bị đơn đang sử dụng cấp
nhầm qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn, đồng thời bị đơn đã
hỗ trợ cho nguyên đơn số tiền 12.000.000 đồng.
Bị đơn đơn phản tố: Yêu cầu Tòa án kiến nghị UBND huyện P thu hồi phần
diện tích đất 239m
2
thuộc thửa số 796, tờ bản đồ số 8 cấp cho Nguyễn Thị Bích
H công nhận cho bị đơn - người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn
8
diện tích đất 239m
2
thuộc một phần thửa 796, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại P, huyện
P, tỉnh Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh).
[2.2] Về nguồn gốc đất tranh chấp:
Khoảng năm 1990, ông Tào Văn T khai phá nhiều diện tích đất. Tại Biên bản
hòa giải ngày 15/8/2023 tại UBND P (bút lục G), ông T trình bày rằng Năm 1993
tôi bán cho Trần Thị V trước là phần đất tranh chấp. Đến năm 2007 tôi mới bán
cho ông Nguyễn Văn H2 kế bên. Giữa hai nhà con đường đi nhỏ khi bán
chỉ ranh giới ràng”. Tại văn bản ngày 13/4/2025 (bút lục 290), ông T trình bày
Tôi xác nhận thửa đất số 796 là tôi đã bán cho V và ông T4 vào năm 1993, đất
ranh giới ràng, lúc bấy giờ tôi bán đất chưa có sổ là 1 cụm cây rừng”. Lời khai
của ông T là phù hợp với Biên bản xác minh ngày 17/7/2024 tại UBND P (bút lục
B).
Phần đất còn lại thuộc các thửa đất s21, 22, 23, tờ bản đồ số 11; các thửa đất
số 545, 546, 547, 548, 549, 550, 551, 552, 553, 554, 555, 556, 557, 558, 559, 560,
561, tờ bản đồ số 08; và các thửa đất số 564, 565, 566, 567, 568, 569, 570, tờ bản đồ
số 08 với tổng diện tích 17.846m
2
tọa lạc tại ấp C, P, huyện P, tỉnh Bình Dương
thì hông Tào Văn T được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số vào sổ 00529 QSDĐ/PG ngày 21/10/2002. Sau đó, ông T chuyển nhượng một
phần đất ruộng với diện tích 17.846m
2
cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H2 Trịnh
Thị C1 các thửa đất nêu trên với giá 760.000.000 đồng theo Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 31/5/2007 được chứng thực tại UBND xã P (bút lục
163-166). Sau đó, ông H2 và bà C1 được UBND huyện P cấp các Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Ngày 25/02/2013, ông H2 và bà C1 ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
đối với một phần thửa đất số 759, tờ bản đồ số 08 với diện tích 672m
2
để tặng cho
Nguyễn Thị Bích H. Ngày 29/3/2013, H được UBND huyện P cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số BH 033988, số vào sổ cấp GCN: CH00851 với diện tích
672m
2
.
[2.3] Về hiện trạng đất tranh chấp:
Theo Mảnh trích lục địa chính đo đạc chỉnh ngày 22/8/2024 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện P (bút lục 243), phần đất các bên tranh chấp
có diện tích 239m
2
, trong đó có 151,5m
2
thuộc hành lang an toàn đường bộ.
Theo Biên bản về việc đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/7/2024 (bút
lục 239-241), tài sản gắn liền với phần đất tranh chấp bao gồm: chuồng heo kết
cấu mái tôn, tường xi măng, nền xi măng. Ông Đặng Hữu Đ trình bày chuồng heo
được xây dựng năm 2012. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tại cấp sơ thẩm
trình bày chuồng heo được xây dựng năm 2016.
[3] Quá trình tố tụng, Tòa án cấp thẩm chưa tiến hành đối chất làm vợ
chồng ông H2, bà C1 về việc thỏa thuận ông H2 được quyền thỏa thuận chuyển
nhượng diện tích tranh chấp cho bà C để nhận số tiền 12 triệu đồng.
9
Tại Mảnh trích lục địa chính đo đạc chỉnh ngày 22/8/2024 của Chi nhánh
Văn phòng Đăng đất đai huyện P, chưa đo vẽ xác định toàn bộ thửa đất số 796
diện tích 672m
2
của bà H để so sánh với diện tích tranh chấp hiện nay, chưa thể hiện
diện tích xây dựng chuồng heo của gia đình ông Đ trên phần đất tranh chấp vị trí
nào. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xác định đường đất tự mở trong Mảnh
trích lục địa chính đo đạc chỉnh ngày 22/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký đất đai huyện P thuộc thửa đất nào và diện tích bao nhiêu.
Bên cạnh đó, phải làm rõ phần đất ông T chuyển nhượng cho bà V, sau đó bà
V cho C ở vị trí nào, chưa xác định số thửa, tờ bản đồ để đối chiếu với đất cùng
một vị trí tranh chấp hay không; việc chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn thì diện
tích thửa đất số 796 đảm bảo điều kiện tách thửa hay không theo Quyết định số
38/2024/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh B?
[4] Từ những phân tích trên, việc Tòa án cấp thẩm thu thập chứng cứ
chứng minh chưa đầy đủ tại cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.
Do đó, Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ
thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục thẩm. Kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương (nay Viện kiểm sát nhân dân khu
vực A Thành phố Hồ Chí Minh) căn cứ chấp nhận một phần. Kháng cáo của
nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H có căn cứ chấp nhận một phần.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn cứ chấp nhận một
phần.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Bích H phải chịu
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
huyện P, tỉnh Bình Dương (nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực AThành phố
Hồ Chí Minh).
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H.
3. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 07/5/2025 của Tòa án
nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực A - Thành phố
Hồ Chí Minh).
4. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H không phải chịu
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được hoàn trả số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm tại các Biên lai tm ng án phí s 0002285
ngày 08/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
10
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tối cao;
- VKSND TP.HCM;
- TAND khu vực A TP.HCM;
- Phòng THADS Khu vực A TP.HCM;
- UBND xã P, TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, Hồ sơ vụ án (14).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trung Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1293/2025/DS-PT Bản án số 1293/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1293/2025/DS-PT Bản án số 1293/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất