Bản án số 1268/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1268/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1268/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1268/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN KHÁNG CÁO CỦA BỊ ĐƠNHỦY BẢN ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM DO THIẾU NGƯỜI LIÊN QUAN
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1268/2026/DS-PT Bản án số 1268/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1268/2026/DS-PT Bản án số 1268/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 1268/2026/DS-PT
Ngày: 25-6-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trúc.
Các Thẩm phán: Ông Phan Trí Dũng;
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Dương Trương Hoài Như – Thư Tòa án nhân n
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Đặng Kim Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ C
Minh (Cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 802/2026/TLPT-
DS ngày 21 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3216/2026/QĐ-PT ngày
18 tháng 5 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 8736/2026/QĐ-PT
ngày 11 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố HChí Minh, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thụy Long, sinh năm 1965; địa chỉ: số 13.02
chung cư Screc 2, khu phố 5, phường An Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh (nay khu phố 2, phường Bình Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh); địa
chỉ liên lạc: số 25, đường GS 01, khu phố Tây B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ
An, tỉnh Bình Dương (nay phường Đông Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh). mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Nguyễn Thị Bích Ly, sinh năm
1995; địa chỉ: số 25, đường GS 01, khu phố Tây B, phường Đông Hòa, thành phố
An, tỉnh Bình Dương (nay phường Đông Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh),
người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 31/10/2023). Có mặt.
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Mai Tiến Luật
Luật Công ty Luật TNHH Hãng luật Bigboss Law thuộc Đoàn Luật Thành
phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Thu Thảo, địa chỉ: tổ 19, khu phố Đông An, phường
Tân Đông Hiệp, thành phố An, tỉnh Bình Dương (nay phường Tân Đông Hiệp,
Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Nguyễn Hồng TNhư, sinh năm
1988 Nguyễn Thị Thùy Ngân, sinh năm 1996; cùng địa chỉ: căn hộ K3-10,
Chung Kingston Residence 146 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, Thành
phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 11/4/2026).
Bà Như có mặt; bà Ngân vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Trình
ông Trần Đình Phúc Luật Công ty Luật TNHH Đông Phương Luật Chi
nhánh Phú Mỹ, thuộc Đoàn Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trình mặt;
ông Phúc vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Khắc Thủy, sinh năm 1977; địa chỉ: số 62/2B khu phố Trung,
phường Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay phường Bình
Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
2. Nguyễn Thị Thanh Thùy, sinh năm 1982; địa chỉ: số 13.02 chung
Screc 2, khu phố 5, phường An Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
(nay là khu phố 2, phường Bình Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Xuân Quang, sinh năm 1981 và bà Đỗ Thị Thu Huyền, sinh
năm 1981; cùng địa chỉ: số 20, đường 17, khu phố Nhị Đồng 2, phường An,
thành phố An, tỉnh nh Dương (nay phường An, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
4. Ông Nguyễn Đức Huy, sinh năm 1983; địa chỉ: E5, khu dân Đông
An, khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp, thành phố An, tỉnh Bình Dương
(nay là phường Tân Đông Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
5. Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp – CTCP; địa chỉ: tầng 19,
tòa nhà Becamex, số 230, Đại lộ Bình Dương, phường Phú Hòa, thành phố Thủ
Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là phường Phú Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Đầu Phát triển Công nghiệp
CTCP: Ông Nguyễn Thành Vinh, sinh năm 1997; địa chỉ: tầng 19, tòa nhà
Becamex, số 230, Đại lộ Bình Dương, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một,
tỉnh Bình Dương (nay phường Phú Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh), người đại
diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 18/6/2024). Vắng mặt.
6. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; địa chỉ: số 2
Láng Hạ, phường Giảng Võ, Thành phố Hà Nội.
3
Người đại diện hợp pháp Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn
Việt Nam: Ông Phạm Khánh Dương, địa chỉ: số 1A5/A2/3, 1A5/A2/4 1A5/A2/5,
tổ 5, khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, Thành phố Hồ Chí Minh, người
đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 14/3/2024). Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Thị Thu Thảo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Năm 1997, ông Nguyễn Thụy Long (sau viết tắt là ông Long) nhận chuyển
nhượng quyền sdụng đất từ Công ty Xuất nhập khẩu Bình Dương (nay là Tổng
Công ty Đầu Phát triển Công nghiệp CTCP (sau viết tắt Công ty Becamex)
theo Hợp đồng chuyển nhượng nền nhà khu dân số 070/HĐ-MBĐ. Đến ngày
13/4/1998, Ủy ban nhân dân (sau viết tắt UBND) tỉnh Bình Dương cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 227534, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 414 QSDĐ/1998, thửa đất số 16, E5, diện tích 300m
2
, mục đích sử
dụng: thổ cư, địa chỉ: Khu dân Đông An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương
(nay là khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh).
Năm 2020, ông Long kiểm tra thửa đất trên thì hai bên đã được xây dựng,
chỉ còn nền đất của ông Long thiếu khoảng 3m ngang. Vì vậy, ông Long khởi kiện
buộc ông Nguyễn Minh Hiếu phải trả lại cho ông Long phần diện tích đất trên.
Ngày 29/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố An, tỉnh Bình Dương ra
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 76/2022/QĐST-DS (sau
viết tắt là Quyết định công nhận số 76), theo đó ông Long được quyền quản lý, sử
dụng diện tích đất 150m
2
thuộc một phần Ô 16, lô E5 (nay thuộc một phần thửa đất
số 2168, tờ bản đồ 29) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 414
QSDĐ/1998 do UBND tỉnh Bình Dương cấp cho ông Long vào ngày 13/4/1998
(ký hiệu B) diện tích 150m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 2166, 2167 tờ bản
đồ 29 (ký hiệu D, E) trong bản vẽ kèm theo chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
Chiếu theo đồ trích đo khu đất kèm theo Quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự số 76/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân
thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì một phần thửa đất cụ thể là 49m
2
thuộc các
thửa đất số 2166, 2167, tờ bản đồ 29 (ký hiệu D, E) bị bà Phạm Thị Thu Thảo lấn
chiếm sử dụng đất, xây dựng bức tường gạch trái phép trên đất với chiều dài 30m,
cao khoảng 2m.
Nhận thấy, quyền lợi ích hợp pháp của ông Long bị xâm phạm nên ông
Long khởi kiện yêu cầu: Buộc bà Phạm Thị Thu Thảo tháo dỡ bức tường gạch diện
tích (dài 30m, cao khoảng hơn 2m) và trả lại cho ông Long phần diện tích 49m
2
đất
đã lấn chiếm trên các thửa đất số 2166, 2167 tờ bản đồ 29 (ký hiệu D, E) trong bản
vẽ kèm theo, đất tọa lạc tại khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp, thành phố
Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
4
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thụy Long có đơn sửa đổi, bổ sung
đơn khởi kiện yêu cầu: Buộc bà Phạm Thị Thu Thảo tháo dỡ 01 bức tường gạch lốc
cao 2,9m, dài 30m; tháo d01 phần mái che của dãy trọ ngang 1,1m; tháo dỡ 01
phần sân gạch hành lang dãy trọ ngang 1,9m; tháo dỡ 01 cổng sắt ngang 1,1m cao
2,9m; chặt bỏ 01 cây khế, 01 cây mít, 01 cây lộc vừng và trả lại cho ông Long diện
tích đất 69,9m
2
đã lấn chiếm thuộc thửa đất s2166, 2167 tbản đồ số 29 (ký hiệu
C theo Mảnh trích lục địa chính đo đạc chỉnh số 845 2024 do Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Dĩ An phát hành ngày 02/4/2024) tọa lạc tại
khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp, Thành phố An, tỉnh Bình Dương
(nay là phường Tân Đông Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đối với các tài sản trên đất do ông Nguyễn Đức Huy để nhờ. Ông đã làm
việc với ông Huy ông Huy cam kết sẽ tự tháo dỡ nên ông Long không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn
Phạm Thị Thu Thảo trình bày:
Năm 2021, vợ chồng Phạm Thị Thu Thảo, ông Trần Khắc Thủy thỏa thuận
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất toàn bộ tài sản gắn liền trên đất của ông
Nguyễn Xuân Quang và vợ Đỗ Thị Thu Huyền với giá 11.000.000.000 (mười một
tỷ) đồng, giá này được hiểu là bao gồm 300m
2
đất theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CB894966 cấp cho ông Quang, Huyền bao gồm cả phần đất ngoài
sổ. Ông Quang ước tính tổng diện tích đất khoảng 400m
2
(gồm 300m
2
trong sổ
100m
2
ngoài sổ - ông Quang tự tính), giá đất khoảng 27,5 triệu đồng/m
2
), như vậy
tổng giá trị nhà đất: 400m
2
x 27,5 triệu đồng/m
2
là 11 tỷ đồng.
Hiện trạng nhà, đất khi nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Quang thì
trên đất đã có sẵn dãy nhà trọ, bức tường xây tô lửng khoảng 1m, phía trên có lưới
B40, mái che ra phần lối đi dãy trọ, một số cây trồng như hiện nay, có cổng sắt nối
với tường gạch lửng, tạo thành khu trọ khép kín, phân chia đất ông Quang với phần
đất kế bên. Ông Quang xác định ranh có một phần nằm trong sổ đất ông Quang và
một phần nằm ngoài sổ. Bà Thảo nhận nhà, đất năm 2021 và xây thêm tường gạch
cao lên hơn 2m như hiện nay, không còn lưới B40, có sửa lại cổng sắt, nhà trọ, mái
che hành lang dãy nhà trọ, cây trồng trên đất vẫn giữ nguyên hiện trạng cho đến
nay. Trong quá trình bà Thảo sử dụng nhà, đất không tranh chấp với ai.
Nay ông Long căn cứ Quyết định công nhận thoả thuận số 76/2022/QĐST-
DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố An không đúng, thời
điểm Tòa án ban hành quyết định ng nhận, hiện trạng tài sản đã có sẵn, bà Thảo
đang quản sử dụng nhà, đất nhưng Thảo không được Tòa án đưa vào tham gia
tố tụng trong vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Thảo; đồng thời, ranh giới
theo đồ trích đo khu đất đính kèm Quyết định công nhận số 76 thể hiện tại phần
E (từ ranh đất trong giấy chứng nhận của bà Thảo đến tường gạch lốc theo hiện
trạng) diện tích 49m
2
. Tuy nhiên, tại Mảnh trích lục địa chính đo đạc ngày
02/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố An xác định
phần B, C (từ ranh đất trong giấy chứng nhận ca Thảo đến tường gạch lốc theo
5
hiện trạng) diện tích 65,4m² trong khi tường gạch này từ năm 2022 đến nay
không thay đổi. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét lại Quyết định công nhận số 76.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Long, Thảo không đồng ý, ông Long cũng
không phải chủ giáp ranh, không có quyền kiện bà Thảo.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân Quang Đỗ
Thị Thu Huyền trình bày:
Năm 2015, ông bà có nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị Quý quyền sử
dụng đất và nhà gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 2219, tờ bản đồ số 29, khu phố
Đông An, phường n Đông Hiệp, thành phố An, tỉnh Bình Dương, tổng diện
tích 300m². Thửa đất thuộc Ô 14, E5, khu dân Đông An, phường Tân Đông
Hiệp. Thời điểm bàn giao đất từ bà Quý, hiện trạng trên đất đã có dãy trọ, phía Bắc
phía Đông giáp đường nhựa, trong đó hai dãy trọ trên đất được xây quay lưng
vào nhau, một dãy trọ có mặt tiền hướng ra đường nhựa (hướng Bắc), một dãy trọ
phía trong chừa một phần hành lang làm lối đi của dãy trọ, mặt tiền giáp thửa
đất bên cạnh. Trong đó, lối đi dãy trọ được đổ tông, mái che phía trên, tại
phía giáp ranh với thửa đất bên cạnh chỉ hàng rào lưới B40 (không rõ ai xây),
một số cây cối (không nhớ cây gì) không tường xây. Thời điểm bàn giao
ranh ông, bà được biết hàng rào lưới B40 này không thuộc giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của thửa 2219 và hàng rào cùng một phần lối đi dãy trọ đang sử dụng
chưa được cấp giấy chứng nhận cho ai, nên cũng không rõ đất của ai. Ông và bà
Quý chỉ thoả thuận chuyển nhượng đất dãy trọ trong phạm vi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được cấp, đối với phần hàng rào và phần đất không rõ của ai thì
không thothuận chuyển nhượng. Sau khi hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng,
thanh toán tiền và sang tên thì Đỗ Thị Thu Huyền đứng tên trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Ông, bà vẫn giữ nguyên hiện trạng đất, nhà như thời điểm nhận
bàn giao từ Quý, do không ai ý kiến về hàng rào cũng như một phần đất
nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang được làm hành lang, lối đi của
dãy trọ nên ông vẫn giữ nguyên, sử dụng bình thường. Tháng 11/2021 ông
thoả thuận chuyển nhượng lại toàn bthửa đất và dãy trọ trên đất cho bà Phạm Thị
Thu Thảo. Thời điểm mua bà Thảo cũng biết việc một phần hành lang và hàng rào
lưới không nằm trong giấy chứng nhận quyền dụng đất được cấp cho ông Quang,
bà Huyền. Ông Quang, bà Huyền cũng chỉ thoả thuận chuyển nhượng cho bà Thảo
nhà, đất theo diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 300m², giá
chuyển nhượng cụ thể không nhớ do đã lâu. Hai bên đã thực hiện xong thủ tục
chuyển nhượng và sang tên bà Thảo, không ai tranh chấp gì. Sau đó, trong quá
trình Thảo sử dụng thì ông Quang, Huyền không ai người xây tường
gạch ngăn với thửa đất bên cạnh. Ông, bà không có quyền lợi, nghĩa vụ gì đối với
thửa đất số 2219, tbản đồ số 29, khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp, thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương cũng như phần đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất tranh chấp này. Việc tranh chấp giữa các
bên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng
Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp – CTCP trình bày:
6
Ngày 11/4/1998, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ra quyết định cho
phép Công ty Xuất nhập khẩu Bình Dương (nay là Tổng Công ty Đầu Phát
triển Công nghiệp CTCP) được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho 257 căn
hộ tại khu dân Tân Đông Hiệp (đợt 4). Dựa trên quyết định đó, Tổng Công ty đã
thực hiện việc chuyển nhượng cho khách hàng theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với thửa đất số 2219, tờ bản đồ số 29 trước đây Ô 14, E5 thuộc thẩm quyền
quản của Tổng Công ty đã được Tổng Công ty chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Dương Hiếu theo Hợp đồng chuyển nhượng nền nhà khu dân số
084/HĐ-MBD ký ngày 16/01/1998 với diện tích 300m
2
.
Sau khi xem xét Mảnh trích lục địa chính đo đạc chỉnh lý ngày 02/4/2024
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An xác định diện tích đất
theo đo đạc thực tế 447,5m
2
trước đây nằm trong khu dự án Becamex được Ủy
ban nhân dân tỉnh Bình Dương bàn giao theo Quyết định số 1208/QĐ.UB ngày
11/4/1998 của UBND tỉnh Bình Dương. vậy, thửa đất đang tranh chấp trước đây
thuộc quyền quản của Công ty Becamex. Đối với thửa đất Ô 16, thuộc lô E5 của
ông Nguyễn Thụy Long tsau khi hợp đồng chuyển nhượng ông Nguyễn Thụy
Long đã nhận bàn giao đất được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số: 414 QSDĐ/1998. Sau khi thực hiện thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của từng ô đất thì Công ty đã bàn giao cho
người sử dụng đất theo đúng vị trí và diện tích nhận chuyển nhượng và không còn
quản dự án nêu trên. Do đó, việc các hộ dân sử dụng phần đất nhận chuyển
nhượng từ Công ty trên thực tế như thế nào thì Công ty không biết không liên
quan đến Công ty.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Khắc Thủy trình bày: Ông
Thủy có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thanh Thùy trình bày:
Thùy ông Nguyễn Thụy Long đăng kết hôn năm 2016 theo Giấy chứng
nhận kết hôn số 80 do Ủy ban nhân dân phường An Phú, Quận 2, Thành phố Hồ
Chí Minh cấp ngày 11/10/2016 phần diện tích đất đang tranh chấp được hình
thành trước thời kỳ hôn nhân nên đây tài sản riêng của ông Long. vậy,
Thùy không có bất kỳ quyền lợi hoặc nghĩa vụ nào liên quan đến tài sản nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức Huy trình bày:
Ngày 09/6/2023, ông Nguyễn Thụy Long nộp đơn khởi kiện bà Phạm Thị
Thu Thảo tại Tòa án nhân dân thành phố An, tỉnh Bình Dương yêu cầu giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất. Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
28/02/2024, xác định Đinh ThHoa là chủ sở hữu của thửa đất số 2225, E5,
tọa lạc tại khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp, giáp với phần đất đang tranh
chấp của ông Long. Tuy nhiên, trên thực tế ông Huy người đang trực tiếp sdụng
thửa đất này. Do phần đất của ông Long đang tranh chấp chưa thể sử dụng
nên ông Huy có để tạm 01 mái che tôn, 01 cửa sắt, 01 nền bê tông xi măng và một
số thùng hàng hóa trên thửa đất số 2166, 2167, tờ bản đồ số 29 (ký hiệu C, D) theo
bản vẽ Mảnh trích lục địa chính đo đạc chỉnh số 845 - 2024 của Chi nhánh
7
Văn phòng đăng ký đất đai thành phố An. Ông Huy cam kết rằng ngay sau khi
vụ án giữa ông Nguyễn Thụy Long và Phạm Thị Thu Thảo được Tòa án giải
quyết xong, ông Huy sẽ tiến hành di dời toàn bộ mái che tôn, cửa sắt, nền bê tông
xi măng và một số thùng hàng hóa nêu trên và hoàn trả lại hiện trạng đất trống cho
ông Long.
Người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam trình bày ý kiến:
yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Tại Bản án dân sự thẩm số 102/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thụy Long đối
với bị đơn bà Phạm Thị Thu Thảo về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Buộc Phạm Thị Thu Thảo phải tháo dỡ 01 bức tường gạch lốc ngang
2,9m x dài 30m = 87m
2
; tháo dỡ 01 phần mái che của dãy trọ ngang 1,1m x dài 30m
= 33m
2
; tháo dỡ 01 phần sân gạch hành lang dãy trọ ngang 1,9m x dài 30m = 57m
2
;
tháo dỡ 01 cổng sắt ngang 1,1m x 2,9m = 3,19m
2
; chặt 01 cây khế, 01 cây mít, 01
cây lộc vừng; trả lại cho ông Nguyễn Thụy Long diện tích đất 69,9m
2
thuộc một
phần thửa đất số 2166, 2167 tờ bản đs29 (ký hiệu C) theo Mảnh trích lục địa
chính đo đạc chỉnh số 845 2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
thành phố An, tỉnh Bình Dương (nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
số 24 Thành phố Hồ Chí Minh) phát hành ngày 02/4/2024, đất tọa lạc tại khu phố
Đông An, phường Tân Đông Hiệp, thành phố An, tỉnh Bình Dương (nay
phường Tân Đông Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh), (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
2. Án phí dân sự thẩm: Phạm Thị Thu Thảo phải chịu 300.000 đồng
án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Thụy Long số tiền 300.000 đồng
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006841 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân
sự Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ngoài ra, bản ra án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, quyền kháng cáo,
trách nhiệm thi hành án của đương sự.
Ngày 24 tháng 3 năm 2026, bị đơn bà Phạm Thị Thu Thảo đơn kháng cáo
toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị xét xử, giải quyết
lại vụ án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện; bị đơn không rút yêu cầu kháng
cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn ông Nguyễn Thụy Long người đi din hp pháp ca nguyên
đơn trình bày: Ngun gốc đất do ông Long nhn chuyển nhượng ca Công ty
Becamex vào năm 1997, khi nhu cu s dng thì phát hiện đất b thiếu. Ông
8
Long đến Ban qun lý d án, UBND phường để làm việc thì xác định ch s dng
đất Ô 17 lấn nên đã khi kin ông Nguyn Minh Hiếu. Thời điểm khi kin ông
Hiếu có s tham gia ca Công ty Becamex. Do đất ông Hiếu xây dng công trình
c định nên ba bên tha thun giao cho ông Long s dng phần đất trống chưa được
cp giy chng nhn quyn s dụng đất cho ai để đủ 300m
2
đất ông Long nhn
chuyển nhượng. Ti thời điểm gii quyết v án vi ông Hiếu thì trên phần đất (ký
hiệu E, D) giao cho ông Long đã có sn bc ờng xây như hiện trng tranh chp
trong v án này. Quyn s dụng đất của ông Long đã được Tòa án công nhn theo
Quyết định công nhn s 76. Nhưng sau khi quyết định, không thể thi hành án
để ông Long được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được do Thảo lấn
chiếm phần đất công nhận cho ông Long. Ngoài ra, tại Thông báo giải quyết kiến
nghị giám đốc thẩm nêu rõ việc giải quyết ván giữa Thảo, ông Huy không liên
quan đến vụ án nên không kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, Quyết định số
76 nêu trên vẫn có hiệu lực. Do đó, đã đủ cơ sở xác định quyền sử dụng đất có diện
tích 150m
2
thuộc một phần thửa đất số 2166, 2167, tờ bản đồ số 29 thuộc về ông
Long hợp pháp. Nên ông Long yêu cầu bà Thảo tháo dỡ mái che, bức tường, các
tài sản khác trên đất, trả lại đất cho ông Long là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy
định tại khoản 1 Điều 164, Điều 166, khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự, Điều 12
Điều 170 Luật Đất đai. Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn
bộ nội dung kháng cáo của bị đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Diện tích
đất của ông Long và Thảo đang tranh chấp thuộc dự án của Công ty Becamex.
Khi giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập Công ty Becamex tham gia tố tụng và
đại diện của Công ty Becamex ý kiến đồng thuận giao phần đất này cho ông
Hiếu, ông Long. Quyết định số 76/2022 đã được các bên ý kiến, được Tòa án
nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xem xét Thông báo số 1190
ngày 15/5/2025 không sở kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm giữ
nguyên Quyết định số 76 hiệu lực cho đến nay. Về thửa đất tranh chấp, Thảo
cũng không chứng minh được đây đất của Thảo. Những chủ bán lại đất cho
bà Thảo cũng khẳng định chỉ bán diện tích trên giấy chứng nhận, đối với phần đất
sử dụng thêm trên đó hành lang, hàng rào B40. Phần hành lang chiếm dụng
phần đất cũ để mở rộng phần đường cho dãy nhà trọ đi vào, đây là chiếm dụng bất
hợp pháp đối với quyền sử dụng đất của Công ty Becamex. Phần hàng rào B40 do
chủ cũ rào để bảo vệ tài sản của mình nhưng lại rào trên đất của Công ty Becamex.
Từ thời điểm Thảo xây dựng trên phần đất này cũng không cơ quan nào đồng
ý. Đồng thời, phía Công ty Becamex đã gửi cho Tòa án văn bản thể hiện vị trí 5
thửa đất thuộc dự án trong đó thửa đất đang tranh chấp này được giao từ năm
2024, do đó Quyết định công nhận thỏa thuận thành năm 2022 không liên quan đến
Ủy ban nhân dân. Đối với việc tham gia tố tụng của ông Châu, Hoa không cần
thiết hiện nay đang tranh chấp mảnh đất giữa ông Long, bà Thảo; ông Huy
người đang sử dụng phần đất của Hoa và ông Huy cũng văn bản trình bày
không tranh chấp nên Hoa không liên quan trong vụ việc này. Từ những
cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bác đơn kháng cáo của bị đơn.
9
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Căn cứ vào hồ
sơ vụ án thể hiện nguồn gốc các thửa đất do Công ty Becamex chuyển nhượng cho
các hdân và được UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vào năm 1998,
trong đó theo thứ tự Ô 14 của bà Thảo, Ô 15 của ông Châu, Ô 16 của ông Long và
Ô 17 của ông Hiếu; thứ tự các ô đều liền kề nhau và diện tích mi ô là 300m
2
. Thời
điểm Thảo nhận chuyển giao từ chủ trước ông Quang đã trình bày ông mua
từ Quý đã hiện trạng hiện hữu dãy nhà trọ, hàng rào, con đường. Sau khi
Thảo tiếp nhận, chỉ xây lại hàng rào thành bức tường. Do đó, việc Thảo kế
thừa từ chủ sở hữu trước ràng, minh bạch trong suốt thời gian các chủ trước
Thảo không có bất cứ tranh chấp quyền sử dụng đất nào đối với chủ sở hữu
mảnh đất liền kề Ô 15.
Đất của ông Long là Ô 16, không tiếp giáp với đất bà Thảo là Ô 14 nên nếu
tranh chấp thì chỉ tranh chấp giữa Ô 14 Ô 15. Ông Long được cấp diện
tích đất 300m
2
, nhưng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 76 thì tổng diện
tích (tính cả phần đất đang tranh chấp) 363m
2
. Tuy nhiên, phần diện tích tăng
thêm này chưa được giải thích rõ. Chưa xác định được phần đất Thảo sử dụng
nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sdụng đất thuộc chủ sở hữu nào. Tòa án cấp
sơ thẩm cũng không làm rõ và triệu tập chủ đất Ô 15 tham gia tố tụng, không lấy ý
kiến của UBND thành phố An đlàm quyền sử dụng đất. vậy, dẫn đến
việc ban hành Quyết định công nhận thỏa thuận thành nhưng không thi hành án
được, không cấp giấy chứng nhận cho ông Long được.
Trong vụ án trước đây, việc thỏa thuận thành dựa trên sự thương lượng giữa
ông Long và ông Hiếu, tuy nhiên ông Long ông Hiếu không quyền sử dụng
đối với phần đất tranh chấp trong vụ án với Thảo, không xác định được quyền
sử dụng đất này thuộc quyền sử dụng của Công ty Becamex hay do Nhà nước quản
lý. Ông Long khởi kiện nhưng phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận mà chỉ
dựa trên Quyết định công nhận thỏa thuận thành bản thân Quyết định công nhận
thỏa thuận thành này có rất nhiều vấn đề bất cập. Trong hồ sơ vụ án ra Quyết định
công nhận thỏa thuận thành không hề có bất cứ ý kiến nào của Ủy ban nhân dân có
thẩm quyền, trong khi đó Công ty Becamex đã trình bày khi họ bán xong, họ bàn
giao cho người dân thì họ không còn quản đối với dự án này nữa. Do đó, đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên tòa
phát biểu ý kiến như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng người
tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Nguồn gốc đất ông Long nhận chuyển nhượng từ
Công ty Becamex vào năm 1997 theo Hợp đồng số 070. Ông Long được UBND
tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 227534, thuộc Ô 16
nay là thửa đất số 2168, tờ bản đồ số 29.
10
Về nguồn gốc sử dụng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị Thu Thảo là do
ông Nguyễn Dương Hiếu nhận chuyển nhượng từ Công ty Becamex vào năm 1998,
sau đó biến động bà Phạm Thị Thu Thảo được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CS30499 ngày 21/12/2021, thuộc Ô
14 nay là thửa đất số 2166 (số thửa cũ là 2119, tờ bản đồ số 29).
Theo sơ đồ vị trí đất thì Ô 14, Ô 16 được vẽ theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cấp cho ông Long Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông
Hiếu thể hiện giữa Ô 16 và Ô 14 là Ô 15. Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố Dĩ An, tỉnh Bình
Dương thì năm 1996 ông Nguyễn Thanh Châu nhận chuyển nhượng quyền sdụng
đất tCông ty Becamex theo Hợp đồng số 069 được UBND tỉnh Bình Dương
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 227544 thuộc Ô 15, diện tích 300m
2
.
Căn cứ Bản trích lục địa chính đo đạc ngày 02/4/2024 do Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai thành phố An thể hiện vị trí đất ông Long đang tranh chấp
thuộc một phần thửa đất số 2166 của bị đơn; thửa đất số 2167, tờ bản đồ số 29
hiệu C, D trên Mảnh trích lục thể hiện vị trí tranh chấp nằm tại Ô 15 của ông Nguyễn
Minh Châu.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ thu thập Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với Ô 15 của ông Châu, không thu thập biến động Ô 15 đến thời điểm hiện
nay của ai. Thửa đất số 2167 có phải là Ô 15 của ông Châu hay không, ông Châu
còn sở hữu quyền sử dụng đất đối với Ô 15 hay không. Như vậy, Tòa án cấp
thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu để xác định chủ sở hữu với quyền sử dụng đất
liên quan, đối với thửa đất số 2167 Ô 15 để xác định ông Châu có liên quan đến
tranh chấp hay không, việc giải quyết vụ án ảnh hưởng đến quyền lợi của ông
Châu, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Do Tòa án cấp thẩm chưa thu thập đầy đủ để giải quyết vụ án, cần thiết
phải hủy bản án sơ thẩm để giao về Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ
Chí Minh để xét xử lại. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ ván đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của
đương sự, Luật sư, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn Phạm Thị Thu Thảo hợp lệ, nộp trong
hạn luật định, phù hợp theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tc phúc thm.
[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện
hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nên căn cứ Điều
11
296 của Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015, a án tiến hành xét xử vắng mặt các
đương sự nêu trên.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Thu Thảo thấy rằng:
[2.1] Năm 1997, ông Nguyễn Thụy Long nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ Công ty xuất nhập khẩu Bình Dương, nay Tổng Công ty Đầu
Phát triển Công nghiệp CTCP theo Hợp đồng chuyển nhượng nền nhà khu dân
cư số 070/HĐ-MBĐ. Ông Long được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số L 227534, số vào sổ: 414 QSDĐ/1998 ngày
13/4/1998, thửa đất số Ô 16, E5, diện tích 300m
2
, tọa lạc tại khu dân Đông
An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay khu phố Đông An, phường Tân
Đông Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh).
[2.2] Quyền sử dụng đất của Phạm Thị Thu Thảo nguồn gốc ban đầu
do ông Nguyễn Dương Hiếu nhận chuyển nhượng từ Công ty Xuất nhập khẩu Bình
Dương, nay là Tổng Công ty Đầu và Phát triển ng nghiệp CTCP theo Hợp
đồng chuyển nhượng nền nhà khu dân cư số 084/HĐ-MBĐ ngày 16/01/1998. Ông
Hiếu đượcy ban nhân dân tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số L 227586, có số vào sổ 403 QSDĐ/1998 ngày 13/4/1998, thửa đất số Ô 14,
E5, diện tích 300m
2
, tọa lạc tại khu dân cư Đông An, huyện Thuận An, tỉnh Bình
Dương. Sau đó, ông Nguyễn Dương Hiếu chuyển nhượng cho bà Trương Thị Hà;
Trương Thị chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Quý; Nguyễn Thị Quý
chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Xuân Quang, bà Đỗ Thị Thu Huyền; đến ngày
17/11/2021, ông Quang và bà Huyền chuyển nhượng lại phần đất này cho bà Phạm
Thị Thu Thảo. Phạm Thị Thu Thảo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CS30499
ngày 21/12/2021 diệnch 292m
2
, thuộc thửa đất số 2219, tờ bản đồ số 29, tọa lạc
tại khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
[2.3] Căn cứ Quyết định số 1208/QĐ.UB ngày 11/4/1998 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Bình Dương (bút lục 205 210) thể hiện danh sách 257 hộ dân đề nghị
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu dân cư Đông An đợt 4 thể hiện: tại
lô E5 có Ô 14 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Dương Hiếu, Ô 15 chuyển nhượng
cho ông Nguyễn Thanh Châu, Ô 16 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thụy Long
và Ô 17 chuyển nhượng cho ông/bà Vương Ngọc Lang. Mỗi phần đất có diện tích
300m
2
.
[2.4] Tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện các phần đất nêu tại
mục [2.3] đã đăng biến động chủ sử dụng đất, trong đó chủ sử dụng đất hiện nay
đối với Ô 14 là bà Phạm Thị Thu Thảo; Ô 15 là ông Nguyễn Thanh Châu; Ô 16 là
ông Nguyễn Thụy Long và Ô 17 là ông Nguyễn Minh Hiếu.
[2.5] Căn cứ Bản đồ địa chính thể hiện tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số L 227534, số vào sổ: 414 QSDĐ/1998 ngày 13/4/1998 cấp cho ông
Nguyễn Thụy Long; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 227586, số vào sổ:
403 QSDĐ/1998 ngày 13/4/1998 cấp cho hộ ông Nguyễn Dương Hiếu; Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số L 227544, số vào sổ: 415 QSDĐ/1998 ngày 13/4/1998
12
cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh Châu đều thể hiện vị trí từng ô đất tính từ cạnh
phía Bắc của Ô 14 tiếp giáp đường nhựa, thì cạnh hướng Nam của Ô 14 tiếp giáp
Ô 15 lần lượt Ô 16, Ô 17. Ngoài các phần đất thuộc từ Ô 14 đến Ô 17 đều
không phần đất nào khác hay định vị phần đất dôi nào khác xen ktừ Ô 14
đến Ô 17. Như vậy, thể thấy vị trí các thửa đất được định vị ràng, phần đất
thuộc Ô 16 của ông Long không tiếp giáp với Ô 14 của Thảo nằm giữa hai
phần đất này là phần đất thuộc Ô 15 của ông Nguyễn Thanh Châu; cạnh phía Nam
đất bà Thảo chỉ tiếp giáp với đất ông Châu, không tiếp giáp với đất ông Long hay
ông Nguyễn Minh Hiếu tương tphần đất Ô 17 của ông Nguyễn Minh Hiếu
cách Ô 14 của bà Thảo Ô 15 Ô 16, không tiếp giáp với đất bà Thảo. Tuy nhiên,
Tòa án cấp thẩm chưa thu thập hồ biến động phần đất của ông Nguyễn Thanh
Châu, chưa làm vị trí đất của ông Châu tiếp giáp với đất Thảo như thế nào,
việc công nhận đất cho ông Long ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Châu hay
không.
[2.6] Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Thụy Long xác nhận
thời điểm năm 2022 thì phần đất thỏa thuận với ông Nguyễn Minh Hiếu ở vị trí D,
E theo đồ trích đo khu đất kèm theo Quyết định công nhận số 76 đã bức tường
xây. Thảo xác định phần đất thuộc vị trí E do Thảo quản bức tường xây
kiên cố. Như vậy, thời điểm ông Nguyễn Thụy Long khởi kiện ông Nguyễn Minh
Hiếu và được công nhận theo Quyết định công nhận số 76 thì đã tồn tại bức tường
xây việc quản đất của Thảo trước đó, thời điểm Thảo xây dựng bức
tường này không có sự tranh chấp với chủ thửa đất liền kề, cũng không bị cơ quan
có thẩm quyền xử lý vi phạm, bức tường có trước Quyết định công nhận số 76 nên
không thể cho rằng Thảo lấn chiếm đất của ông Long phải chủ sử dụng
đất hợp pháp khác. Kể cả Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp CTCP
cũng không xác định được phần đất E, D nêu trên có phải của họ hay không, điều
này thể hiện rõ tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 21/9/2022 của người đại diện hợp
pháp của Tổng Công ty Đầu tư Phát triển Công nghiệp CTCP xác định đã
chuyển nhượng và giao đất đúng vị trí, diện tích, việc sử dụng trên thực tế như thế
nào không liên quan đến Công ty, nếu căn cứ xác định phần đất trống vẫn thuộc
sở hữu của Công ty thì Công ty đề nghị Tòa án xem xét và liên hệ cơ quan có thẩm
quyền để xem xét cấp đất cho ông Long để bù vào phần đất bị thiếu (bút lục 336).
Chính trên phần đất công nhận cho ông Long tài sản của Thảo dẫn đến
Quyết định công nhận số 76 không thể thi hành án được. tại Công văn số
4702/CNVPĐKĐĐ-KTĐĐBĐ ngày 16/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai thành phố Dĩ An có đề nghị Tòa án liên hệ với Ủy ban nhân dân thành phố
An để được cung cấp thông tin vị trí thửa đất phần D phần E được Tòa án
nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý (bút lục 340).
[2.7] Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm phần đất tranh chấp trong
vụ án này; phần đất vị trí D, E theo đồ trích đo khu đất kèm theo Quyết định
công nhận số 76 là thuộc Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp CTCP
hay thuộc quyền quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đưa họ tham gia
tố tụng theo quy định của pháp luật ý kiến về phần đất công nhận cho ông
13
Long thuộc quyền sdụng đất của Tổng Công ty Đầu Phát triển Công
nghiệp CTCP hay nhân, tổ chức, quan Nhà nước nào khác, xem xét việc
tách thửa có đảm bảo quy hoạch trong khu dân cư hay không mới giải quyết vụ án
được toàn diện.
[2.8] Bên cạnh đó, theo đồ trích đo khu đất kèm theo Quyết định công
nhận số 76 thì phần đất hiệu E theo đồ trích đo khu đất kèm theo Quyết
định công nhận số 76, D 101m
2
giữa E và D bức tường. Tuy nhiên, đối
chiếu kết với quả đo đạc thực tế theo Mảnh trích lục địa chính đo đạc chỉnh
số 845 - 2024 ngày 02/4/2024 (bút lục 268) thì vị trí đất tranh chấp có ký hiệu C
69,9m
2
, D là 80,1m
2
và giữa C và D là bức tường xây. Trong khi nguyên đơn và bị
đơn đều xác định năm 2022 thì bức ờng đã sẵn. Như vậy, diện tích đất
hiệu E (49m
2
) theo Quyết định công nhận số 76 hiệu C (69,9m
2
) ràng
mâu thuẫn nhưng chưa được làm rõ.
[2.9] Theo Quyết định công nhận số 76 theo đồ trích đo khu đất kèm
theo thể hiện Tòa án công nhận cho ông Nguyễn Thụy Long và ông Nguyễn Minh
Hiếu, mỗi người 300m
2
đất, trong đó ông Long được công nhận ở vị trí có ký hiệu
E, D 150m
2
và B là 150m
2
và ông Hiếu được công nhận vị tcó ký hiệu C, B1.
Tuy nhiên, phần đất có ký hiệu B2 diện tích 58m
2
theo Sơ đồ trích đo khu đất kèm
theo Quyết định công nhận số 76 chưa thuộc quyền sử dụng đất của ai, thuộc
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Hiếu hay ông Long cũng chưa
được làm rõ, nếu tính luôn phần đất ký hiệu B2 diện tích 58m
2
này thì đất ông Hiếu
ông Long đều lớn hơn 300m
2
. Điều này cho thấy thêm một sự mâu thuẫn
trong việc thỏa thuận giữa ông Hiếu ông Long tại Quyết định công nhận số 76
nêu trên.
[2.10] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy
Tòa án cấp thẩm căn cứ theo Quyết định công nhận số 76 đang hiệu lực để
thụ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Long đối với Thảo đúng nhưng
khi giải quyết vụ án, các vấn đề mâu thuẫn, thiếu sót nêu trên chưa được Tòa án
cấp sơ thẩm làm rõ, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần thiết
phải hủy bản án thẩm để thụ lý, giải quyết lại theo thủ tục thẩm, đảm bảo
quyền lợi ích hợp pháp của tất cả các đương sự, không bsót người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhất quan quản Nhà nước thẩm quyền
quản lý về đất đai. Khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần làm rõ các vấn
đề nêu trên tính pháp đối với việc thỏa thuận của ông Long, ông Hiếu tại
Quyết định công nhận số 76.
[2.10] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của
bị đơn là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa về việc chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề nghị hủy bản án sơ
thẩm là phù hợp.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
14
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, Điều 296, khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 313 của Bộ
luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Thu Thảo.
2. Hủy Bản án dân sự thẩm số 102/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh
giải quyết lại theo thủ tục chung.
3. V án pdân s phúc thm: Trả cho Phạm Thị Thu Thảo 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0020023 ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự Thành
phố Hồ Chí Minh.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 16 Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Trúc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1268/2026/DS-PT Bản án số 1268/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1268/2026/DS-PT Bản án số 1268/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất