Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Sơn La về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Sơn La về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sơn La
Số hiệu: 04/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, tài sản chung giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Thu T và bị đơn Đỗ Hữu L
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 04/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 25/6/2026
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi
con chung, tài sản chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên
Các thẩm phán: Bà Tòng Thị Hiền, ông Phạm Tuấn Minh
- Thư phiên tòa: Thị Yến Nhi - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Quốc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 07/2026/TLPT-HNngày 13 tháng 5
năm 2026 về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, tài sản chung. Do bản án
dân sự thẩm số: 43/2026/HNGĐ-ST ngày 03 tháng 4 năm 2026 của Toà án
nhân dân Khu vực 1 - Sơn La bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số: 07/2026/QĐ-PT ngày 27 tháng 5 năm 2026; Quyết định hoãn
phiên toà số 08/2026/QĐ-PT ngày 12/06/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ A C,
phường T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đỗ Hữu L, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ A C, phường T,
tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Đình V, sinh năm 1965 Nguyễn Thị T1, sinh năm
1969. Địa chỉ: Tổ A C, phường T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
+ Ông Đỗ Hữu L1, sinh năm 1958 Lại Thị T2, sinh năm 1964. Địa
chỉ: Số nhà A đường T, phường T, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Người kháng cáo: Bị đơn anh Đỗ Hữu L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai các tài liệu trong hồ vụ án,
nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị anh L đã đăng kết hôn ngày 27/11/2014
tại UBND phường T, thành phố S (nay UBND phường T), tỉnh Sơn La. Kết
hôn do hai bên tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống hoà thuận
hạnh phúc đến giữa năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn
do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tiếng nói chung, dẫn đến tình
trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Trong thời gian qua hai vợ chồng gia
đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Đến nay, chị T xác định
không còn tình cảm vợ chồng với anh L, đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn
với anh L.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị anh L 02 con chung:
Cháu Đỗ Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/10/2015 cháu Đỗ Thị Phương A, sinh
ngày 16/3/2023. Chị T nguyện vọng trực tiếp nuôi cả hai cháu đến khi các
cháu trưởng thành. Nếu nguyện vọng của cháu Phương A muốn với anh L thì
chị đồng ý với điều kiện anh L phải đảm bảo điều kiện ăn học, sinh hoạt của
cháu như hiện tại và không được giao cháu cho ông bà nội nuôi. Trường hợp chị
được nuôi dưỡng 02 cháu thì chị yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung
mỗi cháu là 10.000.000 đồng/ tháng, đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Anh chị có 01 thửa đất và tài sản gắn liền với đất là nhà
diện tích 80m2 tại địa chỉ E, khu đô thị S, tổ A C, phường T, tỉnh Sơn La
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 621955, cấp ngày 29/9/2023
mang tên hai vchồng. Nguồn gốc đất nhà trên đất do bố mẹ đẻ chị T (ông
Nguyễn Đình V Nguyễn Thị T1) bố mẹ đanh L (ông Đỗ Hữu L1
Lại Thị T2) cho:
- Bố mẹ đẻ chị ông V T1 đã cho vợ chồng chị T 01 mảnh đất trị
giá lúc mua là 1.600.000.000 đồng và 500.000.000 đồng tiền mặt để làm nhà; bố
mẹ chồng là T2 đã chuyển khoản 1.000.000.000 đồng và đưa trực tiếp
200.000.000 đồng cho chị để làm nhà. Về nguồn gốc số tiền T2 chuyển
khoản cho chị, trong đó có 200.000.000 đồng tiền quà cưới do ông V, bà T1 cho
chị 300.000.000 đồng tiền quà cưới do T2, ông L1 cho anh L. Ngoài ra,
anh L đã đưa cho chị T 800.000.000 đồng để làm nhà nhưng không nói là tiền
do bố mẹ của anh L cho.
Chị T đề nghị Toà án phân chia tài sản của vợ chồng theo quy định pháp
luật.
Về tài sản riêng, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, các biên bản hòa giải tại phiên tòa bị đơn anh Đỗ
Hữu L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh chị T đã đăng kết hôn ngày 27/11/2014
tại UBND phường T, thành phố S (nay UBND phường T), tỉnh Sơn La. Kết
hôn do hai bên tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống, hai vợ
chồng xảy ra mâu thuẫn nhưng không lớn. Anh L xác định vẫn còn tình cảm
3
vợ chồng với vợ, mong muốn đoàn tụ để gia đình cùng nuôi dạy con cái, tuy
nhiên nếu chị T kiên quyết đề nghị ly hôn thì anh L cũng nhất trí.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh L có 02 con chung:
Cháu Đỗ Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/10/2015 cháu Đỗ Thị Phương A,
sinh ngày 16/3/2023. Anh L có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu Đỗ Thị Ngọc Á,
còn cháu Đỗ Thị Phương A còn nhỏ thì để chị T trực tiếp nuôi. Anh không
không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản chung: Anh chị có 01 thửa đất và tài sản gắn liền với đất là nhà
diện tích 80m2 tại địa chỉ E, khu đô thị S, tổ A C, phường T, tỉnh Sơn La
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 621955, cấp ngày 29/9/2023
mang tên hai vchồng. Nguồn gốc đất nhà trên đất do bố mẹ đẻ chị T (ông
Nguyễn Đình V Nguyễn Thị T1) bố mẹ đanh L (ông Đỗ Hữu L1
Lại Thị T2) cho, gồm:
Ông V T1 đã cho vợ chồng anh 01 mảnh đất trị giá lúc mua
1.600.000 đồng 500.000.000 đồng tiền mặt để làm nhà. Bố mẹ đẻ anh ông
L1, T2 đã cho vợ chồng 1.200.000.000 đồng, trong đó T2 đã chuyển
khoản 1.000.000.000 đồng đưa trực tiếp 200.000.000 đồng cho chị T. Ngoài
ra, ông L1 đã 03 lần trực tiếp đưa tiền mặt cho anh tổng cộng là 800.000.000
đồng, anh đưa lại cho chị T đề làm nhà.
Anh L đề nghị Toà án phân chia tài sản vợ chồng mỗi người một nửa.
Về tài sản riêng, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại ban tự khai, các biên bản hòa giải, tại phiên a, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Nguyên Đình V1 và bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Về nguồn gốc tài sản chung của anh L, chị T do ông nhận chuyển
nhượng của ông Phạm Văn L2, Nguyễn Thị H với giá 1.600.000.000 đồng,
sau khi mua đất xong ông tặng cho vợ chồng chị T, anh L đứng tên, khi làm
nhà ông cho tiếp số tiền 500.000.000 đồng, ông bà xác định đã cho vợ chồng
chị T, anh L nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tkhai, các biên bản hòa giải người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Đỗ Hữu L1 và bà Lại Thị T2 trình bày:
Trong quá trình anh chị T, anh L xây nhà ông, đã đưa cho vợ chồng
anh L 1.200.000.000 đồng, trong đó T2 đã chuyến khoản 1.000.000.000 đồng
đưa trực tiếp 200.000.000 đồng cho chị T. Ngoài ra, ông L1 đã 03 lần trực
tiếp đưa tiền mặt cho anh L với tổng số tiền 800.000.000 đồng, ông xác định
đã cho vợ chồng chị T, anh L nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 43/2026/HNGĐ-ST ngày
03/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La xét xử và quyết định:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56; 58, 59, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân
và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147, Điều 157, 165, điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều
4
228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 213, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân
sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban
Thường vụ. Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của Nguyễn Thị Thu T đối với anh
Đỗ Hữu L.
Xử cho chị Nguyễn Thị Thu T ly hôn với anh Đỗ Hữu L.
2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/10/2015 và Đỗ
Thị Phương A, sinh ngày 16/3/2023 cho chị Nguyễn Thị Thu T trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi khả
năng lao động hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh Đỗ Hữu L cấp dưỡng đối với
cháu Đỗ Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/10/2015 số tiền 7.500.000 đồng/ tháng
cấp dưỡng đối với cháu Đỗ Thị Phương A, sinh ngày 16/3/2023 số tiền
7.500.000 đồng/ tháng, cho đến khi lần lượt các cháu đủ 18 tuổi hoặc sự thay
đổi khác. Thi hành cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con quyền thăm nom con,
không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc
thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc,
giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về tài sản chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu T quản lý, sử dụng
khối tàn sản chung gồm: Thửa đất tại địa chỉ Lô E, khu đô thị S, tổ A C, phường
T, tỉnh n La theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 621955, cấp
ngày 29/9/2023 mang tên Đỗ Hữu LNguyễn Thị Thu T.
Tài sản trên đất gồm: 01 nhà 4 tầng xây hết đất, khung tông cốt thép
chịu lực, tường 220mm, nền lát gạch ceramic, tường tầng 1 ốp đá nhựa, mái
lợp tôn chống nóng, tường bao che 220mm, tổng diện tích 302m2. Tổng giá trị
tài sản 2.578.082.800đ (Hai tỷ năm trăm bảy mươi tám triệu, không trăm tám
mươi hai nghìn tám trăm đồng).
Tài sản được mô tcụ thể tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
23/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La. Kèm theo trích đo hình thể
hiện trạng thửa đất.
Chị Nguyễn Thị Thu T trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch chia tài
sản cho anh Đỗ Hữu L 1.289.041.400đ (Một tỷ hai trăm tám mươi chín triệu,
không trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm đồng), được khấu trừ số tiền
5.000.000đ (Năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định g
tài sản do anh L phải trả cho chị T.
Anh L chị T nghĩa vụ đăng biến động đất đai thực hiện nghĩa
vụ tài chính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
4. Về tài sản riêng, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
5
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng quyền kháng cáo
cho các đương sự.
Do không nhất trí với bản án sơ thẩm, ngày 19/4/2026 anh Đỗ Hữu L làm
đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Đỗ Hữu L giữ nguyên nội dung
kháng cáo, mong muốn được đoàn tụ gia đình, trường hợp chị T không nhất trí
đoàn tụ nếu ly hôn đề nghị xem xét giảm đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T: Không nhất trí với nội
dung đơn kháng cáo của anh L, chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được
ly n. Nguyên đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T1,
ông Nguyễn Đình V đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa những người tham gia tố tụng trong q
trình giải quyết vụ án, đã chấp hành và thc hiện đúng các quy định ca B lut
T tng dân s.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kim sát viên đề nghị: Căn cứ khoản 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Đỗ
Hữu L. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 43/2026/HNGĐ-ST
ngày 03/04/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Sơn La.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án; ý kiến
trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; quan
điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết
cho chị được ly n anh Đỗ Hữu L. Nguyên đơn, bị đơn đều trú tại phường
T, tỉnh Sơn La. Do vậy, Tòa án nhân dân Khu vực 1 Sơn La thụ thẩm để
giải quyết vụ án căn cứ, đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều
28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thời hạn kháng cáo:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/4/2026, bị đơn anh Đỗ Hữu L đơn
kháng cáo toàn bộ bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 43/2026/HNGĐ-ST
ngày 03/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La. Xét đơn kháng cáo
trong hạn luật định, đảm bảo về hình thức nội dung theo quy định tại các
Điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, do vậy được xem xét giải quyết theo trình
tự phúc thẩm.
[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự:
6
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn anh Đỗ Hữu L, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Đỗ Hữu L1, Lại Thị T2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng
đơn xin xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định
tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Thu T anh Đỗ Hữu L kết hôn ngày 27/11/2014 trên
cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn tại UBND phường T, thành phố S. Quá trình
chung sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến giữa năm 2025 thì phát sinh mâu
thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có
tiếng nói chung. Chị T cho rằng anh L ít quan tâm đến vợ con.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm cũng đã tiến hành hoà giải
cho chị T, anh L được đoàn tụ gia đình nhưng không thành. Tại lời khai anh L
cũng xác nhận vợ chồng anh chị mâu thuẫn, tuy nhiên mâu thuẫn này chưa
nghiêm trọng đdẫn đến việc hai vợ chồng ly hôn, nguyện vọng của anh mong
muốn được đoàn tgia đình. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án tại cấp
thẩm phúc thẩm anh L, chị T đều không hướng khắc phục mâu thuẫn vợ
chồng để đoàn tgia đình. Tại phiên toà phúc thẩm chT vẫn giữ nguyên yêu
cầu xin được ly hôn, không nhất trí đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của
chị T, anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn
nhân không đạt được. Toà án cấp sơ thẩm xử cho chị T được ly hôn với anh L là
có căn cứ theo quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
Chị T anh L 02 con chung cháu Đỗ Thị Ngọc Á, sinh ngày
20/10/2015 cháu Đỗ Thị Phương A, sinh ngày 16/3/2023. Anh L, chị T đều
nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu bên
còn lại cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cháu Đỗ Thị Phương A hiện còn nhỏ (03 tuổi), cần sự quan
tâm, chăm sóc trực tiếp của người mẹ; đối với cháu Đỗ Thị Ngọc Á, cháu
nguyện vọng được ở cùng mẹ và em gái. Mặt khác, anh L hiện đang công tác tại
Đồn Biên phòng N, địa bàn vùng biên giới thuộc khu vực điều kiện kinh tế -
hội khó khăn, tính chất công việc thường xuyên phải thực hiện nhiệm vđặc
thù nên những hạn chế nhất định trong việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
các con. Trong khi đó, chị T hiện đang trú tại phường T, tỉnh Sơn La, nơi
các cháu đang sinh sống, học tập, bảo đảm điều kiện thuận lợi cho việc chăm
sóc, giáo dục, phát triển cũng như ổn định về tâm sinh cả hai cháu đều
con gái.
Tòa án cấp thẩm giao hai cháu Đỗ Thị Ngọc Á Đỗ Thị Phương A
cho chị Nguyễn Thị Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
đến khi các cháu đủ tuổi thành niên hoặc sự thay đổi khác theo quy định của
pháp luật là có căn cứ, phù hợp với quyền lợi mọi mặt của các cháu và đúng quy
định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
7
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung:
Chị Nguyễn Thị Thu T anh Đỗ Hữu L không thỏa thuận được vmức
cấp dưỡng nên Tòa án phải xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.
Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào bảng cấp phát lương s quan của anh Đỗ Hữu
L tại đồn biên phòng N, mức lương thực lĩnh của anh L 44.426.000
đồng/tháng, có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con chung để
c định mức cấp dưỡng đối với anh L 7.500.000 đồng/tháng/cháu, tổng cộng
15.000.000 đồng/tháng đối với cả hai cháu.
Tại phiên toà phúc thẩm anh L cung cấp thêm các tài liệu: Giấy xác nhận
của Đồn biên phòng N đối với các khoản phụ cấp của anh L; 01 bảng cấp phát
lương của anh L tháng 6/2026 không bao gồm các phcấp địa bàn biên giới
mức lương thực lĩnh 18.880.992đ 01 bảng cấp phát lương sỹ quan tháng
06/2026 bao gồm các phụ cấp địa bàn biên giới mức lương thực lĩnh
44.426.000 đồng/tháng.
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-
HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
hướng dẫn một squy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc vhôn nhân
gia đình thì trường hợp các bên không thoả thuận được mức cấp dưỡng thì Toà
án quyết định căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người nghĩa vụ cấp
dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy
thu nhập thực tế của anh L tại thời điểm Toà án thẩm, phúc thẩm giải quyết
việc cấp dưỡng nuôi con 44.426.000 đồng/tháng, chưa tài liệu thể hiện sự
thay đổi địa bàn công tác, tính chất nhiệm vụ được giao, chế độ được hưởng;
đồng thời xem xét việc cấp dưỡng căn cứ vào cả nhu cầu thiết yếu của người
được cấp dưỡng cháu Đ Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/10/2015 Đỗ Thị
Phương A, sinh ngày 16/3/2023, các cháu đều n nhỏ (một cháu 03 tuổi, 01
cháu 11 tuổi) đang trong độ tuổi đi học, mức cấp dưỡng Toà án cấp thẩm
quyết định là phù hợp, đảm bảo điều kiện sinh hoạt, học tập cho các cháu.
[2.4] Về tài sản chung:
Chị T anh L thống nhất xác định tài sản chung gồm: 01 thửa đất diện
tích 80m² tại lô E, khu đô thị S, tổ A C, phường T, tỉnh Sơn La theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DL 621955 cấp ngày 29/9/2023 mang tên anh Đỗ
Hữu L chị Nguyễn Thị Thu T, cùng tài sản gắn liền với đất căn nhà 04
tầng, kết cấu khung bê tông cốt thép chịu lực, tường 220mm, nền lát gạch
ceramic, tường tầng 1 ốp đá nhựa, mái lợp tôn chống nóng, tường bao che
220mm tổng diện tích 302m².
Theo kết quả định giá ngày 21/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản, giá
trị quyền sử dụng đất 968.000.000 đồng, giá trị căn n sau khấu hao
1.610.082.800 đồng; tổng giá trị quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
2.578.082.800 đồng. Tại buổi hòa giải ngày 06/02/2026, các đương sự đều thống
nhất với kết quả định gkhông ý kiến khiếu nại, tranh chấp về giá trị tài
sản.
8
Về nguồn gốc tài sản, chị T anh L đều xác nhận tài sản được hình
thành trong thời kỳ hôn nhân, sự hỗ trợ của gia đình bố mẹ hai bên. Bố mẹ
hai bên đã hỗ trợ tạo lập tài sản, không yêu cầu đòi lại tài sản không yêu
cầu Tòa án giải quyết quyền lợi liên quan. Do đó, có đủ căn cứ xác định toàn bộ
quyền sdụng đất tài sản gắn liền với đất nêu trên tài sản chung của vợ
chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình.
Toà án cấp thẩm chia mỗi bên được hưởng 1/2 giá trị khối tài sản
chung, tương ứng số tiền 1.289.041.400 đồng căn cứ, đúng quy định. Xét
thấy tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất căn nhà được xây dựng thống
nhất trên toàn bộ diện tích đất, việc chia hiện vật không bảo đảm công năng sử
dụng của tài sản ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Mặt
khác, sau khi ly hôn, chị T người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung chưa
thành niên, hiện tại chị các con đang sinh sống ổn định tại căn nhà nêu trên,
trong khi anh L đang công tác xa nơi có tài sản. Do đó, để bảo đảm điều kiện n
định về chỗ ở, sinh hoạt, học tập phát triển của các con chung, cần giao toàn
bộ quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất cho chị T được quản lý, sử
dụng.
Việc giao tài sản cho chị T quản lý, sử dụng không làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của anh L bởi anh L được thanh toán phần giá trị tài sản thuộc quyền
sở hữu của mình. Cấp thẩm, buộc chị Nguyễn Thị Thu T thanh toán cho anh
Đỗ Hữu L số tiền 1.289.041.400 đồng phù hợp với nguyên tắc chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.5] Về nợ chung tài sản riêng: Không có. Toà án cấp thẩm không
xem xét, giải quyết là có căn cứ.
[3] Về chi phí tố tụng và án phí:
[3.1] Về án phí:
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu
T nên buộc chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định
của pháp luật căn cứ. Đối với yêu cầu chia tài sản chung, tổng giá trị tài
sản chung của vợ chồng được xác định 2.578.082.800 đồng; mỗi bên được
hưởng giá trị tài sản 1.289.041.400 đồng. Theo quy định tại khoản 5 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị tài
sản được hưởng. Do đó, việc Tòa án cấp thẩm xác định chị Nguyễn Thị Thu
T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình thẩm và 50.671.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với phần giá trị tài sản được chia; anh Đỗ Hữu L
phải chịu 50.671.000 đồng án phí dân sự thẩm đối với phần giá trị i sản
được hưởng là đúng quy định của pháp luật.
[3.2] Về chi phí tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, để căn cứ giải quyết yêu cầu chia tài
sản chung của vợ chồng, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định
giá tài sản. Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản
9
10.000.000 đồng, do chị Nguyễn Thị Thu T tạm ứng và đã thanh toán. Xét thấy
việc xem xét, thẩm định định giá tài sản được thực hiện nhằm phục vụ việc
giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của cả hai đương sự. Do vậy, Tòa án cấp
thẩm xác định mỗi bên phải chịu 1/2 chi phí tố tụng, tương ứng số tiền
5.000.000 đồng, là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị T đã thanh toán toàn
bộ khoản chi phí này nên anh Đỗ Hữu L trách nhiệm hoàn trả cho chị T số
tiền 5.000.000 đồng.
Từ những nhận định phân tích nêu trên không chấp nhận nội dung kháng
cáo của bị đơn anh Đỗ Hữu L, giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình thẩm số
43/2026/HNGĐ-ST ngày 03/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - tỉnh Sơn
La.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Đỗ Hữu L, giữ nguyên bản án
Hôn nhân gia đình thẩm số 43/2026/HNGĐ-ST ngày 03/4/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 1 - Sơn La như sau:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56; 58, 59, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân
và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147, Điều 157, 165, điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều
228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 213, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân
sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban
Thường vụ. Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly n của Nguyễn Thị Thu T đối với anh
Đỗ Hữu L.
Xử cho chị Nguyễn Thị Thu T ly hôn với anh Đỗ Hữu L.
2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/10/2015 và Đỗ
Thị Phương A, sinh ngày 16/3/2023 cho chị Nguyễn Thị Thu T trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi khả
năng lạo động hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh Đỗ Hữu L cấp dưỡng đối với
cháu Đỗ Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/10/2015 số tiền 7.500.000 đồng/ tháng
cấp dưỡng đối với cháu Đỗ Thị Phương A, sinh ngày 16/3/2023 số tiền
7.500.000 đồng/ tháng, cho đến khi lần lượt các cháu đủ 18 tuổi hoặc sự thay
đổi khác. Thi hành cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con quyền thăm nom con,
không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc
thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm c,
giáo dục, nuôi dưỡng con.
10
3. Về tài sản chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu T quản lý, sử dụng
khối tàn sản chung gồm: Thửa đất tại địa chỉ Lô E, khu đô thị S, tổ A C, phường
T, tỉnh n La theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 621955, cấp
ngày 29/9/2023 mang tên Đỗ Hữu LNguyễn Thị Thu T.
Tài sản trên đất gồm: 01 nhà 4 tầng xây hết đất, khung tông cốt thép
chịu lực, tường 220mm, nền lát gạch ceramic, tường tầng 1 ốp đá nhựa, mái
lợp tôn chống nóng, tường bao che 220mm, tổng diện tích 302m2. Tổng giá trị
tài sản 2.578.082.800đ (Hai tỷ năm trăm bảy mươi tám triệu, không trăm tám
mươi hai nghìn tám trăm đồng).
Tài sản được tcụ thể tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
23/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La (Kèm theo trích đo hình thể
hiện trạng thửa đất).
Chị Nguyễn Thị Thu T trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch chia tài
sản cho anh Đỗ Hữu L 1.289.041.400đ (Một tỷ hai trăm tám mươi chín triệu,
không trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm đồng), được khấu trừ số tiền
5.000.000đ (Năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá
tài sản do anh L phải trả cho chị T.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì
hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiên phải thi hành án theo mức lãi
suât quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành xong tất
cả các khoản tiền.
Anh L chị T nghĩa vụ đăng biến động đất đai thực hiện nghĩa
vụ tài chính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
4. Về tài sản riêng, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí:
5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự thẩm về ly
hôn 300.000 đồng 50.671.000 đồng án phí phân chia tài sản. Tổng cộng
50.971.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu
tạm số 0000550, ngày 23/10/2025. Chị Nguyễn Thị Thu T còn phải nộp tiếp số
tiền 50.671.000đ (Năm mươi triệu, sáu trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Nộp tại
Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
Bị đơn anh Đỗ Hữu L phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung
300.000 đồng 50.671.000 đồng án phí chia tài sản chung. Tổng cộng
50.971.000 (Năm mươi triệu, chín trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Nộp tại Thi
hành án dân sự tỉnh Sơn La.
5.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án
11
Anh Đỗ Hữu L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số
tiền 300.000 đồng án phí phúc thẩm do anh Đỗ Hữu L đã nộp theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000503 ngày 28/4/2026 tại Thi hành án dân sự
tỉnh Sơn La.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (ngày
25/6/2026).
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
Nơi nhận:
- Viện Phúc thẩm I – VSKND Tối Cao;
- VKSND tỉnh Sơn La;
- Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La;
- Các đương sự;
- UBND phường Tô Hiệu, tỉnh Sơn La;
- Phòng TT,KT và THA;
- Tổ HCTP;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Điêu Thị Kim Liên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất