Bản án số 249/2026/KDTM-PT ngày 30/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 249/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 249/2026/KDTM-PT ngày 30/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 249/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đương sự không kháng cáo, chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị. Không chấp nhận kháng nghị.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 249/2026/KDTM-PT Bản án số 249/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 249/2026/KDTM-PT Bản án số 249/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 249/2026/KDTM-PT
Ngày 30-6-2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trúc.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Huỳnh;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư phiên tòa: Ông Thái An Thư Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Phương Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh (sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý s
147/2026/TLPT-KDTM ngày 28 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa”.
Do Bản án kinh doanh, thương mại thẩm số 25/2026/KDTM-ST ngày 13
tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3361/2026/QĐ-PT ngày
22 tháng 5 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 8996/2026/QĐ-PT
ngày 16 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: ng ty TNHH T1; địa chỉ trụ sở: số F B, phường C, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Đào Hữu R, chức vụ:
Giám đốc. Vắng mặt, do có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đào Hữu N, sinh năm 1983;
địa chỉ: số F B, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền
(Văn bản ủy quyền ngày 07/8/2025). Vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ trụ sở: số D N, khu phố T, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh.
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Nguyễn Thị Mỹ P; địa chỉ: số A,
đường số H, khu phố A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày
09/12/2025). Vắng mặt, do có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X
(E); địa chỉ: số B N, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X: Ông Khưu
Quốc T; địa chỉ: số C N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, do có yêu
cầu xét xử vắng mặt.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 84/QĐ-
VKS-KDTM ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn trình bày:
Ngày 14/3/2024, Công ty TNHH T1 (sau viết tắt Công ty T1) Công ty
TNHH S (sau viết tắt Công ty S) kết Hợp đồng thương mại số QLH-CN/01.
Theo đó, Công ty T1 bán hàng cho Công ty S theo số lượng mà Công ty S đặt hàng.
Thực hiện hợp đồng, Công ty S đặt hàng theo các Đơn đặt hàng số 01/QLH-
CN ngày 19/3/2024 Đơn đặt hàng số 02/QLH-CN ngày 07/5/2024 với tổng số
tiền hàng 633.177.089 đồng. Khi Công ty S bán và giao lại toàn bộ số lượng hàng
hoá cho bên thứ 3 Công ty TNHH C (Trung Quốc) tbị thiếu hàng hoá. Ngày
27/6/2024, Công ty S và Công ty T1 lập biên bản họp để xử lý tiền hàng thiếu, hàng
lỗi và thanh toán tiền hàng. Theo đó, Công ty T1 đồng ý khấu trừ cho Công ty S số
lượng hàng thiếu với số tiền là 24.973.188 đồng và hai bên còn thoả thuận về xử lý
hàng lỗi, cụ thể trích ra 10% gtrị hàng nhận thực tế là 60.820.390 đồng gửi vào tài
khoản số 181850101010610 - mở tại Ngân hàng TMCP X (E) - Chi nhánh/ P1, tài
khoản này do người đại diện của Công ty T1 và người đại diện của Công ty S cùng
đứng chung chsở hữu tài khoản. Sau đó, các bên thỏa thuận để Công ty T1 rút ra
số tiền 40.000.000 đồng từ stài khoản trên vào ngày 22/11/2024, còn lại 20.820.390
đồng. Đến hiện nay, thời hạn đã hơn 01 năm nhưng Công ty S H không thông báo
cho Công ty T1 về hàng lỗi cũng không cùng ký lệnh rút tiền để Công ty T1 rút
lại số tiền còn lại 20.820.390 đồng, việc này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp
pháp của Công ty T1.
vậy, Công ty T1 mới đơn khởi kiện ng ty S, yêu cầu Công ty S giải
tỏa số tiền 20.820.390 đồng tại Ngân hàng E - Chi nhánh D cho Công ty T1.
Tại phiên toà, người đại diện của nguyên đơn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị
đơn yêu cầu bị đơn giải toả số tiền gốc 20.820.390 đồng tiền lãi phát sinh tại
Ngân hàng E - Chi nhánh D cho Công ty T1. Ông N xác định bị đơn đã hoàn thành
xong nghĩa vụ trả nợ theo các Đơn đặt hàng số 01/QLH-CN ngày 19/3/2024 Đơn
đặt hàng số 02/QLH-CN ngày 07/5/2024.
3
Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH S trình bày:
Thống nhất với lời trình bày với người đại diện hợp pháp của Công ty T1 v
kết, thực hiện Hợp đồng thương mại số QLH-CN/01 ngày 14/03/2024, Đơn đặt
hàng số 01/QLH-CN ngày 19/3/2024 và Đơn đặt hàng số 02/QLH-CN ngày
07/5/2024 và thỏa thuận Biên bản họp ngày 27/6/2024. Tuy nhiên, ng ty S không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của Công ty T1, ng ty S u cầu Công ty T1 cung
cấp thêm chứng tnguồn gốc xuất xg(cụ thể chứng chỉ FSC) nhưng phía Công
ty T1 không cung cấp được. Ngoài ra, số hàng lỗi chưa được công ty thứ ba là Công
ty TNHH C (Trung Quốc) cung cấp toàn bộ cho Công ty S như thothuận vbảo
hành sản phẩm giữa Công ty S với Công ty TNHH C trong Hợp đồng thương mại
số TK-20240227 ngày 27/02/2024.
Tại phiên tòa, người đại diện của bị đơn trình bày: số tiền gốc 20.820.390
đồng được gửi tại Ngân hàng E - Chi nhánh D tiền của Công ty T1 bỏ ra. Do Công
ty T1 không cung cấp cho bị đơn chứng chỉ FSC thời hạn bảo hành sản phẩm
giữa bị đơn với Công ty TNHH C vẫn còn đang trong thời hạn bảo hành. Trường
hợp, nếu nguyên đơn chịu thoả thuận thì bị đơn chỉ đồng ý giải toả cho nguyên
đơn số tiền 10.000.000 đồng trong tổng số tiền 20.820.390 đồng.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân
hàng Thương mại Cổ phần X (E) - Chi nhánh/ P1 trình bày:
Ngày 27/6/2024, ông Đào Hữu N (đại diện cho Công ty T1) Nguyễn Thị
Phương L (đại diện cho Công ty S) đến E để mở 01 thẻ tiết kiệm chung với số
hiện tại đến ngày 05/3/2026 là 22.516.441 đồng (trong đó 20.820.390 đồng tiền gốc
và 1.696.051 đồng tiền lãi). Ông N và bà L cùng nộp tiền và cùng đứng tên trên thẻ
tiết kiệm trên. Kỳ hạn thẻ tiết kiện 02 tháng/ kỳ. E đã tư vấn rất rõ về quy định mở,
tất toán thẻ tiết kiệm chung cho cả ông N và bà L khi mở thẻ tiết kiệm trên. Thẻ tiết
kiệm này chỉ tất toán và rút tiền khi có sự đồng ý và có cả sự hiện diện của ông N
bà L ký nhận hoặc căn cứ bản án của Tòa án có thẩm quyền thì E sẽ thực hiện theo
quy định.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại thẩm số 25/2026/KDTM-ST ngày 13
tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh đã
quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T1 với bị đơn
Công ty TNHH S về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá.
Buộc Công ty TNHH S-S do bà Nguyễn Thị Phương L đại diện liên hệ Ngân
hàng TMCP X (E) - Chi nhánh/ P1 để giải tỏa số tiền 20.820.390 đồng tiền lãi
phát sinh theo số tài khoản 181850101010610, đồng đứng tên chủ sở hữu Đào Hữu
N và Nguyễn Thị Phương L cho Công ty TNHH T1.
Trường hợp, Công ty TNHH S-S do Nguyễn Thị Phương L đại diện không
liên hệ Ngân hàng TMCP X (E) - Chi nhánh/ P1 để giải toả số tiền 20.820.390 đồng
và tiền lãi phát sinh cho Công ty TNHH T1 thì Công ty TNHH T1 được quyền liên
hệ Ngân hàng TMCP X (E) - P1 để yêu cầu giải toả số tiền 20.820.390 đồng và tiền
4
lãi phát sinh theo số tài khoản 181850101010610, đồng đứng tên chủ sở hữu Đào
Hữu NNguyễn Thị Phương L cho Công ty TNHH T1.
2. Án phí kinh doanh thương mại thẩm: Công ty TNHH S phải chịu
3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Công ty TNHH T1 không phải chịu án phí. Thi hành án dân sự Thành phố H
hoàn trả lại cho Công ty TNHH T1 số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) đã nộp
tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tán số 0038087 ngày
13/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, trách nhiệm thi hành án.
Sau khi có bản án sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo.
Ngày 02/4/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
đã kháng nghị bản án thẩm theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 84/QĐ-
VKS-KDTM yêu cầu hủy bản án thẩm, giao hồ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải
quyết lại vụ án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa
phúc thẩm vẫn giữ nguyên kháng nghị theo Quyết định kháng nghphúc thẩm số
84/QĐ-VKS-KDTM ngày 02/4/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty T1 Công ty S cùng gửi Đơn
trình bày đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, đồng ý với bản án sơ thẩm.
Đồng thời, tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/5/2026, ông Đào Hữu N xác định
xuất phát từ thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty T1 với Công
ty S nên giữa ông Đào Hữu N (Giám đốc Công ty T1) và bà Nguyễn Thị Phương L
(người đại diện theo pháp luật của Công ty S) cùng đứng tên mở 01 thẻ tiết kiệm
chung số 181850101010610 tại E - D với số đến ngày 05/3/2026 22.516.441
đồng, do thời điểm này cả hai Công ty đều không đủ điểu kiện mở L1. Ông N xác
định không quyền lợi đối với số tiền trong thẻ tiết kiệm chung số
181850101010610 tại E - D nêu trên. Toàn bộ tiền gốc và lãi phát sinh thuộc sở hữu
của Công ty T1.
Tại Đơn trình bày nộp ngày 15/6/2026, Nguyễn Thị Phương L trình bày:
từ thỏa thuận trong hợp đồng thương mại giữa Công ty T1 với Công ty S nên
Nguyễn Thị Phương L (người đại diện theo pháp luật của Công ty S) ông Đào
Hữu N (Giám đốc Công ty T1) cùng đứng tên mở 01 thẻ tiết kiệm chung số
181850101010610 tại E - D với mục đích thay Công ty S và Công ty T1 quản lý số
tiền gửi thực tế là tiền đảm bảo cho sống hóa được mua bán, do thời điểm này cả
hai Công ty đều không đủ điểu kiện mở L1. Sau khi tất toán việc mua bán thì số tiền
này thuộc về Công ty T1. L xác định số tiền gửi trong thẻ tiết kiệm chung số
181850101010610 tại E - D với số dư tính đến ngày 05/3/2026 là 22.516.441 đồng
toàn bộ tiền lãi phát sinh thuộc sở hữu của Công ty T1, đồng ý giải tỏa số tiền gửi
và lãi phát sinh cho Công ty T1. Bà L xác định không có quyền lợi đối với số tiền
5
trong thẻ tiết kiệm chung số 181850101010610 tại E - D nêu trên. Đề nghị Tòa án
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại din Vin kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành ttụng người
tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Quyết định kháng nghị c định bản án thẩm còn tồn tại vi phạm về xác
định người tham gia tố tụng, thành phần Hội đồng xét xử thẩm, phạm vi giải quyết
vụ án, căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung tuyên án.
Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ đối
với các nội dung kháng nghị nêu. Tuy nhiên, việc xác minh chỉ ý nghĩa làm
một số tình tiết, chưa khắc phục được đầy đủ những thiếu sót trong hoạt động tố tụng
và đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm.
Đối với nội dung kháng nghị về thành phần Hội đồng xét xử, hồ vụ án đã
thể hiện trước khi mở phiên tòa thẩm, Tòa án đã ban hành quyết định thay đổi
người tiến hành ttụng theo quy định. Do đó, việc Dương Thị B tham gia Hội
đồng xét xử là đúng trình tự, thủ tục, không có căn cứ xác định vi phạm Điều 49 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc tham gia tố tụng của ông Đào Hữu N và bà Nguyễn Thị Phương
L, kết quả xác minh tại cấp phúc thẩm cho thấy ông N xác định việc đứng tên mở
thẻ tiết kiệm chỉ nhằm bảo đảm nghĩa vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp, ông N
không có quyền lợi ích độc lập với khoản tiền gửi và không có tranh chấp quyền sở
hữu đối với tài sản này. Việc chưa làm đầy đủ ngay tcấp thẩm dẫn đến nội
dung kháng nghị về xác định người tham gia tố tụng sở xem xét trong phạm
vi kiểm sát tính hợp pháp của bản án sơ thẩm. Việc ông N vắng mặt tại tại phiên tòa
phúc thẩm Tòa án t xử vắng mặt ông N không làm thay đổi trách nhiệm của
Tòa án cấp sơ thẩm trong việc xác định đúng, đầy đủ người tham gia tố tụng và bảo
đảm việc giải quyết vụ án toàn diện, khách quan ngay từ đầu. Việc lời khai của ông
N đã được thu thập chmột nguồn chứng cứ bổ sung tại cấp phúc thẩm, không
làm thay thế hoặc khắc phục thiếu sót tố tụng nếu có ở cấp sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, Viện kiểm sát nhận thấy các vi phạm của bản án
sơ thẩm đã được nêu tại Quyết định kháng nghị chưa được khắc phục một cách triệt
để. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của
đương sự, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
6
Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hợp lệ, trong
thời hạn theo quy định tại các Điều 278, 279, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Đào
Hữu N vắng mặt không do; người đại diện hợp pháp của bị đơn và người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn
cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vắng mặt các
đương sự.
[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thấy
rằng:
[2.1] Về việc tham gia ttụng của ông Đào Chí N1 bà Nguyễn Thị Phương
L:
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, Công ty T1 và Công ty S
giao dịch mua bán hàng hóa theo Hợp đồng thương mại số QLH-CN/01 ngày
14/3/2024. Quá trình thực hiện hợp đồng, người đại diện hợp pháp của Công ty T1
và Công ty S tổ chức họp để xác định việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng và
lập Biên bản họp ngày 27/6/2024 có nội dung xử hàng lỗi thống nhất trích ra
10% tổng giá trị hàng thực nhận (chưa tính VAT) làm chi phí dự phòng để xử
hàng lỗi (nếu có), hai Công ty thống nhất mở 01 tài khoản chung tại E với đồng ch
tài khoản gồm ông Đào Hữu N làm đại diện cho Công ty T1 Nguyễn Thị
Phương L làm đại diện cho Công ty S, thống nhất số tiền có trong tài khoản chung
sẽ được chuyển trả lại Công ty T1 sau khi trừ đi giá trị hàng lỗi và tài khoản chung
tại E sẽ được đóng.
Theo thoả thuận nêu trên, vào ngày 27/6/2024, ông Đào Hữu N Nguyễn
Thị Phương L cùng mở 01 thẻ tiết kiệm chung số tài khoản 181850101010610,
số tiền gửi 60.820.390 đồng, kỳ hạn gửi 02 tháng. Đến ngày 22/11/2024, 02 bên
thoả thuận đồng ý cho Công ty T1 rút ra số tiền 40.000.000 đồng, hiện tại còn lại s
tiền 20.820.390 đồng.
Trong vụ án này, nguyên đơn bđơn không tranh chấp về nghĩa vụ theo
hợp đồng, chỉ tranh chấp đối với số tiền 20.820.390 đồng nằm trong thẻ tiết kiệm
chung số tài khoản 181850101010610 do ông Đào Hữu N Nguyễn Thị
Phương L đồng đứng tên.
Xét tại cấp phúc thẩm, người đại diện theo pháp luật của Công ty T1 ông
Đào Văn R1 Công ty S Nguyễn Thị Phương L cùng gửi Đơn trình bày đề
nghị giữ nguyên bản án thẩm, đồng ý với bản án sơ thẩm. Đồng thời, tại Biên bản
lấy lời khai ngày 27/5/2026 đối với ông Đào Hữu N Đơn trình bày nộp ngày
15/6/2026 của Nguyễn Thị Phương L thì cả ông Đào Hữu N Nguyễn Thị
Phương L đều xác định ông Đào Hữu N là Giám đốc ng ty T1 và bà Nguyễn Thị
Phương L người đại diện theo pháp luật của Công ty S cùng đứng tên mở 01 thẻ
tiết kiệm chung số 181850101010610 tại E - D do thời điểm này cả hai Công ty đều
không đủ điểu kiện mở L1, để trích số tiền hàng phải thanh toán vào thẻ tiết kiệm
này nhằm đảm bảo, khấu trừ khi xử hàng lỗi. Ông N, bà L xác định không
7
quyền lợi đối với số tiền trong thẻ tiết kiệm chung số 181850101010610 tại E -
D, toàn bộ tiền gốc và lãi phát sinh thuộc sở hữu của Công ty T1.
Qua đó cho thấy, về nguyên tắc quyền sở hữu tài sản của cá nhân ông N và bà L
Công ty T1, ng ty S độc lập, cho nên thẻ tiết kiệm chung số 181850101010610
tại E - D thuộc sở hữu nhân giữa ông N bà L, khi giải quyết vụ án phải ý
kiến của cá nhân ông N và bà L để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Do đó,
việc Tòa án cấp thẩm không đưa ông N, L tham gia tố tụng thiếu sót,
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về nội
dung này là có cơ sở. Tuy nhiên, trong vụ án này, ông Đào Hữu N tham gia tố tụng
với cách người đại diện theo ủy quyền của Công ty T1 và bà Nguyễn Thị Phương
L người đại diện theo pháp luật của Công ty S. Ông N bà L đều xác định số
tiền nộp vào thẻ tiết kiệm chung số 181850101010610 tại E - D thuộc sở hữu của
Công ty T1, ông N L chỉ đại diện ng ty đứng tên do thời điểm này cả hai
Công ty đều không mở được L1, họ không có quyền lợi cá nhân đối với số tiền gửi
trong tài khoản này họ đồng ý với phán quyết của Bản án thẩm. vậy, Hội
đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy quyền lợi của các bên đương sự đã ràng, việc
giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân ông
Đào Hữu N, Nguyễn Thị Phương L của Nhà nước nên không cần thiết phải
hủy Bản án sơ thẩm để đưa ông N, L tham gia ttụng với cách người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2.2] Đối với kháng nghị về việc vi phạm người tiến hành tố tụng, thành phần
Hội đồng xét xử: Căn cứ Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 13/QĐ-TA
ngày 05/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh (trong
hồ vụ án thể hiện tại bút lục số 217) đã phân công Dương Thị B tham gia thành
viên Hội đồng xét xử với tư cách là Hội thẩm nhân dân, không vi phạm tố tụng. Do
đó, nội dung kháng nghị này là chưa phù hợp.
[2.3] Đối với kháng nghliên quan đến thụ nội dung khởi kiện, việc giải
quyết nội dung vụ án, tuyên án khó thi hành, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Như phân tích tại mục [2.1] nêu trên thì về bản chất số tiền gốc 20.820.390
đồng trong thẻ tiết kiệm chung số 181850101010610 tại E - D đứng tên ông Đào
Hữu N Nguyễn Thị Phương L tiền mua bán hàng hóa do Công ty S thanh
toán cho Công ty T1, thuộc sở hữu của Công ty T1. Đồng thời, cả người đại diện
theo pháp luật của Công ty T1, Công ty S nhân ông Đào Hữu N, Nguyễn
Thị Phương L đều thống nhất với Bản án thẩm, đồng ý giải tỏa số tiền trên cho
Công ty T1. Do đó, việc thụ giải quyết vụ án của Tòa án cấp thẩm không
trái với ý chí của các đương sự, không xâm phạm đến quyền lợi của đương sự của
Nhà nước nên không vi phạm Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, Tòa án cấp sơ
thẩm mặc dù có thiếu sót chưa xác định tư cách tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan của ông Đào Hữu N Nguyễn Thị Phương L (do đứng đồng sở hữu
tài khoản tiết kiệm cá nhân) như quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh đề cập nhưng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã được làm rõ nên
không cần thiết phải hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại. Do đó, Tòa án cấp
8
thẩm cần lưu ý rút kinh nghiệm. Hơn nữa, các đương sự trong vụ án này không
kháng cáo Bản án sơ thẩm và văn bản đnghị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh rút kháng nghị, đây là sự tnguyện của đương sự, quyền lợi của đương
sự do họ quyết định tđịnh đoạt. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận Quyết
định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[2.5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là
chưa phù hợp nên không được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sphúc thẩm: Do vụ án không có kháng cáo của đương sự,
chỉ có kháng nghị của Viện kiểm sát nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng
án phí và lệ phí Tòa án,
1. Không chấp nhận kháng nghị theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số
84/QĐ-VKS-KDTM ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Viện trưởng Viện Kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ginguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 25/2026/KDTM-ST
ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí
Minh.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 16 Thành phố Hồ
Chí Minh;
- TAND Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (11).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Trúc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 249/2026/KDTM-PT Bản án số 249/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 249/2026/KDTM-PT Bản án số 249/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất