Bản án số 174/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 174/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 174/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 174/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 174/2026/DS-PT Bản án số 174/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 174/2026/DS-PT Bản án số 174/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 174/2026/DS - PT
Ngày 02 - 7 - 2026
“V/v Tranh chấp ranh giới quyền
sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và ông Nguyễn Vĩnh Thành;
- Thư phiên t: Nguyễn Th- Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Phạm Ngọc Hoa -
Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tán nhân dân tỉnh PThxét
xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 55/2026/TLPT- DS
ngày 10/3/2026 về việc Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”. Do bản án
dân sự sơ thẩm số: 77/2025/DS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân
dân khu vực 10 - Phú Thọ kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm số: 116/2026/QĐ-PT ngày 14 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Khổng Sỹ T, sinh năm 1950; Địa chỉ: Khu tập thể Q,
nhà số G, ngách A, Ngõ D, Tổ A H, phường Y, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Khổng Sỹ T: Ông Nguyễn n H
ông Phùng Văn S - Luật Công ty L3, Đoàn luật P1; địa chỉ: Số C, phố
Q, phường V, tỉnh Phú Thọ, (ông H có mặt, ông S vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Bùi Huy T1, sinh năm 1945; Địa chỉ: Thôn P, V, tỉnh
Phú Thọ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Khổng Văn T2, sinh năm 1960.
2. Bà Khổng Thị L, sinh năm 1956.
3. Bà Khổng Thị N, sinh năm 1963.
2
4. Bà Khổng Thị H1, sinh năm 1971.
Đều có địa chỉ: Xã V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Khổng Văn T2, bà Khổng Thị L, bà
Khổng Thị N, bà Khổng Thị H1: Ông Khổng Sỹ T, (có mặt).
5. Bà Bùi Thị N1, sinh năm 1945 (là vợ ông Bùi Huy T1).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Huy T1Bùi Thị N1: Ông
Bùi Huy P, sinh năm 1977 (con trai ông T1, N1); địa chỉ: Thôn P, V, tỉnh
Phú Thọ ông Trần Văn L1, sinh năm 1961; địa chỉ: Số C, đường N, phường
V, Phú Thọ, (đều có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Khổng Sỹ T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai tiếp tại phiên tòa, người đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn ông Khổng Sỹ T là ông Nguyễn Văn H, ông
Phùng Văn S trình bày:
Bố, mông Khổng Sỹ T cụ Khổng Văn H2 (chết năm 1999) và cụ Đào
Thị V (chết năm 2001). Cụ H2 và cụ V có các con là ông Khổng Thế L2 (Liệt sỹ
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông L2 không vợ, con),
Khổng Thị L, ông Khổng Văn T2, Khổng Thị N, Khổng Thị H1 ông
Khổng Sỹ T. Khi còn sống bố mông T tạo lập được khối tài sản quyền sử
dụng thửa đất số 223, tờ số bản đồ s2A, diện tích 1.129m
2
, địa chỉ tại: thôn P,
Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay thôn P, xã V, tỉnh Phú Thọ). Quyền sử
dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử ngày 28/10/1996 đứng tên ông
Khổng Văn H2. Chiều, cạnh tiếp giáp quyền sử dụng đất, cụ thể phía Đông giáp
ranh với nhà Bùi Thị K, phía Tây giáp ranh với nhà Nguyễn Thị D, phía
Nam giáp ranh với nhà ông Bùi Huy T1 phía Bắc giáp ranh với nhà
Nguyễn Thị B.
Trước khi cụ H2 cụ V chết thì đều không để lại di chúc định đoạt tài
sản quyền sử dụng đất nêu trên cho ai. Ngày 19/08/2017, gia đình ông T đã
họp thống nhất giao lại toàn bộ quyền sử dụng đất thông tin nêu trên cho
ông T em trai Khổng n T2. Đã được Ủy ban nhân dân Y, huyện V,
tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xác nhận.
Năm 2017, gia đình ông Bùi Huy T1 khi xây dựng công trình phụ đã lấn
sang phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T, ông T2 63m
2
, đầu
ngoài khoảng 2,6m, đầu trong khoảng 1,6m, chiều dài 30m.
Ông Khổng Sỹ T đã đnghị Ủy ban nhân dân Y, huyện V, tỉnh Vĩnh
3
Phúc (cũ) giải quyết tranh chấp đất đai nhưng không kết quả, do ông T1
không hợp tác.
vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ông Khổng Sỹ T đề
nghị Tòa án giải quyết, buộc ông Bùi Huy T1, Bùi Thị N1 phải trả lại cho
ông diện tích dất 63m
2
thuộc thôn P, xã V, tỉnh Phú Thọ. Đối với công trình xây
dựng trên đất thì ông T1, bà N1 phải tự thu dọn, di dời.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Bùi Huy T1 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị N1, ông Bùi Huy P trình bày:
Ông Bùi Huy T1 Bùi Thị N1 chủ sử dụng hợp pháp thửa đất 56,
tờ bản đồ s22, diện tích 456m
2
tại thôn P, V, tỉnh Phú Thọ. Quyền sử dụng
đất đã được Sở tài nguyên môi trường tỉnh V (cũ) cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số: CI 258340 ngày 22/8/2017 mang tên ông Bùi Huy Tạ .
Nguồn gốc đất do ông Tạ N2 chuyển nhượng từ năm 1977. Quyền sử dụng
đất thì đã được ông T1, bà N1 xây dựng công trình trên đất. Phần đất tiếp giáp
với quyền sử dụng đất của cụ H2 (bố ông T) công trình xây dựng là nhà cấp
bốn, dãy công trình phụ xây được xây dựng từ năm 1987, 1995, 2017.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông T1, N1 phải trả diện tích đất 63m
2
,
quan điểm của ông quyền sử dụng đất đã được quan thẩm quyền cấp
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho ông T1. Ông tự nguyện xác định phần
diện tích 10,9m
2
(nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T1,
theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án) là thuộc quyền sử dụng hợp
pháp của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ H2. Ông T1 và bà N1
sẽ có nghĩa vụ thu dọn, di dời tài sản, vật kiên cố trên đất.
Ông T cho rằng gia đình ông lấn chiếm đất, thì quan điểm của ông cũng
như của bố ông và các thành viên trong gia đình đều không nhất trí, vì Nhà nước
công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông như thế nào, gia đình ông s
dụng như vậy ổn định trong thời gian dài.
Người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Khổng Văn T2, Khổng Thị L, Khổng Thị H1, Khổng Thị N ông
Khổng Sỹ T trình bày: Ông đồng ý với ý kiến, lời trình bày của ông Nguyễn Văn
H.
Với các nội dung như trên, tại bản án dân sự thẩm số 77/2025/DS-ST
ngày 01 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ đã
quyết định: Căn cứ vào các Điều vào các Điều 166, 175, 176, 190 của Bộ luật
Dân sự; Căn cứ các Điều 14, 15, 16, 17, 18, 19 Luật Đất đai năm 2024; Nghị
quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, Xử:
4
Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca ông Khng S T.
Xác định mốc giới giữa 02 thửa đất của gia đình ông T1 và gia đình ông T
tường, giọt ranh của các công trình do gia đình ông T1 xây dựng, thể hiện
theo các điểm 19, 18, 17, Y, 16, 15, 14 trên sơ đồ đo đạc ngày 05/11/2025.
Buc ông T1 phi tr li 10,9m
2
, ti thửa đất s 56, t bn đ s 22 thuc
thôn P, xã V, tnh Phú Th cho những người thuc hàng tha kế th nht ca c
Khổng Văn H2. Ông T1 N nghĩa vụ thu dn, di di tài sản trên đt.
Đưc th hin bởi các điểm 14,15,16,17,B,14. Quyn s dụng đất được S Tài
nguyên Môi trường tnh V (cũ) cấp ngày 22/8/2017 mang tên ông Bùi Huy
T .
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự thẩm quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 ông Khổng Sỹ T đơn kháng cáo, đnghị
cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông T thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị hủy
bản án sơ thẩm do có vi phạm tố tụng.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng
cáo của ông Khổng Sỹ T, giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 77/2025/DS-ST
ngày 01 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ. Về án
phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Khổng Sỹ T làm trong hạn luật
định, đơn hợp lệ được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.1]. Về nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án triệu tập đại diện UBND
V đại diện Văn phòng Đ tham gia tố tụng, để làm sai phạm trong việc cấp
đổi giấy chứng nhận cho hộ ông T1 năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá
trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh tại địa phương,
thu thập các tài liệu liên quan như hồ sơ, sổ sách lưu trữ, hồ cấp giấy chứng
nhận các tài liệu liên quan. Đối với UBND V quan quản nhà
nước tại địa phương, Văn phòng Đ cơ quan chuyên môn thực hiện các thủ tục
5
hành chính, dịch vụ kỹ thuật để hỗ trợ công tác quản nhà nước phục vụ
nhu cầu giao dịch đất đai của người dân, đây không phải người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan trong vụ án, việc triệu tập đại diện các cơ quan này vào tham
gia tố tụng là không cần thiết, không đúng quy định, do đó Hội đồng không chấp
nhận.
[2]. Đối với nội dung kháng cáo của ông T cho rằng, năm 2017 khi xây
dựng công trình phụ, gia đình ông T1 đã lấn sang phần đất nhà ông 63m
2
, đồng
thời ông cho rằng theo bản đồ năm 1987, diện tích đất của cụ H2 1.316m
2
,
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với diện tích đất nhà ông T (cụ H2 đứng tên)
trong giấy chứng nhận có diện tích 1.129m
2
. Tài liệu lưu trữ tại xã thể hiện, theo
Bản đồ năm 1987 diện tích đất của cụ H2 1.316m
2
, theo bản đồ năm 1995
1.129m
2
(bản đồ cấp GCNQSDĐ cho cụ H2 năm 1996), bản đồ đo đạc VN2000
1.271m
2
. Đến nay quá trình quản lý, sử dụng diện tích thực tế đã sự thay
đổi. Theo đơn xác nhận đề ngày 19/08/2017 ông T, L, ông T2, bà N, ông H1
đều xác nhận, quyền sdụng đất của cụ H2 theo kết quả đo đạc VN2000 thể
hiện, phần đất của cụ H2 chiều tiếp giáp với đất của ông T1, bà N 1 đường
thẳng, điều này phù hợp với hình thể thửa đất của ông T1, bà N đã được cơ quan
thẩm quyền cấp GCNQSDĐ mang tên ông T1 ngày 22/08/2017. Như vậy
căn cứ để xác định ông T, L, ông T2, N, H1 đã đồng ý thừa nhận
ranh giới quyền sử dụng đất của cụ H2 theo kết quả đo đạc VN2000, trong đó có
chiều tiếp giáp với đất của ông T1, bà N là một đường thẳng.
[3]. Tòa án cấp thẩm tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, trên phần
diện tích đất các đương sự đang tranh chấp, có tài sản là công trình xây dựng của
ông T1, bà N gồm có nhà cấp 4 xây năm 1987, nhà cấp 4 xây năm 1995, chuồng
chăn nuôi xây năm 2017. Ông T cho rằng khi ông T1, N xây dựng các công
trình trên thì ông không biết, ông không mặt tại địa phương. Tuy nhiên lời
trình bày này của ông T là mâu thuẫn với chính lời trình bày của ông T tại phiên
tòa thẩm, ông T khẳng định, ông vẫn thường xuyên về gia đình vào các dịp
giỗ tết, nên việc ông T cho rằng không biết việc ông T1, N xây dựng các
công trình trên là không đúng sự thật.
[4]. Ông T cho rằng ông T1, bà N lấn chiếm đất nhưng không đưa ra được
bất kỳ tài liệu, chứng cứ chứng minh. Thực tế hai bên gia đình đã quản sử
dụng ranh giới đất ổn định, lâu dài, phần ranh giới hai gia đình thể hiện các công
trình xây dựng của ông T1, N được xây dựng tnăm 1987, năm 1995 thời
gian đã rất lâu, không ai ý kiến (kể cả khi cụ H2 cụ V còn sống). Năm
1999 cụ H2 chết, năm 2001 cụ V chết, nhưng trước khi cụ H2 cụ V chết thì
đều không bất kỳ đơn thư, hay tranh chấp về việc sdụng đất, xây dựng
công trình trên đất của ông T1, bà N.
6
[5]. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án, được áp với sơ đồ trên
giấy chứng nhận của các bên thể hiện, phần diện tích đất 10,9m
2
hiện gia đình
ông T1 đang sử dụng, trồng lấn lên đất của gia đình ông T được cấp giấy chứng
nhận. Tại phiên tòa thẩm, ông P tự nguyện xác định phần diện tích đất này
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông T, đối với tài sản, vật kiên cố
trên đất thì ông T1, N tự nguyện thu dọn di dời. Xét việc người đại diện theo
ủy quyền của ông T1, N tự nguyện xác định phần diện tích đất trên thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông T, không phải của ông Tạ bà N3 và tự
nguyện trả lại cho ông T là tự nguyện, không trái pháp luật nên cấp thẩm
chấp nhận và tuyên buộc ông Tạ B1 Năm trả lại là có căn cứ, đúng quy định.
[6]. Từ những phân tích trên, không căn cứ để chấp nhận kháng cáo
của ông T, cần giữ nguyên bản án thẩm. Ý kiến của dại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
[7]. Về án phí phúc thẩm: Ông T người cao tuổi đơn xin miễn, nên
được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của ông Khổng Sỹ T, giữ nguyên bản án dân sự thẩm số
77/2025/DS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 -
Phú Thọ.
Áp dụng các Điều 166, 175, 176 và 190 của Bộ luật Dân sự; các Điều 14,
15, 16, 17, 18 19 Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
1. Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca ông Khng S T, buc ông
Bùi Huy T1 Bùi Th N1 nghĩa v thu dn, di di các tài sản trên đt
để tr li 10,9m
2
đất, ti thửa đt s 56, t bản đồ s 22 thuc thôn P, V, tnh
Phú Th cho ông Khng S T. Din tích 10,9m
2
đất ông T1, N1 phi tr
lại được gii hn bởi các điểm 14, 15, 16, 17, B, 14 (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Ranh giới giữa 02 thửa đất của gia đình ông Bùi Huy T1, i Thị N1
gia đình ông Khổng Sỹ T được giới hạn bởi c điểm 19, 18, 17, Y, 16, 15,
14 (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Đương sự quyền, nghĩa vụ liên hệ với quan thẩm quyền để được
cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, cho phù hợp với
quyết định của bản án.
7
2. Về án phí: Các đương sự được miễn án pdân sự thẩm án phí
phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Vĩnh Thành Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Xuân Trọng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 174/2026/DS-PT Bản án số 174/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 174/2026/DS-PT Bản án số 174/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất