Bản án số 533/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 533/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 533/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 533/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D - Phạm Phú L tranh chấp về dân sự quyền sử dụng đất, ranh giới quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 533/2026/DS-PT Bản án số 533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 533/2026/DS-PT Bản án số 533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Bản án số: 533/2026/DS-PT
Ngày: 18-6-2026
Về việc tranh chấp về dân sự
quyền sử dụng đất, ranh giới
quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi
thường thiệt hại do tài sản bị
xâm phạm.

- - 
NHÂN DANH


Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Kim Xuân;
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm;
Ông Trần Hữu Tính.
Thư phiên tòa: Thị Thanh Xuân - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 18 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 223/2026/TLPT-
DS, ngày 20 tháng 3 năm 2026, về việc: “Tranh chấp về dân sự quyền sử dụng
đất, ranh giới quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm
phạm.”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 14-01-2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 12 - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 863/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 700/2026/QĐ-
PT ngày 24 tháng 4 năm 2026; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên
tòa số 435/TB-TA ngày 18 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- : Nguyễn Thị D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1949; Địa
chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- :
1. Ông Phạm Phú L, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1965;
Địa chỉ: Số H N, Tổ D, Khóm H, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2
2. Ông Phạm Tấn T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1967;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
: Nguyễn Thị D, là nguyên đơn trong vụ án.
(Bà D, ông L có mặt, ông T vắng mặt. Bà D vắng mt ngày tuyên án.)

Theo đơn khởi kiện, đơn kiện sửa đổi, bsung, quá trình tố tụng, nguyên
đơn bà Nguyễn Thị D, trình bày:
Bà và ông Phạm T4 (cha ruột của ông L, ông T) mối quan hệ bà con
cậu ruột. Vào năm 1984, bán (chuyển nhượng) cho ông T4 phần đất
không xác định diện tích, vị ttừ lộ làng (mí đường C hiện nay) đến hầm
(ao), còn sau hầm trở vô đất mồ của gia đình, không bán. Việc mua
bán không có đo đạc, tuy nhiên có làm giấy viết tay, hiện giấy mua bán bên ông
T4 giữ, bà không có giữ, trong giấy mua bán chỉ có ông T4 ký tên. Từ khi
mua bán đất với ông T4 thì giữa gia đình bà với gia đình ông T4 không chôn
trụ đá ranh.
Sau khi mua đất của bà thì ông T4 quản lý, sử dụng. Khi ông T4 chết thì
bà không biết để lại cho ai, chỉ thấy con của ông T4 là ông Phạm Phú LPhạm
Chí Thanh quản L1, sdụng. biết sau khi mua đất của tông T4 được
đứng tên quyền sử dụng đất, ông T4 chết thì vThị H (nay cũng đã
chết) đứng tên, trong đó diện tích 703m
2
thuộc thửa đất 202, tờ bản đồ số 18,
là phần đất mua của bà. Sau khi bà H chết hiện ai đứng tên đất thì bà không biết.
Lúc xã giải quyết thì ông Phạm Tấn T nói đất tranh chấp đã cho, chia cho
ông Phạm Phú L nên kiện ông L, sau đó ông L ủy quyền lại cho ông Phạm
Tấn T. Do không am hiểu pháp luật, lớn tuổi nên khi nộp đơn khởi kiện tại Tòa
án bà nghĩ ông T đại diện nên kiện ông T tại Tòa mà không kiện ông L.
Năm 2022, tại Ủy ban nhân dân thị trấn T thì ông T ại diện cho
ông L) đã thỏa thuận được ranh đất với nhau, cụ thể: Ông T sử dụng diện tích
đất như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp chừa cho một
đường đi (vô nhà mồ của mẹ và chị ruột bà) có chiều ngang 1,5m, lấy từ gốc nhà
mồ đo ra theo Sơ đồ đo đạc từ mốc M3, M4, M11, M10 trở về mốc M3.
do phát sinh tranh chấp với ông T do ông T đem dừa trồng phía
trước nhà mồ của gia đình bà, không đồng ý vì sợ khi cây lớn lên sngã vào
nhà mcủa gia đình bà. Từ đó, ông T không trồng dừa nữa đem trụ đá cấm
không chừa đường đi cho 1,5m như Biên bản hòa giải của Ủy ban nhân n
thị trấn T được hai bên thống nhất.
Sau khi hòa giải, bà cũng có trồng một hàng cây kiểng như mai vàng, mái
kiếng thủy, lưỡi hổ, bụi bông trang, nguyệt quế bên phần đất của bà, không phải
trồng trên phần đất đã chừa đường đi chiều ngang 1,5m đường như đã thỏa
thuận.
3
xác định: Vị tđất từ sau mí hầm đến nhà mồ, không bán cho ông
T4, để làm nơi chôn cất. Khi bán đất cho ông T4 thì mộ của gia đình đã
trước. chỉ bán đất cho ông T4 đến vị thầm tức mốc M8 đến M5
theo Sơ đồ.
Việc khởi kiện không giấy tchứng minh, giấy mua bán đất với
ông T4 thì bà không còn giữ, nếu bên ông T xuất trình được giấy tờ bán đất
tới vị trí nhà mồ hoặc hàng cây kiểng bà trồng thì bà không tranh chấp gì nữa.
Căn cứ D khởi kiện: Sau khi mua đất của bà, ông T4 được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004 là thửa 202, tờ bản đồ 18, diện tích
703m
2
. Năm 2023, ông Phạm PL nhận thừa kế của ông Phạm T4
Thị Hoàng T1 đất số 202, tờ bản đồ số 18, ông L được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 14 tháng 4 năm 2023. Ngày 24 tháng 7 năm 2023, ông
L đã đăng xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đđịa
chính năm 2023 đối với thửa đất 202, tờ bản đồ số 18 được Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện H cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa 211, tờ bản đồ 19 (đổi từ thửa 202, tờ bản đồ 18), diện tích là 741,5m
2
. Như
vậy, ông L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vượt 37,5m
2
so với
phần diện tích của đã bán cho ông T4 703m
2
. Do đó, bà xác định ông L đã
lấn chiếm đất của bà, ông L sử dụng không đúng hiện trạng mà ông T4 được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu.
Nguyễn Thị D yêu cầu:
- Buộc ông Phạm Phú L trả lại cho phần đất chiều ngang 14,3m,
chiều dài 07m, diện tích 100,1m
2
, thuộc thửa 202, tờ bản đồ số 18, toạ lạc tại thị
trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp), qua đo đạc diện
tích thực tế 84,5m
2
trong phạm vi các mốc từ M8, M9, M10, M3, M4, M5 trở
về M8, theo Sơ đồ đo đạc ngày 16/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
- Công nhận cho bà D được quyền sử dụng phần đất trên.
Ngoài ra, bà không trình bày hay yêu cầu gì khác.
Bà xác định rút yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn ông Phạm Tấn T, do ông
T không phải người đứng tên giấy chứng nhận quyền sdụng đất phần đất
tranh chấp, ông T cũng không tài sản trên đất tranh chấp, không liên quan
trong vụ kiện này. Do trước đây ông L ủy quyền cho ông T tham gia hòa giải
ở xã nên bà nghĩ ông T là bị đơn nên xác định sai người bị kiện.
Đối với yêu cầu phản tố của ông L về việc bồi thường tiền cây xoài: D
trình bày:
chặt cây xoài đúng sthật, nhưng cây xoài mọc trên đất m mã,
không ai trồng, nhưng anh em ông L nói của ông L trồng. Do nhánh cây
xoài ngã trên nhà mồ nên mới chặt cây xoài. Trước khi chặt cây xoài, chị của
bà tên Nguyễn Thị T2 Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ năm sinh, địa chỉ cụ
thể) có kêu ông Phạm Tấn T, ông Phạm Chí T3 (em ông T) chặt cây xoài nhưng
4
anh em ông T không chịu chặt. Ông T3 còn kêu con tên Minh D1 chặt.
Ông D1 không biết chặt cây nên mới kêu người sống gần đó (không họ
tên, năm sinh, địa chỉ) chặt để làm củi. Sau khi chặt cây xoài xong tông T lại
hỏi sao lại chặt cây, hai bên cự cãi qua lại. Cuối cùng, không ai đem cây
xoài về làm củi. không cây xoài “cóc” trồng mấy m, đường kính thân
cây khoảng 30cm, đã cho trái, không biết trị giá bao nhiêu tiền. không đồng
ý với yêu cầu bồi thường của ông Phạm Phú L.
Theo đơn phản tố, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn
ông Phạm Phú L, trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp trước đây là của cha ông tên ông Phạm Văn T4
(Phạm T4), được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 01411 QSDĐ/A1, số phát hành E 0403740, ngày 18 tháng 12 năm 1993.
Đến năm 2004, hộ ông cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy
ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, tại thửa 202, tờ
bản đồ số 18, diện tích 703m
2
, mục đích sử dụng: đất Ao (hồ), số vào sổ cấp
giấy chứng nhận 01586 QSDĐ/5544/QĐ-UB, số phát hành AA490058 ngày 13
tháng 9 năm 2004. Năm 2005, hộ ông Phạm T4 ủy Q sdụng đất đối với thửa
202, tờ bản đồ số 18 nêu trên cho mẹ ông Hộ Thị H (vợ ông T4). Đến
ngày 08 tháng 11 năm 2005, Hộ bà Lê Thị H được Ủy ban nhân dân huyện H
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00784, số phát
hành AD660675.
Năm 2023, thành viên trong Hộ Thị H hàng thừa kế thứ nhất
theo pháp luật của Thị Hoàng L2 văn bản thỏa thuận phân chia tài sản
thừa kế, tnguyện tặng, cho nhường phần thừa kế cho nhân ông Phạm
Phú L được toàn quyền quyết định, định đoạt đối với thửa 202, tờ bản đồ số 18
nêu trên. Đến ngày 14 tháng 4 năm 2023, ông L được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Đ ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS10893, số
phát hành DK857970. Đến ngày 27 tháng 10 năm 2023, ông được Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất từ thửa 202, tờ bản đồ số 18 thành thửa 211, tờ bản đồ số 19, diện tích
741,5m
2
, mục đích sử dụng: Đất nuôi trồng thủy sản, tọa lạc tại khóm T, thị trấn
T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
Như vậy, việc quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
lần đầu cho H1 ông Phạm Văn T4 (P), sau đó cấp đổi, rồi cấp cho Hộ Lê Thị
H, rồi cuối cùng cấp cho ông tại thửa 202, tờ bản đồ số 18 (nay thửa 211, tờ bản
đồ số 19) đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Qua các lần cấp giấy thì không ai tranh chấp hay khiếu nại . Trong quá trình
sử dụng đất, vào năm 2022 thì Nguyễn Thị D hành vi tự ý đến phần đất
của ông để chặt 01 (một) cây xoài trên 20 năm tuổi. Sự việc xảy ra, ông ủy
quyền cho em ông Phạm Tấn T làm đơn gửi cho Công an thị trấn T, huyện H
(nay Công an T) để yêu cầu xử lý hành vi vi phạm hành chính của D.
Đồng thời, ông còn ủy quyền cho Phạm Tấn T gửi đơn cho Ủy ban nhân dân thị
trấn T yêu cầu hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất đối với D (yêu cầu
5
chấm dứt hành vi chặt phá cây cối và bao chiếm phần đất diện tích 703m
2
, thuộc
thửa 202, tờ bản đồ s18 của ông). Đến ngày 24 tháng 5 năm 2022, Ủy ban
nhân dân thị trấn T (nay Ủy ban nhân dân T) tổ chức hòa giải theo đơn yêu
cầu của ông. Tại buổi hòa giải, Hội đồng hòa giải đã động viên các bên đã
thống nhất được nội dung:
- Phía ông sdụng đúng diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất được cấp và ông sẽ chừa cho bà D 1,5m đất lấy mốc từ ranh giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được nhà nước cấp đđo ra, để D không gian trong
việc tới lui quản lý khu mộ của gia đình bà.
- Về phía D sẽ không rào lối đi trên phần đất của bà, để cho em ông
Phạm Tấn T được lưu thông ra đường (vì con đường mòn này đã hình thành trên
20 năm mà hộ Phạm Tấn T lưu thông ra đường hằng ngày).
Qua buổi hòa giải, c bên đã đồng ý hòa giải và được Hội đồng hòa giải
ghi nhận vào Biên bản hòa giải thành. Ông đã thực hiện đúng theo biên bản hòa
giải của Ủy ban nhân dân thị trấn T chừa 1,5m (tính từ ranh đất đo ra) để cho
D không gian trong việc tới lui, quản lý khu mộ của gia đình D. Nhưng
không hiểu sao nay D lại khởi kiện đòi phần đất của ông ngang 14,3m x
chiều dài 7m, diện tích 100,1m
2
(qua đo đạc thực tế là 84,5m
2
). Điều này thật vô
hoàn toàn không n cứ. Còn việc D cho rằng ông không thực hiện
đúng theo nội dung biên bản hòa giải thành ngày ngày 24 tháng 5 năm 2022 của
Ủy ban nhân dân thị trấn T hoàn toàn không đúng, ngược lại D không
thực hiện đúng theo nội dung biên bản hòa giải thành, cụ thể D lấn chiếm rồi
trồng mai kiểng và các loại cây kiểng khác trên phần đất của ông, vì vậy anh em
ông dựng những cọc đá tạm thời để ngăn bà D không lấn chiếm thêm.
Gia đình ông trực tiếp canh tác, sử dụng thửa 202, tờ bản đồ số 18 (nay
thửa 211, tờ bản đồ số 19) ổn định, liên tục, lâu dài, hợp pháp từ năm 1984
đến nay, không ai tranh chấp hay khiếu nại gì. Nay D khởi kiện yêu cầu ông
trả lại đất cho D như nêu trên là hoàn toàn không căn cứ, không đúng quy
định. Ông L không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà D.
Ngoài ra, ông Phạm Phú L yêu cầu phản tố:
- Buộc Nguyễn Thị D di dời toàn bộ cây trồng, tài sản trên phần
diện tích đất tranh chấp 84,5m
2
, thuộc một phần thửa 202, tờ bản đồ số 18 (nay
thửa 211, tờ bản đồ số 19) tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp, trong phạm
vi các mốc M3, M4, M5, M8, M9 về M3 theo đồ đo đạc ngày 16/7/2024 để
trả lại cho ông diện tích đất trên.
- Yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất s202, tờ
bản đồ số 18 (nay thửa đất số 211, tờ bản đồ số 19) của ông với thửa đất số
187, tờ bản đồ 18 (nay là thửa đất số 210, tờ bản đồ 19) của bà D (phần đất chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đoạn thẳng nối các mốc M9,
M10, M3, theo Sơ đồ đo đạc ngày 16/7/2024.
6
- Yêu cầu buộc Nguyễn ThD bồi thường thiệt hại do hành vi chặt
phá cây xoài (hơn 20 năm tuổi) của ông trên thửa 202, tờ bản đồ số 18 (nay
thửa 211, tbản đồ số 19, số tiền tạm tính là: 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm
trăm nghìn đồng).
Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông L rút lại đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại,
ông không yêu cầu bà D bồi thường số tiền 6.500.000 đồng.
Bị đơn ông Phạm Tấn T, trong quá trình tố tụng có ý kiến:
Phần đất bà D tranh chấp là của ông Phạm Phú L, ông T chỉ là người được
ông L ủy quyền tham gia hòa giải nên ông không biết gì, D kiện ông
sai đối tượng.
Tại bản án dân ssơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 14-01-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, đã tuyên xử:
“1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D.
1.1. Buộc ông Phạm Phú L di dời tài sản trên đất nếu trả lại cho
Nguyễn Thị D phần đất diện tích 5,6m
2
trong phạm vi các mốc M9, M10,
M3, M14, M12 về mốc M9 thuộc một phần thửa đất số 210, tờ bản đồ số 19, đất
tọa lạc tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp).
1.2. Nguyễn Thị D được quyền s dụng phần đất diện tích 5,6m
2
trong phạm vi các mốc M9, M10, M3, M14, M12 về mốc M9 thuộc một phần
thửa đất số 210, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng
Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp).
1.3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị D đối với ông Phạm
Tấn T.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Phạm Phú L.
2.1. Buộc Nguyễn Thị D di dời tài sản trên đất nếu để trả lại cho
ông Phạm Phú L phần đất diện tích 78,9m
2
trong phạm vi các mốc M12,
M14, M4, M5, M8 về mốc M12 thuộc một phần thửa đất số 211, tờ bản đồ số
19, đất tọa lạc tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay T, tỉnh Đồng
Tháp).
2.2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Phạm Phú L đối với yêu cầu
Nguyễn Thị D bồi thường thiệt hại về tài sản.
3. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất của bà Nguyễn Thị
D (thửa 210) với thửa đất của ông Phạm Phú L (thửa 211) đường thẳng từ
mốc M12 đến mốc M14.
Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ
không gian đến lòng đất. Tài sản, vật kiến trúc của bên nào lấn chiếm ranh đất
thì phải di dời theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16 tháng 7 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (nay Toà án nhân
7
dân khu vực 12 - Đồng Tháp), Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất ngày 16 tháng 7 năm
2024, đồ xác định diện tích thửa đất ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Hg Ngự, tỉnh Đồng Tháp (nay Chi
nhánh Văn phòng Đ2 - Đồng Tháp).
Các đương sự trách nhiệm đến quan nhà nước thẩm quyền
khai đăng ký và điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với diện
tích thực tế đang sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Phạm Phú L trả lại cho
Nguyễn Th D 1.702.800 đồng (Một triệu bảy trăm lẻ hai nghìn tám trăm
đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyễn Thị D và ông Phạm Phú L được
miễn tiền án phí.”
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, thời hạn yêu cầu thi hành án
theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 20/01/2026, nguyên đơn Nguyễn Thị D
kháng cáo yêu cầu: Sửa một phần nội dung bản án thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà: Buộc ông L trả cho D diện tích đất
78,9m
2
trong phạm vi các mốc M12-M14-M4-M5-M8-M12 thuộc một phần
thửa 211, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại thị trấn T, huyện H (nay T, tỉnh Đồng
Tháp) và công nhận cho bà được quyền sử dụng phần đất này.
:
D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đối với tài liệu, chứng cứ “Tờ
sang nhà, hoa màu (đất)” ngày 24/5/1984 (AL) giữa vợ chồng bà là ông Văn
Đ, Nguyễn Thị D với vợ chồng ông Phạm T4 Thị H (cha mẹ của
ông L), bà D xác nhận là đúng. Tuy nhiên, khi thỏa thuận bán đất cho ông T4, bà
thỏa thuận chỉ bán đến “, không bán sát (gần) khu mộ.
Ông L cung cấp bản chính Tờ sang nhà, hoa màu ất)” ngày 24/5/1984
(AL) giữa vchồng ông Văn Đ, bà Nguyễn Thị D với cha mẹ của ông L,
trình bày: Phần đất D thỏa thuận bán cho cha ông năm 1984 diện tích khoảng
2000m
2
, chừa ranh cặp khu mồ của gia đình bà D. Qua nhiều lần cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp đổi, diện tích đất thay đổi (mất mấy trăm
m
2
) nhưng ranh đất không thay đổi. Gia đình ông vẫn chừa cho bà D lối đi 1,5m
vào khu mộ. Nhưng khoảng năm 2022 khi xảy ra tranh chấp, bà D chặt cây xoài
trên đất của ông cho rằng gia đình ông lấn ranh là không đúng. Ông L nhận thấy
bản án thẩm xử sở, ông thống nhất không kháng cáo. Ông không
đồng ý kháng cáo của bà D, đề nghị y án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến (Có
bài phát biểu kèm theo):
- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư phiên tòa cũng
như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
8
- Về nội dung: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hvụ án, được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.

[1] Về thủ tục ttụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn ông Phạm Tấn T.
Xét sự vắng mặt của ông T không ảnh hưởng đến việc xét xử, không ảnh hưởng
quyền lợi của các đương sự khác, phù hợp quy định của pháp luật. Căn cứ vào
Khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vụ án vắng mặt bị đơn ông T.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị D, Hội đồng xét xử xét
thấy:
[2.1] Tại phiên tòa, các bên đương sự thống nhất xác định nguồn gốc đất
tranh chấp của vợ chồng D bán (sang nhượng) cho cha, mẹ ông L ông
Phạm T4 và bà Thị H từ năm 1984, khi chuyển nhượng làm giấy tay,
không đo đạc xác định diện tích cụ thể. Sau khi chuyển nhượng đất xong, D
không còn trực tiếp trên đất, hằng năm về chăm sóc mồ mã. Tuy nhiên,
D, ông T4 và sau đó là vợ, con ông T4 không thỏa thuận, đặt vấn đề trồng trụ
đá để xác định ranh đất giữa phần đất bà D đã sang nhượng cho ông T4 với khu
đất mmã bà D còn chừa lại. Từ 2021, hai bên phát sinh tranh chấp, do phía gia
đình ông L yêu cầu địa chính đo đạc lại đất đcấp đổi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Bà D, ông L thống nhất tài liệu, chứng cứ là “Tờ sang nhà, hoa màu
(đất)” ngày 24/5/1984 (AL) giữa ông Văn Đ, bà Nguyễn Thị D với ông
Phạm T4 bà Thị H (cha mẹ của ông L). Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng
dân sự, Hội đồng xét xử công nhận tình tiết này.
[2.2] Căn cứ nội dung Tờ sang nhà, hoa màu (đất)” ngày 24/5/1984 (AL)
thể hiện vợ chồng D đồng ý sang nhà, hoa màu, đất cho vợ chồng ông T4, bà
H, như sau:
“1) Chiều ngang 15m, Đông giáp Phạm T5, T6 giáp ranh (viết trong giấy
là danh) vách kho.
2) Chiều dài (không ghi), Nam giáp sông C, T6 giáp hầm trong,
ranh (viết trong giấy là danh) cận nền mã bà Ú, cô N.
...”
Như vậy, giấy sang nhượng không thể hiện diện tích chuyển nhượng,
không thể hiện số thửa đất, tờ bản đồ.
[2.3] D, ông L xác định phần đất D sang nhượng cho ông T4, sau
đó ông T4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu 703m
2
, loại
đất Ao (hồ). Tuy nhiên, căn cứ tài liệu do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện H (nay Chi nhánh Văn phòng Đ2) cung cấp kèm Công văn
4774/CNVPĐKĐĐ-ĐKCG&TTLT ngày 22/12/2024 (bút lục 111) thể hiện:
9
- Ông Phạm Văn T4 (P), được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp
(cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/12/1998, số vào sổ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 01411 QSDĐ/A1, số phát hành (bìa) E
0403740, tổng diện tích 25.254m
2
, trong đó tất cả 05 thửa đất, thửa chuyển
nhượng của bà D là thửa 1233 tờ bản đồ 5, diện tích 730m
2
đất Ao (bút lục 106).
- Ngày 13/9/2004, Hộ ông Phạm T4 Đ1 Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh
Đồng Tháp (cũ) cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy
chứng nhận 01586 QSDĐ/5544/QĐ-UB, số phát hành AA490058, tổng diện tích
25.785m
2
, trong đó thửa 1233, tbản đồ 5 đổi thành tha 202m
2
, tờ bản đồ 18,
diện tích 703m
2
, mục đích sử dụng: đất Ao (hồ) (bút lục 105).
- Sau khi ông T4 chết, năm 2005, các thành viên trong Hộ gồm: con,
cháu, dâu của ông T4 thống nhất cho Thị H (vợ ông T4) đứng tên toàn bộ
diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hộ ông T4 được cấp ngày
13/9/2004 (bút lục 103-104);
- Ngày 08/11/2005, Hộ bà Thị H được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh
Đồng Tháp (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00784, số
phát hành AD660675, thửa 202, tờ bản đồ 18, diện tích 703m
2
, mục đích sử
dụng: đất nuôi trồng thủy sản (tách thành 01 giấy riêng) (bút lục 102). Ngoài ra,
Hộ bà Thị H còn được cấp riêng nhiều giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với từng thửa đất.
- Sau khi H chết, anh, chị em của ông L thống nhất chia thừa kế cho
ông L được quyền sử dụng đất thửa 202. Ngày 14 tháng 4 năm 2023, ông Phạm
Phú L được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số vào sổ CS10893, số phát hành DK 957970 thửa 202, tờ bản đồ 18,
diện tích 773m
2
(có chỉnh lý về diện tích), mục đích sử dụng: đất nuôi trồng thủy
sản (bút lục 94).
- Ngày 27 tháng 10 năm 2023, ông Phạm Phú L được Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện H, tỉnh Đồng Tháp (cũ) cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số vào sCN02473, số phát hành DM 923473, đổi số thửa
thửa 202, tờ bản đồ 18, diện tích 773m
2
, thành thửa 211, tờ bản đồ 19, diện tích
741,5m
2
, mục đích sử dụng: đất nuôi trồng thủy sản. Việc thay đổi diện tích thửa
đất qua các lần cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được y ban nhân dân
thị trấn T xác nhận: “.....Diện tích thay đổi nhưng ranh giới thửa đất hiện nay
không thay đổi so với thời điểm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng
ổn định, không tranh chấp, không chuyển nhượng, chuyển đổi. (Bút lục 93,95).
- Căn cứ Công văn 2364/UBND-HC ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Ủy
ban nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay Ủy ban nhân dân T, tỉnh
Đồng Tháp) cung cấp thông tin: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa 202, tờ bản đồ 18 cho Hộ ông Phạm T4 ngày 13/9/2004 (tương ứng thửa
1233 tờ bản đồ 5 cấp năm 1998), đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Tại thời
điểm cấp Giấy chứng nhận không đo đạc thực tế không phát sinh tranh
chấp...”
10
[2.4] Riêng phần đất mD quản sử dụng nhưng chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đất. D trình bày do diện tích nhỏ nên
không kê khai. Qua đo đạc, phần đất mồ mã do bà D quản lý sử dụng thể hiện tại
các mốc M1-M2-M3-M10-M1 diện tích 57,5m
2
(chưa tính diện tích vùng tranh
chấp), đất cây lâu năm, được xác định thửa 210, tờ bản đồ 19 năm 2023
(tương ứng một phần thửa 187, tờ bản đồ 18 trước đây.)
[2.6] D yêu cầu ông Phạm Phú L trả lại cho phần đất qua đo đạc
diện tích thực tế 84,5m
2
trong phạm vi các mốc từ M8, M9, M10, M3, M4,
M5 trở về M8, theo đồ đo đạc ngày 16/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Đồng Tháp, vì cho rằng vị trí mốc M5-M8 là vị trí
“mí hầm” trước đây thỏa thuận chỉ sang nhượng đất cho ông T4 tới vtrí
đó. Xét thấy:
[2.6.1] Bà D không chứng cứ chứng minh việc chuyển nhượng đất cho
ông T4 đến vị trí mốc M5-M8, đã xác định từ năm 1984, sau khi chuyển
nhượng đất cho ông T4, không còn trực tiếp quản lý, sử dụng, canh tác phần
đất diện tích 84,5m
2
trong phạm vi các mốc từ M8, M9, M10, M3, M4, M5 trở
về M8, theo đồ đo đạc ngày 16/7/2024. Qua thời gian dài, giữa bà với ông
T4, vợ, con ông T4 không thỏa thuận, xác định lại ranh đất. Bà cũng không đăng
ký, khai quyền sử dụng đất khu mồ cho rằng diện ch nhỏ. Ngoài ra,
câu chữ trong Tờ sang nhà, hoa màu (đất)” ngày 24/5/1984 (AL)” cũng không
thể hiện ràng diện tích đất, chiều dài, tuy nhiên về ranh đất ghi rõ: “Phía
Tây giám hầm trong, ranh (viết danh theo cách phát âm địa phương) 
Ú, N.”, trong tờ sang nhượng không thể hiện phần đất D thỏa
thuận chuyển nhượng cho ông T4 từ nền mộ đo ra phía hầm là 7m như trình bày
và yêu cầu của D.
[2.6.2] Mặt khác, D trình bày: Năm 2021 hai bên phát sinh tranh chấp.
Năm 2022, Ủy ban nhân dân. Tại Biên bản hòa giải ngày 24/5/2022 D xác
định việc bán đất cho cha ông T (L) không có giấy tờ, chỉ nói miệng là bán từ mí
lộ đến bờ hầm, còn lại đất mồ mã bà không bán. Sau khi hòa giải, hai bên đã xác
định được ranh đất ranh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Có kèm
đồ đo vẽ của cán bộ địa chính Ủy ban thị trấn (bút lục 12). D trình bày
thống nhất ranh đất do Ủy ban hòa giải. Tuy nhiên, nguyên nhân bà khởi kiện ra
Tòa, do ông T không chừa lối đi cho vào khu mộ như biên bản hòa giải
trồng dừa trên phần đất của bà, sau đó còn cắm trụ đá không chừa cho lối đi
vào mộ 1,5m. Như vậy, căn cứ xác định, từ ban đầu bà D đã không đủ
chứng cứ chứng minh vị trí đất bà chuyển nhượng cho ông T4 là mốc M5-M8.
[2.6.3] Căn cứ đồ xác định diện tích thửa đất kèm theo Công văn số
631/CNVPĐKĐĐHHN-KTĐC ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện H, qua đối chiếu hồ địa chính, Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện H (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ2) xác định:
- Trên sở đồ đo đạc ngày 16/7/2024, ranh đất giữa thửa 211 hiện
nay của ông L và thửa 210, tờ bản đồ 19 năm 2023 của D, chưa được cấp
11
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tương ứng một phần thửa 187, tờ bản đồ 18
trước đây), được xác định tại vị trí như sau: Từ mốc M3 đo về thửa 211 một
đoạn 0,4m cắm mốc M14, từ mốc M9 đo về thửa 211 một đoạn 0,37m. Nối mốc
M12 M14 ranh đất giữa thửa 210 (của D, chưa được cấp giấy) thửa
211 của ông L.
- Căn cứ vị trí ranh đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H
(nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực XXII) xác định, qua đối
chiếu hồ địa chính hiện trạng sử dụng đất cho thấy ranh đất cách xa góc
mộ hơn 2m, bà D không bị cản trở lối đi vào khu mộ.
[2.6.4] Đối với trình bày của D cho rằng, tuy khi chuyển nhượng đất
cho ông T4 không đo đạc, không xác định diện tích, tuy nhiên ông T4 được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu chỉ có 730m
2
, sau nhiều lần cấp đổi,
diện tích thay đổi: 703m
2
, 773m
2
nay 741,5m
2
, phần ra do ông L lấn
chiếm của bà nên yêu cầu ông L phải trả lại. Trình bày của bà L không có căn
cứ nên không được chấp nhận. Mặt khác, như viện dẫn trên, căn cứ xác nhận của
Ủy ban nhân dân thtrấn T khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông L: “.....Diện tích thay đổi nhưng ranh giới thửa đất hiện nay không thay đổi
so với thời điểm có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng ổn định, không
tranh chấp, không chuyển nhượng, chuyển đổi.”
[2.7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án dân sự
thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 14-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 -
Đồng Tháp, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn D, chấp
nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông L, xác định ranh đất giữa 02 thửa
đất 210 của D thửa đất 211 của ông L tại vị trí ranh cấp giấy là căn cứ.
Bà D kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh cho kháng cáo là có
căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận Đơn kháng cáo của D, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Dúng được miễn nộp án pdân sự
phúc thẩm do là người cao tuổi.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
phù hợp có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị,
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;

Căn cứ Khoản 1 Điều 308, các Điều 91, 92, 148, 296 của Bộ luật tố tụng
dân sự, Điều 12, Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D.
12
- Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 14-01-2026
của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
Căn cứ:
- Điều 5, khoản 6, 9 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1,
4 Điều 91, Điều 227, Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1
Điều 158, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự (được sửa đổi, bổ sung
năm 2025);
- Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 8 Điều 26, điểm b khoản
1 Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15, các khoản
4, 5 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị
D.
1.1. Buộc ông Phạm Phú L di dời tài sản trên đất (nếu có) trả lại cho
Nguyễn Thị D phần đất diện tích 5,6m
2
trong phạm vi các mốc M9, M10,
M3, M14, M12 về mốc M9 (theo đồ xác định diện ch thửa đất kèm theo
Công văn số 631/CNVPĐKĐĐHHN-KTĐC ngày 06 tháng 3 m 2025 của Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện H (nay Chi nhánh Văn phòng Đ2
Đồng Tháp); thuộc một phần thửa đất số 210, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại thị
trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp).
1.2. Nguyễn Thị D được quyền s dụng phần đất diện tích 5,6m
2
trong phạm vi các mốc M9, M10, M3, M14, M12 về mốc M9 (theo đồ xác
định diện tích thửa đất kèm theo Công văn số 631/CNVPĐKĐĐHHN-KTĐC
ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện H
(nay là Chi nhánh Văn phòng Đ2 Đồng Tháp) thuộc một phần thửa đất số 210,
tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T,
tỉnh Đồng Tháp).
1.3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị D đối với bị đơn ông
Phạm Tấn T.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Phú L.
2.1. Buộc Nguyễn Thị D di dời tài sản trên đất (nếu có) để trả lại cho
ông Phạm Phú L phần đất diện tích 78,9m
2
trong phạm vi các mốc M12,
M14, M4, M5, M8 về mốc M12 (theo đồ xác định diện tích thửa đất kèm
theo Công văn số 631/CNVPĐKĐĐHHN-KTĐC ngày 06 tháng 3 năm 2025 của
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ2
Đồng Tháp) thuộc một phần thửa đất số 211, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại thị
trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp).
13
2.2. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Phạm Phú L đối với
Nguyễn Thị D về yêu cầu D bồi thường thiệt hại vtài sản số tiền 6.500.000
đồng (cây xoài).
3. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 210 của bà Nguyễn
Thị D với thửa đất 211 của ông Phạm Phú L, cùng tờ bản đồ 19 là đường thẳng
từ mốc M12 đến mốc M14 (theo đồ xác định diện tích thửa đất kèm theo
Công văn số 631/CNVPĐKĐĐHHN-KTĐC ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện H (nay Chi nhánh Văn phòng Đ2
Đồng Tháp).
Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ
không gian đến lòng đất. Tài sản, vật kiến trúc của bên nào lấn chiếm ranh đất
thì phải di dời theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16 tháng 7 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (nay Toà án nhân
dân khu vực 12 - Đồng Tháp), Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất ngày 16 tháng 7 năm
2024, đồ xác định diện tích thửa đất kèm theo Công văn s
631/CNVPĐKĐĐHHN-KTĐC ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện H (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ2 Đồng Tháp).
Các đương sự quyền, nghĩa vụ đến quan nhà nước thẩm quyền
khai đăng điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với
diện tích thực tế đang sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí đo đạc là 3.405.600
đồng. Nguyên đơn, bị đơn mỗi người chịu ½ chi phí trên. Do Nguyễn Thị D
đã tạm ứng và chi xong. Buộc ông Phạm Phú L trả lại cho Nguyễn Thị D
1.702.800 đồng (Một triệu bảy trăm lẻ hai nghìn tám trăm đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyễn Thị D và ông Phạm Phú L được
miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm cho
Nguyễn Thị D, do là người cao tuổi.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
14
Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị,
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh;
- Tòa án ND khu vực 12;
- Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 12;
- Phòng Giám đốc, Kiểm tra,
Thanh tra &THA, Tòa án Tỉnh;
- Lưu hồ sơ vụ án và VT,
TK Xuân.

- 

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 533/2026/DS-PT Bản án số 533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 533/2026/DS-PT Bản án số 533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất