Bản án số 1144/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1144/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1144/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1144/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1144/2026/DS-PT Bản án số 1144/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1144/2026/DS-PT Bản án số 1144/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1144/2026/DS-PT
Ngày: 26/8/2026.
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Định.
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Giang.
Ông Trần Nam Trung.
- Thư ký phiên tòa: Cô Lê Thị Thanh Hường - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Quyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cần
Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1389/2026/TLPT-DS ngày 22
tháng 7 năm 2026 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 235/2026/DS-ST, ngày 21 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1394/2026/QĐ-PT ngày
22 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Hồ Văn N, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Có mặt).
2. Bà Hồ Thị T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Vắng mặt).
3. Ông Hồ Văn C, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Vắng mặt).
4. Ông Hồ Văn Ú, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Vắng mặt).
5. Bà Hồ Thị E, sinh năm 1954. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T, ông C, ông Ú, bà E: Ông Hồ Văn
N, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
2
6. Bà Hồ Thị D, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Có mặt).
7. Bà Hồ Thị H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Tô Thị D1, sinh năm 1963 và bà Hồ Thị Mỹ T1, sinh năm
1985. Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Hồng N1, sinh năm
1995 và ông Võ Duy K, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số B N, phường T, thành phố
Cần Thơ. Theo văn bản ủy quyền ngày 14/5/2024 (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Văn Q, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Vắng mặt).
2. Bà Ngô Thị X, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Vắng mặt).
3. Ông Hồ Văn T2, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, thành phố Cần
Thơ. (Vắng mặt).
4. Bà Hồ Thị Mỹ C1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số F C, phường H, Thành
phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
5. Ông Hồ Văn D2, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần
Thơ. (Vắng mặt).
6. Ông Lê Văn D3, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần
Thơ. (Vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Hồ Văn N, bà Hồ Thị D, bà Hồ Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án, quyết định bản
án sơ thẩm và nội dung kháng cáo được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn trình bày: Trước đây cha của nguyên đơn là Hồ Văn T3 (tên
gọi khác là Hồ Văn N) đã chết, có cho con là ông Hồ Văn T4 đã chết, một phần
đất 05 công tầm 03m và có cho thêm phần còn lại 02 công tầm 03m. Trong thời
gian cha, mẹ ông còn sống thì ông T4 có cho tiền cha, mẹ để tiêu xài hằng ngày.
Khi cho đất thì cha ông không đo đạc cắm ranh, mà chỉ nói cho 05 công, phần còn
02 công thì giao cho ông T4 sử dụng, không phải tặng cho luôn. Sau khi ông T4
chết thì con của ông T4 đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
ông biết được nên đã ngăn chặn. Do phần đất còn lại không tặng cho ông T4 nên
các anh, chị, em ông khởi kiện yêu cầu phía bị đơn phải trả lại phần đất 02 công
mà cha ông trước đây đã giao cho ông T4 sử dụng. Tuy nhiên, do phần đất này bị
ảnh hưởng bởi Kinh KH8 và tuyến cao tốc nên phần đất còn lại theo đo đạc thực
tế được thể hiện trong Sơ đồ đo đạc hiện trạng số 134/VPĐK.DV ngày 19/3/2026
của Văn phòng Đ thì chỉ còn 817,2m
2
, thuộc thửa 746 và 962 nên nguyên đơn yêu
cầu bị đơn phải trả phần đất theo hiện trạng thực tế.
3
* Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Phần đất thuộc thửa
746 và 962 là của ông Hồ Văn T4 được cha là ông Hồ Văn T3 (tên gọi khác Hồ
Văn N) tặng cho năm 1981. Thời điểm tặng cho là một thửa đất nằm liền, sau đó
bị Kinh KH8 cắt ngang. Sau khi được tặng cho thì ông T4 quản lý sử dụng ổn
định và đến năm 2013 ông T4 đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Vì vậy, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
buộc bị đơn phải trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 817,2m
2
. Ngoài
ra, trước đây do đo đạc sai vị trí nên bị đơn có phản tố yêu cầu bà T trả lại đất,
nhưng sau khi đo đạc lại đúng vị trí thì bị đơn rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn Q trình bày: Vào năm
2010 ông có nhận chuyển nhượng của ông Hồ Văn T4 và vợ là bà Tô Thị D1 một
phần đất có diện tích 01 công tầm 03m và có làm giấy tay chuyển nhượng. Sau
đó ông có chuyển nhượng lại cho bà Ngô Thị X toàn bộ phần đất mà ông đã nhận
chuyển nhượng của ông T4 và bà D1. Phần đất chuyển nhượng này được thể hiện
trong Sơ đồ hiện trạng bà X sử dụng là đúng vị trí, và thời điểm chuyển nhượng
ông chỉ biết đất đó ông T4 là người quản lý, đất lúc đó chỉ có đế, sậy được khai
phá ra để trồng lúa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Mỹ C1 trình bày: Bà là
con của ông Hồ Văn T4 (đã chết) và bà Tô Thị D1, nguồn gốc thửa đất 746 và
962 là của cha bà nhận tặng cho từ ông nội là ông Hồ Văn T3 (tên gọi khác là
Năm T5 và Hồ Văn N). Bà không biết được tặng cho năm nào nhưng, bà biết phần
đất này được sử dụng từ lâu, không tranh chấp gì với ai. Nay nguyên đơn cho rằng
chỉ cho một phần và phần còn lại khoảng 02 công là không đúng nên bà không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn T2 trình bày: Việc
tranh chấp đất giữa nguyên đơn và bị đơn không liên quan gì đến ông nên ông
không có ý kiến, đồng thời ông đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt ông cho đến
khi kết thúc vụ án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị X, ông Lê Văn D3 và
ông Hồ Văn D2 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
* Tại Bản án sơ thẩm số 235/2026/DS-ST, ngày 21 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ đã quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn
phải trả lại phần đất có diện tích 817,2m
2
, thuộc thửa 746 và 962, tờ bản đồ số 11,
toạ lạc tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 134/VPĐK.DV ngày
19/3/2026 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ và phần đất tranh chấp
817,2m
2
được ký hiệu (Phần 1) diện tích 408,2m
2
thửa 746 + (Phần 1) diện tích
218m
2
và (Phần 4) diện tích 191m
2
thửa 962).
4
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố
tụng và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
* Ngày 04/5/2026, nguyên đơn ông Hồ Văn N, bà Hồ Thị D, bà Hồ Thị H
kháng cáo không đồng ý với sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 134 ngày
19/3/2026 mà chỉ thống nhất với T6 đo bản đồ địa chính số 01/2025 ngày
09/9/2025 và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo
hướng buộc bị đơn trả lại phần đất có diện tích 02 công tâm 03 mét tại thửa 746,
tờ bản đồ số 01, toạ lạc tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
thay đổi một phần nội dung đơn kháng cáo là yêu cầu trả lại phần đất có diện tích
thực tế là 817,2m
2
thuộc thửa 746 và thửa 962, người đại diện theo uỷ quyền của
bị đơn giữ nguyên ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Các
đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp
hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm.
Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo và
cho rằng kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận và đề nghị áp
dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giữ nguyên Bản án dân sự
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các
chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị
của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo,
thời hạn kháng cáo của nguyên đơn là đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272
và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, kháng cáo hợp lệ và đúng theo
luật định nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm đối với nội dung kháng
cáo và các vấn đề có liên quan đến việc kháng cáo.
[2]. Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn bà
Hồ Thị H đề nghị xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 tham gia phiên toà nhưng vắng mặt. Hội
đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ
án vắng mặt đối với những người trên.
[3]. Tại phiên toà phúc thẩm các nguyên đơn thay đổi một phần nội dung
kháng cáo là thống nhất phần diện tích đất tranh chấp có diện tích thực tế là
817,2m
2
thuộc thửa 746 và thửa 962, cho nên yêu cầu các bị đơn trả lại phần diện
tích nêu trên. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng việc thay đổi nội dung kháng
cáo của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi kháng cáo
ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
5
[4]. Xét kháng cáo của các nguyên đơn, thấy rằng về nguồn gốc cũng như
quá trình sử dụng phần đất các đương sự đều thừa nhận phần đất đang tranh chấp
là của cha ruột của các nguyên đơn đã giao cho ông Hồ Văn T4 là anh em ruột
với các nguyên đơn sử dụng từ 1981 cho đến khi chết và hiện nay vợ và các con
của ông T4 đang quản lý, sử dụng đến thời điểm hiện nay là 45 năm. Như vậy,
đây là tình tiết, sự kiện có thật, không phải chứng minh theo quy định tại khoản 1
Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5]. Theo trích lục hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của ông Hồ Văn T4
thấy rằng ông T4 đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp từ thời điểm năm 1981
cho đến năm 2013 được Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 746 và thửa 962. Ngoài ra các nguyên đơn
không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, từ
đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có
căn cứ.
[6]. Tại phiên tòa phúc thẩm các nguyên đơn cũng không có cung cấp thêm
tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Mặt
khác Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hồ Văn T4 chưa bị cơ quan có
thẩm quyền nào thu hồi.
[7]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng đối
với yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn là không có căn cứ để Hội đồng xét
xử phúc thẩm chấp nhận.
[8]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm chấp nhận.
[9]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các nguyên đơn không
được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định. Tại Điều 28 của Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
quy định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là người kháng cáo
theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, trừ trường
hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí
theo quy định của Nghị quyết này. Tuy nhiên các nguyên đơn nguyên đơn ông Hồ
Văn N, bà Hồ Thị D, bà Hồ Thị H cùng nhau kháng cáo nhưng Tòa án cấp sơ
thẩm chỉ cho nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng là chưa chính xác nên
cần rút kinh nghiệm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
6
1. Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn ông Hồ Văn N, bà Hồ
Thị D, bà Hồ Thị H.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 235/2026/DS-ST, ngày 21 tháng
4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các nguyên đơn bà Hồ Thị D, bà Hồ Thị H
mỗi người phải nộp 300.000 đồng, phần tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010057 ngày
20/5/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy bà Hồ Thị H phải
nộp thêm 300.000 đồng. Ông Hồ Văn N được miễn án phí theo quy định.
4. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6,
7, 8 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 3- Cần Thơ;
- VKSND Khu vực 3-Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 3-Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu VP, TDS, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Quốc Định
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1144/2026/DS-PT Bản án số 1144/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1144/2026/DS-PT Bản án số 1144/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất