Bản án số 246/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 246/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 246/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 246/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 246/2026/DS-PT Bản án số 246/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 246/2026/DS-PT Bản án số 246/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 246/2026/DS-PT
Ngày 14/8/2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình
Bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư phiên toà: Lê Khánh Quỳnh Thư Toà án nhân dân tỉnh Bắc
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Bà Nguyễn Thị Thúy Liên–
Kiểm sát viên.
Trong ngày 14/8 /2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh t xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 168/2026/TLPT-DS ngày 14/7/2026 về việc
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số 50/2026/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2026 của
Toà án nhân dân Khu vực 8 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 238/2026/QĐ-PT ngày
03/8/2026 giữa:
Nguyên đơn: Bà Phùng Thị B, sinh năm 1949 (có mặt)
Địa chỉ: Số nhà A, phố V, phường V, tỉnh Bắc Ninh
Bị đơn: 1. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1973 (có mặt)
2. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1982 (có đơn đề nghị vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu phố P, phường P, tỉnh Bắc Ninh.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn - Phùng Thị B, sinh năm 1949 (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự số 50/2026/DS-ST ngày 07/5/2026 của Toà án nhân dân
Khu vực 8- Bắc Ninh và tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại hồ sơ vụ án diễn biến phiên tòa, nguyên đơn
Phùng Thị B trình bày:
2
và anh Hoàng Văn T quan hệ quen biết, anh T cần vốn để đầu vào
công trình khu sinh thái chợ đầu mối tại C nghĩa trang G1 (Phường N, tỉnh Bắc
Ninh) nên hỏi vay tiền bà. Sau đó, nhiều lần cho anh T vay tiền, đến ngày
19/11/2024, bà và anh Tân C công nợ, theo đó đến ngày 19/11/2024 anh T còn nợ bà
700.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận lãi suất 1,5%/tháng đối với số tiền
700.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 19/11/2024. Kể từ đó đến nay, anh T mới chỉ
trả bà 10.000.000 đồng tiền lãi vào ngày 16/02/2026.
Hiện nay vợ chồng anh T, chị D đang sở hữu một gian hàng tại khu chợ nêu
trên, gian ng này được hình thành trên sở vốn vay nêu trên của bà. Hiện chị D
đang kinh doanh bán hàng trên gian hàng này, đây nguồn thu nhập chung của anh
T, chị D để gia đình anh T, chị D sinh sống. Do vậy, bà xác định đây khoản nợ
chung của chị D và anh T.
Ngoài ra, khi vay khoản nợ trên anh T còn cam kết với là dùng thửa đất số
39, tờ bản đồ số 18 tại V, Đ, Q, Bắc Ninh (nay là thôn V, xã P, tỉnh Bắc Ninh) để thế
chấp vay khoản tiền nêu trên của bà từ năm 2012. Khi đó, mảnh đất này đứng tên bố
mẹ anh T là hông Hoàng Văn T1, sau đó anh Tân ợn lại bà G chứng nhận
quyền sử dụng mảnh đất trên để vay tiền ngân hàng cam kết sẽ trả tiền vay nêu
trên cho bà. Nhưng anh T không trả tiền bmanh Tân lại thực hiện việc
chuyển nhượng thửa đất trên cho chị D, gần đây chị D lại làm thủ tục chuyển
nhượng thửa đất này cho anh Nguyễn Hữu C1 T. đã đơn hiện tại Văn
phòng đăng đất đai liên phường Q đã dừng việc đăng biến động, trả lại hồ
sơ chuyển nhượng cho chị D và anh C1.
vậy, bằng đơn này yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh Hoàng Văn T, chị
Nguyễn Thị D phải trả số tiền 700.000.000 đồng nợ gốc nợ lãi tạm tính đến ngày
19/9/2025 là 150.750.000đồng. Đề nghị Tòa án tính tiếp tiền lãi đến khi anh T, chị D
trả hết toàn bộ số nợ trên. Đồng thời đề nghị Tòa án đề cập nội dung hiện nay
Văn phòng đăng ký đất đai liên xã P đã dừng việc chuyển nhượng thửa đất số 39 nêu
trên vào bản án này nhưng bà không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời.
Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Hoàng Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trình bày trong quá
trình chuẩn bị xét xử: Khoảng hơn 10 năm trở lại đây, anh nhiều lần vay tiền bà B và
anh đã từng dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố anh để thế chấp vay
tiền B. Sau đó, anh đã mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà đang thế
chấp cho B để bố anh chuyển nhượng thửa đất này cho vợ anh Nguyễn Thị D,
sau đó vợ anh vay tiền Ngân hàng V trả cho bố anh và bố anh cho anh một phần tiền
để trả cho B toàn bộ khoản vay. Sau đó vài tháng (cách đây khoảng 2-3 năm) anh
lại vay khoảng vài chục triệu đồng của bà B với lãi suất khoảng t2000 4000đ/01
triệu đồng/ 01 ngày. Sau đó vài tháng anh lại vay thêm của B vài chục triệu đồng
3
và hai bên chốt nợ thành 198.000.000 đồng vẫn với mức lãi suất như trên. Từ đó đến
nay, anh không vay thêm của bà B đồng nào.
Anh xác nhận Giấy vay tiền đề ngày 19/11/2024 do anh viết, anh nhưng
đây do B ép anh viết. Anh xác định trong số tiền 700.000.000 đồng này chỉ
khoảng 150.000.000 đồng nợ gốc còn lại là tiền lãi cao như trên bà B cộng vào. Anh
không chấp nhận trả số nợ trên cho bà B.
Việc anh vay nợ tiền của B để sử dụng vào việc riêng của nhân anh,
hoàn toàn không liên quan gì đến vợ anh, anh cũng không sử dụng tiền vay của B
để chi tiêu cho gia đình.
Ngoài lời trình bày trên, anh không tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa
án.
Bị đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Chị mới kết hôn với anh T năm 2024,
trước đó, chị mua một mảnh đất của bố manh T ông T1, H. Việc mua bán
hoàn toàn ngay tình, chị hoàn toàn không biết thửa đất này anh T mang đi thế chấp
cho B. Chị chưa từng gặp, chưa từng quen biết B, chị cũng hoàn toàn không
biết việc vay nợ giữa anh T B. Anh T chưa từng nói với chị về việc vay tiền
của bà B, tiền anh T vay của bà B cũng không mang về gia đình để sử dụng cho mục
đích sinh hoạt chung của gia đình hay mục đích chung của vợ chồng chị nên chị
không có nghĩa vụ trả tiền bà B.
Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2026/DS-ST ngày 07 tháng
5 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 8 - Bắc Ninh đã quyết định:
Áp dụng: Các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271 273 của Bộ luật tố tụng
dân sự; Các điều 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự; Các điều 5,6 Nghị quyết số
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phùng Thị B;
Buộc anh Hoàng Văn T phải trả Phùng Thị B số tiền ngốc là 700.000.000 đồng
nợ lãi tính đến ngày t xsơ thẩm (07/5/2026) là 256.700.000 đồng, tổng cộng
là 956.700.000 đồng (Chín trăm năm mươi sáu triệu, bảy trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất là 2.25%/tháng.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sthì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4
2. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu 40.700.000 đồng án pdân ssơ
thẩm.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 07/5/2026, nguyên đơn Phùng Thị B nộp đơn kháng cáo đề nghị sửa
bản án dân sự thẩm số 50/2026/DS-ST ngày 07/5/2026 của Toà án nhân dân Khu
vực 8- Bắc Ninh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn - Phùng Thị B trình bày: kháng cáo để nghị sửa bản án
thẩm về hai nội dung sau:
- Về khoản tiền lãi: Tòa án thẩm tính thiếu 10.500.000 đồng tiền lãi. do:
Tiền lãi của số tiền 700.000.000đồng phải tính mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày
19/11/2024 đến khi xét xử thẩm (ngày 07/5/2026) Giấy vay tiền ngày
19/11/2024 giấy chốt nợ của các khoản vay từ năm 2012 đến năm 2024, trong
giấy không ghi thỏa thuận thời hạn trả nên ngay khi viết giấy bà đã đến đòi anh T trả
tiền.
- Tòa thẩm không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cố ý làm trái pháp
luật.
Bị đơn – anh Hoàng Văn T trình bày: Qúa trình làm việc tại Tòa án sơ thẩm anh
đã được tiếp cận, được xem bản gốc giấy vay tiền ngày 19/11/2024, anh thừa nhận
toàn bộ chữ viết, chữ ký trong giấy vay tiền ngày 19/11/2024 là do anh viết, ký. Việc
anh viết, ký giấy vay tiền ngày 19/11/2024 là do bị ép buộc, anh không có giấy tờ tài
liệu cung cấp để chứng minh bị ép buộc viết, giấy vay tiền ngày 19/11/2024.
Giấy vay tiền ngày 19/11/2024 là giấy chốt của khoản tiền nợ gốc,lãi cũ từ năm 2021
218.000.000đồng (nhưng anh không nhớ cụ thể thời gian từng khoản vay,từng số
tiền gốc, lãi bao nhiêu) cộng với 482.000.000đồng tiền bà B bảo cho anh vay vào
ngày 19/11/2024 nhưng khi anh viết, giấy xong B không đưa tiền cho anh.
Anh không có tài liệu, chứng cứ nào để giao nộp, chứng minh nội dung trình bày nêu
trên. Toàn bộ khoản tiền vay B khoản tiền vay riêng của nhân anh, không
phải vay chung vợ chồng năm 2024 anh vợ Nguyễn Thị D mới đăng kết
hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm:
-Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp
phúc thẩm: Hội đồng xét xử Thư phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng các
thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng
mặt tại phiên tòa chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ
của mình khi tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Phùng Thị B, giữ nguyên
5
bản án dân sự thẩm số 50/2026/DS-ST ngày 07/5/2026 của Toà án nhân dân Khu
vực 8- Bắc Ninh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm choPhùng Thị
B do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị D vắng mặt tại phiên
tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Phùng Thị B, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Phùng Thị B khởi kiện buộc anh Hoàng Văn T, chị Nguyễn Thị D trả
trả số tiền nợ gốc 700.000.000đồng nợ lãi theo giấy vay tiền ngày 19/11/2024.
Quá trình giải quyết vụ án, anh T thừa nhận giấy vay tiền ngày 19/11/2024 do anh T
viết, ký. Anh T cho rằng bị ép viết, giấy vay tiền ngày 19/11/2024 nhưng anh T
không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho việc bị ép viết, giấy vay
tiền này ngoài lời trình bày.
[2.2]Chị D anh T đều xác định đây khoản vay riêng của nhân anh T,
anh T không dùng số tiền vay này vào mục đích chung của gia đình. B cho rằng
khoản tiền vay 700.000.000đồng là khoản vay chung của chị D, anh T nhưng tại giấy
vay tiền ngày 19/11/2024 không chữ của chị D, nội dung giấy vay tiền không
ghi mục đích sử dụng tiền vay, B không tài liệu, chứng cứ chứng minh anh
T dùng số tiền vay của B sử dụng vào sinh hoạt chung của gia đình anh T, chị D.
Mặt khác,theo B trình bày giấy vay tiền ngày 19/11/2024 giấy chốt ncủa
khoản tiền vay từ năm 2012 đến năm 2024, khi vay tiền chỉ một mình anh T đến vay,
chị D không đến. Do vậy, căn cứ Điều 37, Điều 45 Luật Hôn nhân gia đình xác
định đây khoản nợ riêng của anh T nên chị D không phải chịu nghĩa vụ đối với
khoản vay này. Tòa thẩm buộc nhân anh T nghĩa vụ trả cho B1 khoản
tiền vay nợ theo giấy vay tiền ngày 19/11/2024 là có căn cứ theo Điều 463, Điều 466
Bộ luật Dân sự 2015.
[2.3]Tại giấy vay tiền ngày 19/11/2024 chỉ thể hiện khoản viền vay
700.000.000đồng mức lãi suất 1,5%/tháng, không ghi thời hạn trả nợ. Căn cứ
khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015 xác định đây Hợp đồng vay không kỳ hạn
lãi. B cho rằng thời hạn trả tiền ngày viết giấy vay tiền 19/11/2024
nhưng anh T không thừa nhận,bà B không có giấy tờ tài liệu gì chứng minh ngoài lời
trình bày.
[2.4]Tại Đơn xin trình bày xin vắng mặt tại phiên tòa thẩm ngày
23/4/2026 (bút lục 50) cũng như tại phiên tòa phúc thẩm anh Hoàng Văn T trình bày
6
sau khi viết giấy vay tiền ngày 19/11/2024 thì khoảng 1 tháng sau B liên tục đòi
tiền anh T nhưng do tình hình làm ăn khó khăn nên anh T chưa thu xếp được tiền trả
B. Căn cứ khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015; điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị
quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi
phạm xác định thời hạn anh T có nghĩa vụ trả bà B khoản tiền vay theo giấy vay tiền
ngày 19/11/2024 ngày 19/12/2024,thời gian chậm trả đối với khoản vay sau 01
tháng kể từ ngày bà B thông báo cho anh T (ngày 19/12/2024), tức từ ngày
19/01/2025 đến nay. Tòa thẩm buộc anh T phải trả B tiền lãi trong hạn của
khoản tiền vay 700.000.000đồng với mức lãi suất là 1,5%/tháng, tính từ ngày
19/11/2024 đến 18/01/2025 (02 tháng) là: 700.000.000 đồng x 1,5% x 2 tháng =
21.000.000 đồng tiền lãi quá hạn của khoản tiền vay 700.000.000đồng với mức
lãi suất 150% mức lãi suất trong hạn 150%x1,5%/tháng = 2.25%/tháng tính t
ngày 19/01/2025 đến ngày xét xử thẩm (07/5/2026) tương ứng với số tiền
245.700.000 đồng căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị quyết số
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Anh T đã trả B 10.000.000 đồng tiền lãi nên tính đến ngày xét xử sơ thẩm, anh T
còn nghĩa vụ B số tiền lãi 21.000.000đồng + 245.700.000 đồng
10.000.000 đồng = 256.700.000 đồng như quyết định của bản án sơ thẩm là đúng.
[3] B cho rằng Tòa sơ thẩm không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
theo yêu cầu của bà B cố ý làm trái pháp luật, Hội đồng xét xử thấy: Trong hồ sơ
vụ án không tài liệu, giấy tnào thể hiện B nộp đơn yêu cầu Tòa án thẩm
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tại phiên tòa thẩm ngày 24/4/2026- (bút
lục 54) B trình bày “đề nghị Tòa án đề cập nội dung hiện nay Văn phòng đăng
đất đai liên P đã dừng việc chuyển nhượng thửa đất số 39 tờ bản đồ 18 tại V, Đ,
Q, Bắc Ninh (nay thôn V, P, tỉnh Bắc Ninh) vào bản án,tôi không u cầu Tòa
án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất trên”. Như vậy, Tòa
thẩm không xem xét, không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phù hợp với
quy định tại Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[4] Từ những phân tích, căn cứ nêu trên thấy Tòa thẩm đã thụ lý, giải quyết
vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng, việc chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn căn cứ. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, nguyên đơn không
cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới. Hội đồng xét xử không căn cứ chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, cần giữ nguyên bản án thẩm như đề nghị của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
7
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
Phùng Thị B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố
tụng dân sự. Tuy nhiên, do Phùng Thị B người cao tuổi nên được miễn án phí
dân sự phúc thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng
cáo của Phùng Thị B, giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 50/2026/DS-ST ngày
07/5/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8- Bắc Ninh.
2. Về án phí dân sphúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân
sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho
Phùng Thị B.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-VKSND tỉnh Bắc ninh;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-Toà án nhân dân Khu vực 8 - Bắc Ninh;
-Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
- Phòng Thi hành án Khu vực 8 – Bắc Ninh;
-Các đương sự;
-Lưu HS; VP
Triệu Thị Luyện
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 246/2026/DS-PT Bản án số 246/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 246/2026/DS-PT Bản án số 246/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất