Bản án số 02/2025/KDTM-PT ngày 16/04/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2025/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 02/2025/KDTM-PT ngày 16/04/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 02/2025/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/04/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tổng công ty C yêu cầu khởi kiện Công ty T2 phải thanh toán các giá trị còn lại của hợp đồng trên và lãi phạt chậm trả với tổng số tiền là 1.911.620.844 đồng, trong đó nợ gốc theo hợp đồng là 1.770.019.300 đồng, lãi phạt vi phạm do chậm trả là 141.601.544 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẠC LIÊU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 02/2025/KDTM-PT
Ngày: 16 4 2025
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán, thi công và lắp đặt
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều
Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí
Ông Trương Thanh Dũng
- Thư phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép Thư Tòa án nhân n tỉnh
Bạc Liêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa:
Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử
phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số: 03/2025/TLPT-
KDTM ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán, thi công
và lắp đặt.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày
10 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 03/2025/QĐ-PT ngày
18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Tổng Công ty Cổ phần C
Trụ sở: Số A, đường G, phường K, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Đình T Chức vụ: Tổng giám
đốc Tổng Công ty Cổ phần C.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Kiến Q, sinh năm 1982 – Chức
vụ: Giám đốc chi nhánh Công trình C, thuộc Tổng CTCP Công trình C (theo văn
bản ủy quyền số 790/GUQ-VCC ngày 05/02/2024). Địa chỉ chi nhánh: Số B,
đường Q, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2
2
Địa chỉ: Số G, đường T, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1991 - Chức vụ:
Giám đốc. Địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tài liệu m theo và lời khai có trong hồ sơ vụ án
nguyên đơn trình bày:
Trong thời gian cuối năm 2021 đầu năm 2022, giữa Công ty Trách nhiệm
hữu hạn T2 (gọi tắt Công ty T2) với Tổng Công ty cổ phần C (gọi tắt Tổng
Công ty C) có ký kết các Hợp đồng như sau:
Hợp đồng mua bán lắp đặt thiết bị số 201201-KD/HĐMBLĐ-
2021/CNKTBLU-LINHYENPHI công trình lắp đặt hệ thống điều hoà treo tường
và máy tính để bàn ngày 20/12/2021, giá trị hợp đồng là 387.580.000 đồng.
Hợp đồng thi công hệ thống cửa toà nhà số 220201-HT/HĐXL-2022/VCC-
LINHYENPHI ngày 22/02/2022, giá trị hợp đồng là 1.700.740.600 đồng.
Hợp đồng mua bán lắp đặt thiết bị số 200601-KD/HĐMB-2022/VCC-
LINHYENPHI công trình lắp đặt hệ thống laptop tivi không đề ngày trong năm
2022, giá trị hợp đồng là 135.510.000 đồng.
Ngoài ra, Tổng công ty C còn thi công thêm hệ thống mạng và camera cho
Công ty T2 theo biên bản nghiệm thu ngày 25/6/2022 với giá trị 55.670.000
đồng.
Đối với nội dung đơn khởi kiện trình bày ph lục 200601-
KD/HĐMB-2022/VCC-LINHYENPHI ngày 25/6/2022 thì tổng công ty C xin
đính chính lại không có phụ lục này mà là biên bản nghiệm thu ngày 25/6/2022.
Tổng Công ty C đã lắp đặt thi công giao các hàng hoá cho Công ty T2
theo đúng thoả thuận trong hợp đồng nên giữa Tổng Công ty C và Công ty T2 đã
tiến hành nghiệm thu, thanh lý các công trình và Công ty T2 đã đưa vào sử dụng
từ ngày 25/6/2022
Tuy nhiên, tính đến nay phía Công ty T2 chỉ mới thanh toán cho Tổng Công
ty C theo các Hợp đồng trên cụ thể như sau:
Hợp đồng mua bán lắp đặt thiết bị số 201201-KD/HĐMBLĐ-
2021/CNKTBLU-LINHYENPHI công trình lắp đặt h thống điều hoà treo tường
3
và máy tính để bàn ngày 20/12/2021, gtrị hợp đồng là 387.580.000 đồng, thanh
toán được 98.600.000 đồng, còn nợ lại 288.980.000 đồng.
Hợp đồng thi công hệ thống cửa toà nhà số 220201-HT/HĐXL-2022/VCC-
LINHYENPHI ngày 22/02/2022, gtrị hợp đồng 1.700.740.600 đồng, giá trị
khi quyết toán hợp đồng theo biên bản thanh hợp đồng thi công
1.789.859.300 đồng, thanh toán được 500.000.000 đồng, còn nợ lại 1.289.859.000
đồng.
Hợp đồng mua bán lắp đặt thiết bị số 200601-KD/HĐMB-2022/VCC-
LINHYENPHI công trình lắp đặt hệ thống laptop tivi không đề ngày trong năm
2022, giá trị hợp đồng 135.510.000 đồng, thanh toán được 0 đồng, còn nợ lại
135.510.000 đồng.
Tổng Công ty C còn thi công thêm hệ thống mạng và camera cho ng ty
T2 theo biên bản nghiệm thu ngày 25/6/2022 với giá trị 55.670.000 đồng, thanh
toán được 0 đồng, còn nợ lại 55.670.000 đồng.
Vào ngày 14/9/2022 ngày 13/11/2022, giữa Tổng Công ty C với Công
ty T2 đã buổi làm việc đối chiếu công nợ với nhau, Công ty T2 thừa nhận
còn nợ lại Tổng Công ty C tổng số tiền là 1.770.019.300 đồng.
Tuy nhiên đến nay, phía Công ty T2 không thanh toán được cho Tổng Công
ty C số tiền nào, nay Tổng công ty C yêu cầu khởi kiện Công ty T2 phải thanh
toán các giá trị còn lại của hợp đồng trên lãi phạt chậm trả với tổng số tiền là
1.911.620.844 đồng, trong đó nợ gốc theo hợp đồng là 1.770.019.300 đồng, lãi
phạt vi phạm do chậm trả 141.601.544 đồng. Đối với yêu cầu nếu trường hợp
Công ty T2 không thanh toán thì Chi nhánh Công trình C yêu cầu được thu hồi
toàn bộ sản phẩm hàng hóa, vật tư, thiết bị mà phía chi nhánh đã cung cấp và thi
công cho Công ty T2 thì Tổng Công ty cổ phần C xin rút lại yêu cầu này, không
yêu cầu trong vụ án này. Không có bổ sung yêu cầu nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2024, ông Nguyễn Minh T1 người
đại diện theo pháp luật của bị đơn trong vụ án trình bày:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của
Tổng Công ty cổ phần C. Công ty T2 đồng ý thanh toán các giá trị còn lại của hợp
đồng và lãi phạt chậm trả với tổng số tiền 1.911.620.844 đồng (trong đó nợ gốc
1.770.019.300 đồng, lãi chậm trả 141.601.544 đồng. Đối với yêu cầu nếu
trường hợp Công ty T2 không thanh toán thì Chi nhánh Công trình C yêu cầu
được thu hồi toàn bộ sản phẩm hàng hóa, vật tư, thiết bị phía chi nhánh đã
4
cung cấp thi công cho Công ty T2 thì Công ty T2 không đồng ý nội dung
này không có trong Hợp đồng đã thoả thuận.
Từ nội dung nêu trên, tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số:
01/2024/KDTM-ST ngày 10 tháng 6 năm 2024 của a án nhân dân thành ph
Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của của Tổng công ty cổ phần C
đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 về việc yêu cầu nếu trường hợp Công ty
Trách nhiệm hữu hạn T2 không thanh toán nthì Chi nhánh Công trình Viettel
yêu cầu được thu hồi toàn bộ sản phẩm hàng hóa, vật tư, thiết bị phía chi nhánh
đã cung cấp và thi công cho Công ty T2.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty cổ phần C đối với Công
ty Trách nhiệm hữu hạn T2 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán, thi công và lắp
đặt.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 Yến Phi có trách nhiệm thanh toán
cho Tổng Công ty cổ phần C tổng số tiền là 1.911.620.844 đồng, trong đó nợ gốc
là 1.770.019.300 đồng và tiền phạt vi phạm là 141.601.544 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người
phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương
ứng với thời gian chậm trả.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về án phí; quyền yêu cầu thi hành án
và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/7/2024 ngày 08/11/2024, ông Nguyễn Minh T1 người đại
diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 đơn kháng cáo bản
án. Theo đó, ông T1 kháng cáo một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm
số: 01/2024/KDTM-ST ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành
phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; nội dung kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản
án theo hướng không buộc Công ty T2 trả số tiền phạt vi phạm 141.601.544
đồng và tiền án phí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ
vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán, Hội đồng
5
xét xử, Thư ký các đương sự chấp hành đúng quy định của B luật Tố tụng dân
sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu
hạn T2, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 10 tháng 6 năm
2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án
đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến
phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận,
nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh T1 là người đại diện theo pháp
luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 đã được xem xét bằng Quyết định chấp
nhận việc kháng o quá hạn, nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo th
tục phúc thẩm.
[1.2] Về xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn
T2 do ông Nguyễn Minh T1 là người đại diện theo pháp luật vắng mặt và có đơn
đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn
theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Trong thời gian cuối năm 2021 đầu năm 2022, giữa Công ty Trách nhiệm
hữu hạn T2 (gọi tắt là Công ty T2) với Tổng Công ty Cổ phần C (gọi tắt là Tổng
Công ty C) có ký kết các Hợp đồng như sau:
- Hợp đồng mua bán lắp đặt thiết bị số 201201-KD/HĐMBLĐ-
2021/CNKTBLU-LINHYENPHI công trình lắp đặt hệ thống điều hoà treo tường
và máy tính để bàn ngày 20/12/2021, giá trị hợp đồng là 387.580.000 đồng.
- Hợp đồng thi công hệ thống cửa toà n số 220201-HT/HĐXL-
2022/VCC-LINHYENPHI ngày 22/02/2022, giá trị hợp đồng 1.700.740.600
đồng.
- Hợp đồng mua bán và lắp đặt thiết bị s200601-KD/HĐMB-2022/VCC-
LINHYENPHI công trình lắp đặt hệ thống laptop tivi không đề ngày trong năm
2022, giá trị hợp đồng là 135.510.000 đồng.
6
- Ngoài ra, Tổng công ty C còn thi công thêm hệ thống mạng camera
cho Công ty T2 theo biên bản nghiệm thu ngày 25/6/2022 với giá trị là 55.670.000
đồng.
Tổng công ty C đã lắp đặt thi công giao các hàng hoá cho Công ty T2
như thoả thuận trong hợp đồng và giữa 02 bên đã tiến hành nghiệm thu, thanh lý
các công trình và Công ty T2 đã đưa vào sử dụng từ ngày 25/6/2022.
Tuy nhiên, tính đến nay phía ng ty T2 chỉ mới thanh toán cho Tổng công
ty C theo các Hợp đồng trên cụ thể như sau:
- Hợp đồng mua bán lắp đặt thiết bị số 201201-KD/HĐMBLĐ-
2021/CNKTBLU-LINHYENPHI ngày 20/12/2021, thanh toán được 98.600.000
đồng, còn nợ lại 288.980.000 đồng.
- Hợp đồng thi công hệ thống cửa toà n số 220201-HT/HĐXL-
2022/VCC-LINHYENPHI ngày 22/02/2022, thanh toán được 500.000.000 đồng,
còn nợ lại 1.289.859.000 đồng.
- Hợp đồng mua bán và lắp đặt thiết bị s200601-KD/HĐMB-2022/VCC-
LINHYENPHI năm 2022, chưa thanh toán, còn nợ lại 135.510.000 đồng.
- Hệ thống mạng và camera, chưa thanh toán, còn nợ lại 55.670.000 đồng.
Vào ngày 14/9/2022 và ngày 13/11/2022, giữa Tổng công ty C với công ty
T2 đã có buổi làm việc và đối chiếu công nợ với nhau, công ty T2 thừa nhận còn
nợ lại Tổng công ty C tổng số tiền 1.770.019.300 đồng tại biên bản lấy lời
khai ngày 08/5/2024 đơn kháng cáo ngày 08/11/2024, ông Nguyễn Minh T1
người đại diện theo pháp luật của bị đơn thống nhất với yêu cầu khởi kiện của
Tổng công ty cổ phần C đồng ý thanh toán các giá trị còn lại của hợp đồng là
1.770.019.300 đồng. Xét thấy đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh
theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm buộc
bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền này là có căn cứ.
Đối với yêu cầu trong trường hợp Công ty T2 không thanh toán nợ thì Chi
nhánh Công trình Viettel yêu cầu được thu hồi toàn bộ sản phẩm hàng hóa, vật tư,
thiết bị phía chi nhánh đã cung cấp thi công cho ng ty T2 thì nguyên đơn
đã t lại yêu cầu y, cấp thẩm đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn đã
rút là phù hợp.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án, không
chấp nhận lãi phạt vi phạm do chậm trả với số tiền 141.601.544 đồng và tiền án
phí. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ các Hợp đồng đã kết thể hiện nếu bên công ty T2 chậm thanh
toán theo hợp đồng sbị phạt 0,05% giá trị hợp đồng và 0,1%/ngày số ngày chậm
7
thanh toán tuy nhiên tổng mức phạt không quá 8% số tiền chậm thanh toán. Căn
cứ Hợp đồng mua bán lắp đặt thiết bị số 201201-KD/HĐMBLĐ-
2021/CNKTBLU-LINHYENPHI ngày 20/12/2021, được nghiệm thu ngày
25/6/2022; Hợp đồng thi công hệ thống cửa toà nhà số 220201-HT/HĐXL-
2022/VCC-LINHYENPHI ngày 22/02/2022 được nghiệm thu theo biên bản
nghiệm thu trong năm 2022; Hợp đồng mua bán lắp đặt thiết bị số 200601-
KD/HĐMB-2022/VCC-LINHYENPHI năm 2022, được nghiệm thu theo biên
bản nghiệm thu ngày 25/6/2022 và căn cứ biên bản nghiệm thu thi công hệ thống
mạng camera ngày 25/6/2022. Xét thấy các hợp đồng đều được nghiệm thu
trong năm 2022 nhưng đến nay phía Công ty T2 chưa thánh toán nợ cho Tổng
công ty C là có vi phạm thoả thuận. Các bên có lập các biên bản làm việc vào các
ngày 12/6/2022, ngày 14/9/2022 ngày 13/11/2022. Theo đó biên bản làm việc
vào ngày 13/11/2022 ý kiến bên Công ty T2 cam kết thanh toán 50% số tiền còn
lại trước ngày 28/11/2022 thanh toán toàn bộ số tiền còn lại trước ngày
20/12/2022. Tuy nhiên đơn kháng cáo ngày 08/11/2024, ông T1 cho rằng các bên
cùng thống nhất Công ty T2 trả hết nợ trong vòng 12 tháng là đến ngày 13/11/2023
sau 12 tháng không trả dứt nợ còn lại sẽ được phát sinh tính thêm lãi nhưng
ông bị sự cố và bị bắt tạm giam để điều tra trong vụ án hình sự là ngày 29/9/2023
nên việc thanh toán tiền cho V không xử được không căn cứ chấp nhận.
Bởi ltheo như cam kết trong biên bản làm việc vào ngày 13/11/2022 thì Công ty
T2 cam kết thanh toán toàn bộ số tiền còn lại trước ngày 20/12/2022, không
nội dung nào các bên thỏa thuận thống nhất Công ty T2 trả hết nợ trong vòng 12
tháng đến ngày 13/11/2023 như ông T1 đã trình bày trong đơn kháng cáo, trong
khi ông T1 xác định đến ngày 29/9/2023 ông mới bị bắt tạm giam nên thời điểm
này đã sau thời hạn cam kết thanh toán toàn bộ số tiền còn lại trước ngày
20/12/2022 như biên bản làm việc vào ngày 13/11/2022 và không rơi vào trường
hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan như ông trình bày. Mặt khác tại biên bản
làm việc ngày 12/6/2022 ngày 14/9/2022 cũng không nội dung các bên cũng
thống nhất Công ty T2 trả hết nợ trong vòng 12 tháng là đến ngày 13/11/2023 và
tại biên bản ghi lời khai ngày 08/5/2024 ông T1 cũng thống nhất Công ty T2 đồng
ý thanh toán số tiền lãi theo nyêu cầu của Tổng công ty C. Đồng thời số tiền
lãi phạt chậm thanh toán 141.601.544 đồng tương ứng 8% số tiền nợ chậm
thanh toán là phù hợp với Điều 301 Luật Thương Mại nên cấp thẩm chấp nhận
yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ. Đối với án phí kinh doanh thương mại
thẩm, do căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như
đã phân tích nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí là phù
hợp.
[4] Bị đơn cũng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là căn cứ từ những phân tích nêu
8
trên, không căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; căn cứ chấp
nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 10 tháng
6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
[5] Án phí kinh doanh thương mại:
- Án phí thẩm: Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải chịu
69.348.500 đồng.
- Án phí phúc thẩm: Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải chịu
2.000.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 5; khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35; khoản 2;
khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 24; khoản 1 khoản 2 Điều 50; Điều 301; Điều 306 của
Luật Thương mại năm 2005;
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2.
Giữ nguyên bản án 01/2024/KDTM-ST ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty cổ phần C đối
với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 về việc Chi nhánh Công trình Viettel được
quyền yêu cầu được thu hồi toàn bộ sản phẩm hàng hóa, vật tư, thiết bị mà phía
chi nhánh đã cung cấp và thi công cho ng ty T2 trong trường hợp Công ty T2
không thanh toán nợ.
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty cổ phần C đối
với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán, thi
công và lắp đặt.
9
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 Yến Phi có trách nhiệm thanh toán
cho Tổng Công ty cphần C tổng số tiền 1.911.620.844 đồng (Một tỷ, chín
trăm mười một triệu, sáu trăm hai mươi ngàn, tám trăm bốn mươi bốn đồng),
trong đó nợ gốc 1.770.019.300 đồng tiền phạt vi phạm là 141.601.544 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người
phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương
ứng với thời gian chậm trả.
3. Về án phí kinh doanh thương mại:
3.1 Án phí thẩm: Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải chịu
69.348.500 đồng.
Tổng Công ty cổ phần C không phải chịu án phí. Tổng Công ty cổ phần C
đã nộp tạm ứng án phí số tiền 32.550.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002428
ngày 01/3/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bạc Liêu được hoàn lại
toàn bộ.
3.2 Án phí phúc thẩm: Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải chịu
2.000.000đ. Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 đã nộp tạm ứng án phí số tiền
2.000.000đ theo biên lai số 0000045 ngày 10/02/2025 tại Chi cục Thi hành án
Dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí
4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND tỉnh Bạc Liêu;
- TAND thành phố Bạc Liêu;
- CCTHADS thành phố Bạc Liêu;
- Đương sự;
- Lưu, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lệ Kiều
10
Tải về
Bản án số 02/2025/KDTM-PT Bản án số 02/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2025/KDTM-PT Bản án số 02/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất