Bản án số 07/2025/KDTM-ST ngày 24/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 07/2025/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 07/2025/KDTM-ST ngày 24/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 07/2025/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/07/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” của nguyên đơn Công ty TNHH N (Việt Nam) với bị đơn Công ty TNHH N1.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 07/2025/KDTM-ST
Ngày: 24-7-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hải Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư Tòa án nhân dân Khu vực
16 Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số:
33/2025/TLST-KDTM ngày 11/4/2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hoá”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6
năm 2025 Quyết định hoãn phiên toà số: 29/2025/QĐST-KDTM ngày 24 tháng 6
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH N (Việt Nam); Địa chỉ: Khu công nghiệp N, thị
trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai nay là xã N, tỉnh Đồng Nai;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Đình T, sinh năm 1990;
Địa chỉ liên hệ: Số D đường C, khu dân V, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ
Chí Minh nay phường H, Thành phố Hồ Chí Minh ( đại diện ủy quyền theo văn
bản ủy quyền ngày 25/3/2025). Ông T có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH N1; Địa chỉ: T đất số 370-373, tờ bản đồ số 10, khu
phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nay phường D, Thành phố Hồ C
Minh;
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Trần Việt H Giám đốc. Ông H
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 27 tháng 3 năm 2025, trong quá trình tham gia tố
tụng và tại phiên tòa nguyên đơn do ông Phan Đình T đại diện trình bày:
2
Ngày 22 tháng 11 năm 2019, Công ty TNHH N (Việt Nam) Công ty TNHH
N1 có ký kết Hợp đồng mua bán số PC12019112201.
Nội dung bản của Hợp Đồng quy định như sau: Công ty TNHH N (Việt Nam)
bán cho Công ty TNHH N1 sản phẩm: Chủ yếu bao gồm tất cả các hạng mục của dòng
sơn kiến trúc, sơn công nghiệp, sơn kết cấu các hạng mục khác của ngành sơn.
Phương thức đặt hàng: Đặt hàng từng lần qua fax, email, …. Phương thức thanh toán:
Công ty TNHH N1 sẽ thanh toán công nợ trong vòng 30 ngày (tính theo ngày trên hóa
đơn giá trị gia tăng). Chậm thanh toán: Áp dụng lãi suất quá hạn do Ngân hàng C công
bố tại thời điểm thanh toán. Thời hạn hợp đồng: Từ ngày 22/11/2019 đến hết ngày
22/11/2020 và tự động gia hạn thêm 01 năm.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH N (Việt Nam) đã hoàn tất
nghĩa vụ giao hàng đối với tất cả các đơn đặt hàng của Công ty TNHH N1. Đến ngày
02/11/2021, các bên tiến hành tổng kết công nợ và xác lập “Biên bản xác nhận công nợ
và thời gian thanh toán” với nội dung chính như sau:
1. Ngày 12/11/2020 tổng số tiền công nợ là 61.650.000 đồng.
2. Từ 28/11-25/12/2020 (Công nợ tháng 12) tổng số tiền công nợ là 68.200.000
đồng.
3. Tháng 2 năm 2021 tổng số tiền công nợ là 28.380.000 đồng.
4. Tháng 3 năm 2021 tổng số tiền công nợ là 49.060.000 đồng.
Tổng là 207.290.000 đồng (hai trăm lẻ bảy triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).
Thời gian thanh toán:
+ Đợt 1: Số tiền 61.650.000 đồng, thanh toán vào ngày 20/11/2021;
+ Đợt 2: Số tiền 68.200.000 đồng, thanh toán vào ngày 20/12/2021;
+ Đợt 3: Số tiền 77.440.000 đồng, thanh toán vào ngày 25/01/2022.
Sau đó, phía Công ty TNHH N1 đã thanh toán đợt 1 và đợt 2 cho Công ty TNHH
N (Việt Nam). Tuy nhiên, kể từ ngày 25/01/2022 đến nay, Công ty TNHH N1 không
thanh toán cho Công ty TNHH N (Việt Nam) số tiền đợt 3 là 77.440.000 đồng, mặc dù
Công ty TNHH N (Việt Nam) đã nhiều lần yêu cầu thanh toán.
Hành vi của Công ty TNHH N1 đã vi phạm quy định tại Điều 50 Luật Thương
mại, đồng thời vi phạm nghiêm trọng hợp đồng thoả thuận của các bên, gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH N (Việt Nam).
Nay nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc bị đơn Công ty TNHH N1
thanh toán cho nguyên đơn Công ty TNHH N (Việt Nam), như sau:
+ Toàn bộ số công nợ gốc còn thiếu là 77.440.000 đồng;
+ Số tiền lãi chậm thanh toán với mức i suất 13,5%/năm (là mức lãi suất nợ
quá hạn đối với khoản vay doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại cổ phần C công
bố) trên giá trị chậm thanh toán cho những ngày chậm thanh toán (tính từ ngày
26/01/2022 đến ngày 24/07/2025), cụ thể là: 77.440.000 x 1.275 (ngày) x (13,5%/365)
= 36.532.320 đồng.
Tổng cộng là: 113.972.320 đồng (Một trăm mười ba triệu chín trăm bảy mươi hai
nghìn ba trăm hai mươi đồng),
3
Ngoài ra, nguyên đơn Công ty TNHH N (Việt Nam) không có yêu cầu gì khác.
* Đối với bị đơn Công ty TNHH N1:
Quá trình tiến nh tố tụng, Tòa án nhân dân thành phố An nay Toà án
nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ CMinh đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố
tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để đại diện hợp pháp của bị đơn Công
ty TNHH N1 tham gia giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không do. Đồng
thời, a án đã u cầu Công ty TNHH N1 có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng Công ty TNHH N1 không ý kiến cũng
như không cung cấp i liệu, chứng cứ về quá trình mua hàng hóa, việc trả tiền gốc
lãi cho nguyên đơn ng ty TNHH N (Việt Nam). Do đó, Tòa án không thu thập được
ý kiến của bị đơn Công ty TNHH N1.
* Tại văn bản số 406/ĐKKD ngày 16/4/2025 Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Tài
chính tỉnh B cung cấp thông tin: Công ty TNHH N1, số doanh nghiệp C1; đăng
lần đầu ngày 27/01/2016, đăng thay đổi lần thứ 5 ngày 21/3/2022; địa chỉ trụ sở
chính: Thửa đất số 370-373, tờ bản đồ số 10, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh
Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: (Ông) Trần Việt H, Chứng minh nhân dân
186691231, ngày cấp 20/05/2016, do Công an tỉnh N cấp; Địa chỉ thường trú: Số A,
khối E, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ liên lạc: 1 khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương; Chức danh: Giám đốc.
Đến nay, Công ty TNHH N1 chưa đăng thay đổi nội dung hay giải thể doanh
nghiệp.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong
quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật
quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng,
đã thực hiện các quyền nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn đã được triệp tập hợp lệ
nhưng vắng mặt không do, không chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Không kiến
nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án “Tranh chấp
hợp đồng mua bán hàng hóa”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử
xem xét thẩm tra công khai tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn Công ty TNHH N (Việt Nam) là có căn cứ chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn Công ty TNHH N (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bị đơn Công
ty TNHH N1 thanh toán khoản nợ gốc lãi về việc mua hàng hoá theo Hợp đồng
mua bán số PC12019112201 ngày 22/11/2019 giữa hai công ty. Do đó, quan hệ pháp
luật tranh chấp được xác định “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Bị đơn
Công ty TNHH N1 địa chỉ trụ sở chính là: Thửa đất số 370-373, tờ bản đồ số 10,
khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nay là phường D, Thành phố Hồ
4
Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền thlý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nay Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phHồ Chí
Minh theo quy định tại các Điều 30, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa thẩm, đại diện hợp pháp của bị đơn đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 24/6/2025 ngày 24/7/2025 nhưng đều
vắng mặt không do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thông báo các
văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty TNHH N1; đồng thời đã triệu tập hợp lệ đại diện
bị đơn tham gia các buổi làm việc, phiên họp, phiên tòa nhưng đều vắng mặt không
do; không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ; không cung cấp văn bản nêu ý kiến
đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. vậy, bị đơn phải chịu hậu quả của việc
không cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 91, 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc
giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cở chứng cứ do
nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp sở
xác định: Ngày 22/11/2019, Công ty TNHH N (Việt Nam) Công ty TNHH N1
ký kết Hợp đồng mua bán số PC12019112201. Theo đó, Công ty TNHH N (Việt Nam)
bán cho Công ty TNHH N1. Sản phẩm: Chủ yếu bao gồm tất cả các hạng mục của
dòng sơn kiến trúc, sơn công nghiệp, sơn kết cấu và các hạng mục khác của ngành sơn.
Phương thức đặt hàng: Đặt hàng từng lần qua fax, email, …. Phương thức thanh toán:
Công ty TNHH N1 sẽ thanh toán công nợ trong vòng 30 ngày (tính theo ngày trên hóa
đơn giá trị gia tăng). Chậm thanh toán: Áp dụng lãi suất quá hạn do Ngân hàng C công
bố tại thời điểm thanh toán. Thời hạn hợp đồng: Từ ngày 22/11/2019 đến hết ngày
22/11/2020 và tự động gia hạn thêm 01 năm.
Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH N (Việt Nam) Công ty
TNHH N1 tự nguyện, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức hội nên
hiệu lực bắt buộc và các bên phải thực hiện.
[3] Về nợ gốc: Ngày 02/11/2021, Công ty TNHH N (Việt Nam) Công ty
TNHH N1 đã tiến hành tổng kết công nợ xác lập “Biên bản xác nhận công nợ
thời gian thanh toán” với nội dung như sau:
Chi tiết công nợ:
1. Ngày 12/11/2020 tổng số tiền công nợ là 61.650.000 đồng.
2. Từ 28/11-25/12/2020 (Công nợ tháng 12) tổng số tiền công nợ là 68.200.000
đồng.
3. Tháng 2 năm 2021 tổng số tiền công nợ là 28.380.000 đồng.
4. Tháng 3 năm 2021 tổng số tiền công nợ là 49.060.000 đồng.
Chi tiết Thời gian thanh toán:
+ Đợt 1: Số tiền 61.650.000 đồng, thanh toán vào ngày 20/11/2021;
+ Đợt 2: Số tiền 68.200.000 đồng, thanh toán vào ngày 20/12/2021;
+ Đợt 3: Số tiền 77.440.000 đồng, thanh toán vào ngày 25/01/2022.
5
Nguyên đơn xác định bị đơn đã thanh toán đợt 1 đợt 2. Tuy nhiên, kể từ ngày
25/01/2022 đến nay bị đơn không thanh toán số tiền đợt 3 77.440.000 đồng, mặc
Công ty TNHH N (Việt Nam) đã nhiều lần yêu cầu thanh toán.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoản 1, 2 Điều 50 Luật Thương mại năm 2005 sửa
đổi, bổ sung năm 2017, 2019 quy định:
“1. Bên mua nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng nhận hàng theo thỏa
thuận.
2. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán
theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật”.
Khoản 1 Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả tiền: Bên
mua nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm mức tiền được quy định
trong hợp đồng…”.
Bị đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh đã thanh toán khoản nợ đợt
3 cho nguyên đơn. Đồng thời, số tiền gốc nguyên đơn yêu cầu phù hợp với Biên bản
xác nhận công nợ thời hạn thanh toán ngày 02/11/2021. Do bị đơn vi phạm nghĩa
vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc còn lại đợt 3 là:
77.440.000 đồng đồng sở chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 440 Bộ
luật Dân sự 2015; Điều 50, 55 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
2019;
[5] Về tiền lãi chậm thanh toán:
Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019 quy
định: Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh
toán thù lao dịch vụ các chi phí hợp khác thì bên bị vi phạm hợp đồng quyền
yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên
thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp
có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Tại mục 2 Điều V của Hợp đồng mua bán số PC12019112201 ngày 22/11/2019
giữa Công ty TNHH N (Việt Nam) Công ty TNHH N1 hai bên thoả thuận: “Nếu
bên B (Công ty TNHH N1) không thanh toán đúng hạn, Bên B (Công ty TNHH N1)
phải chịu trách nhiệm trả cho bên A (Công ty TNHH N (Việt Nam)) khoản tiền lãi phát
sinh tính trên giá trị quá hạn thanh toán tương ứng với thời gian chậm thanh toán (lãi
suất quá hạn do Ngân hàng C ng bố tại thời điểm thanh toán)”
Thoả thuận về việc trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ của hai công ty phù hợp
với quy định của pháp luật nên yêu cầu của nguyên đơn về tiền lãi là có căn cứ.
Về mức lãi suất: Tại Văn bản số 63/CV-CNKCNBD-TH ngày 03/6/2025 của
Ngân ng Thương mại cổ phần C cung cấp mức lãi suất cho vay vay ngắn hạn như
sau: Cho vay sản xuất, kinh doanh thông thường/Bao thanh toán/Chiết khấu đến 06
tháng lãi suất 9.0%/năm, trên 06 tháng đến 12 tháng lãi suất 9.5%/năm; Cho vay
kinh doanh bất động sản, chứng khoán; cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán lãi
suất 11%/năm, cho vay tiêu dùng thông thường lãi suất 10%/năm, cho vay dự án
BOT, BT, BTO lãi suất 10%/năm. Cho vay trung, dài hạn như sau: Cho vay sản
xuất, kinh doanh thông thường/Bao thanh toán/Chiết khấu khách hàng hạng AA trở lên
lãi suất 12%/năm, khách hàng còn lại lãi suất là 12,5%/năm, cho vay kinh doanh bất
động sản lãi suất 14%/năm, cho vay tiêu dùng thông thường lãi suất 11%/năm,
6
cho vay dự án BOT, BT, BTO lãi suất 10,5%/năm. Trường hợp phát sinh quá hạn,
lãi suất quá hạn được tính bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Như vậy, mức lãi
suất quá hạn trung bình của Ngân hàng Thương mại cổ phần C tại thời điểm xét xử
thẩm là: 16,425%/năm. Do đó, nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất 13.5%/năm thấp
hơn mức lãi suất quá hạn trung bình của Ngân hàng Thương mại cổ phần C tại thời
điểm thanh toán là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về thời điểm tính lãi suất: Khoản 1 Điều 55 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi,
bổ sung năm 2017, 2019 quy định về Thời hạn thanh toán như sau:
“Trừ trường hợp thoả thuận khác, thời hạn thanh toán được quy định như
sau:
1. Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc
giao chứng từ liên quan đến hàng hoá”;
Tại Biên bản xác nhận công nợ thời gian thanh toán ngày 02/11/2021 Công ty
TNHH N (Việt Nam) Công ty TNHH N1 đã thoả thuận thanh toán số tiền đợt 3
77.440.000 đồng vào ngày 25/01/2022.
Như vậy, sau ngày 25/01/2022 bị đơn không thanh toán thì phải chịu lãi theo
thoả thuận. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn vtiền lãi căn cứ chấp nhận, cụ thể:
77.440.000 đồng x 13,5%/năm (tính từ ngày 26/01/2022 đến ngày xét xử 24/7/2025) =
36.532.320 đồng (ba mươi sáu triệu năm trăm ba mươi hai nghìn ba trăm hai ơi
đồng).
Nguyên đơn bị đơn thỏa thuận về việc trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ với
mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng Thương mại cổ phần C công bố tại thời điểm thanh
toán. Nên căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì kể từ ngày tiếp theo
của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH N1 còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn của Ngân
hàng Thương mại cổ phần C.
Từ các phân tích trên nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty
TNHH N (Việt Nam) là có cơ sở chấp nhận.
[5] Ý kiến của đại din Vin kim sát v nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá
trình tiến hành t tng cũng như diễn biến ti phiên tòa phù hợp quy định của pháp
luật.
[6] Án phí kinh doanh thương mại thẩm: Bị đơn Công ty TNHH N1 phải chịu
án phí đối với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 50, 55, 306 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
2019;
7
Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa” của nguyên đơn Công ty TNHH N (Việt Nam) với bị đơn Công ty TNHH N1.
Buộc ng ty TNHH N1 phải thanh toán cho Công ty TNHH N (Việt Nam) số
tiền mua hàng hóa còn nợ tính đến ngày 24/7/2025 113.972.320 đồng (Một trăm
mười ba triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm hai mươi đồng), bao gồm:
+ Nợ gốc: 77.440.000 đồng (bảy mươi bảy triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
+ Tiền lãi chậm thanh toán: 36.532.320 đồng (ba mươi sáu triệu năm trăm ba
mươi hai nghìn ba trăm hai mươi đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quá hạn do Ngân hàng Thương mại cổ phần C công bố tại thời điểm thanh toán
tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.
2. Về án phí kinh doanh thương mại thẩm: Bị đơn Công ty TNHH N1 phải
chịu 5.698.616 đồng (năm triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn u trăm mười sáu
đồng).
Hoàn trả cho Công ty TNHH N (Việt Nam) số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu
đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008048 ngày 09 tháng 4 năm
2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng o: Nguyên đơn mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự; người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi nh án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T
Trần Hải Nam
Tải về
Bản án số 07/2025/KDTM-ST Bản án số 07/2025/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 07/2025/KDTM-ST Bản án số 07/2025/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất