Bản án số 97/2026/DS-PT ngày 15/07/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 97/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 97/2026/DS-PT ngày 15/07/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 97/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Doãn Đình Toàn - Roãn Đình Kim
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 97/2026/DS-PT
Ngày 15-7-2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất,
chuyển đổi và chia thừa kế quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng
Các Thm phán: Ông Nguyễn Quốc Trưởng
Ông Trần Văn San
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Bích Diệp bà Phạm Thị Minh Hằng-
Thư k Tòa án nhân dân tnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà:
Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 m 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tnh Ninh Bình t
xử phc thẩm công khai vụ án thụ l số 34/2026/TLPT-DS ngày 02-6-2026 về
“Tranh chấp quyền sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất, chia thừa kế
quyền sử dụng đất”.
Do bn án dân sự thẩm số 114/2026/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2026/QĐ-PT ngày 22 tháng 6
năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Doãn Đình T, sinh năm 1955; i thường tr: Thôn S,
xã G, tnh Ninh Bình;
Người đại diện theo y quyền của ông Doãn Đình T n phòng Luật
Phương L. Người đại diện theo pháp luật là bà Vũ Thị Phương L, sinh năm 1977
- Luật thuộc Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư thành phố H; Địa ch: P, Tòa nhà
C, khu đô thị X, phường H, thành phố Hà Nội;
- Bị đơn: Ông Roãn Đình K (tên gọi khác Doãn Đình K1), sinh năm 1950;
Nơi thường tr: Thôn S, xã G, tnh Ninh Bình;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị R, sinh năm 1949;
2. Chị Trần Thị C, sinh năm 1976;
Cùng nơi thường tr: Thôn Đ, xã G, tnh Ninh Bình;
2
3. Chị Doãn Thị N, sinh năm 1980; Nơi thường tr; Thôn B, G, tnh
Ninh Bình;
Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị C, chị Doãn Thị N: Trần
Thị R, sinh năm 1949;
4. Bà Bùi Thị M, sinh năm 1959;
5. Anh Doãn Văn C1, sinh năm 1988;
Cùng nơi thường tr: Thôn S, xã G, tnh Ninh Bình;
Người đại diện theo y quyền của Bùi Thị M, anh Doãn Văn C1 là Văn
phòng Luật sư Phương L. Người đại diện theo pháp luật là Vũ Thị Phương L,
sinh năm 1977 - Luật sư thuộc Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư thành phố H; Địa
ch: P, Tòa nhà C, khu đô thị X, phường H, thành phố Hà Nội;
6. Nguyễn Thị K2, sinh năm 1951; Nơi thường tr: Thôn S, G, tnh
Ninh Bình;
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị K2: Ông Roãn Đình K
(tên gọi khác Doãn Đình K1), sinh năm 1950; Nơi thường tr: Thôn S, G,
tnh Ninh Bình;
- Người kháng cáo: Ông Doãn Đình T là nguyên đơn trong vụ án;
Tại phiên toà phc thm: mặt ông Doãn Đình T, Vũ Thị Phương L,
ông Roãn Đình K, bà Trần Thị R, chị Trần Thị C, Bùi Thị M, anh Doãn Văn
C1. Vắng mặt chị Doãn Thị N, bà Nguyễn Thị K2.
NỘI DUNG VỤÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 10 năm 2024 các tài liệu khác
trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Doãn Đình T trình bày:
Ông Doãn Đình T và vợ là bà Bùi Thị M có diện tích đất 1.380m
2
tại thửa
đất số 216, tờ bản đồ số 4 tại xóm S, xã G, tnh Ninh Bình theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số M 202548 do UBND huyện G, tnh Nam Định cấp 05
tháng 12 năm 1997. Nguồn gốc thửa đất trên do bố mông để lại cho ông từ
trước năm 1995, thửa đất đứng tên ông T trên bản đồ địa chính năm 1995.
Bố mẹ ông cụ Doãn Đình T1 chết m 1992 cụ Đoàn Thị T2 chết
năm 1989 06 người con gồm: Doãn Thị V (chết năm 2017); ông Doãn
Văn T3 (chết năm 2003, khi n sống bị tàn tật, câm điếc); ông Doãn Đình T4
(chết năm 2013); ông Roãn Đình K, Doãn Thị H và ông Doãn Đình T.
Ông Doãn Văn T3 (chết năm 2003) vợ tên bà Trần Thị R 02
người con gái là Trần Thị C Doãn Thị N. Ông T3 R cưới nhau khoảng
năm 1972, sống với nhau được khoảng 10 năm thì R bế con bỏ về nhà bố mẹ
đẻ ở; hồi đó do hai bên tàn tật vsống với nhau nên không cưới xin, đăng k
kết hôn. Sau khi bà R bỏ về ông T3 ở cùng bố mẹ và ông T, khi các cụ chết thì ở
với ông T đến năm 1999 thì về nhà ông K ở và ông K nuôi dưỡng đến khi chết.
Trước năm 2000, ông Roãn Đình K xây quây khoảng 400m
2
đất vườn
(kích thước ngang 15m, dài 26m) nằm trên thửa đất của ông vào phần đất của
3
nhà ông K (thửa đất bên cạnh). Lc đó ông K lấy l do là lấy phần đất trồng cấy
để đảm bảo cuộc sống cho ông T3. Khi ông T3 chết ông K vẫn tiếp tục sử dụng
đến nay cho rằng đấy đất của ông T3 nên ông K được hưởng. Đến năm
2018, ông K đòi sang tên phần đất đó cho ông K, ông T không đồng . Ông đề
nghị Toà án buộc ông K phải trả cho ông 400m
2
đất đã lấn chiếm trên.
Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 1996 ông đi
khai theo thủ tục cấp lần đầu đến năm 1997 thì được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; các hộ thời điểm đó đều thế và không theo thủ tục thừa kế gì.
Đất cấp cho hộ gia đình ông T cấp cho ông Doãn Đình T Bùi Thị M;
các con ông khi đó còn nhỏ không quyền sử dụng đất. Ch riêng anh Doãn
Văn C1 con trai ông hiện đang sống cùng ông làm cửa hàng bán hàng trên
một phần của vợ chồng ông và một phần đất đổi cho ông K.
Đối với yêu cầu độc lập của Trần Thị R, chị Doãn Thị C2 và chị Trần
Thị N1 đối với 210m
2
đất mang tên “Thính” theo bản đồ năm 1986, ông T
không chấp nhận đất này bố mông cho ông T3 để ở, R các con đã bỏ
đi từ lâu, ông T3 được ông T bố mnuôi dưỡng, đến khi gần chết thì với
ông K. Ông T người nuôi dưỡng trực tiếp lc đó nên phần đất đó đã nằm
trong thửa đất hiện tại mang tên ông hiện nay ông K đang xây quây sử
dụng trái phép. Diện tích đất này nằm trong thửa đất 216 mà gia đình ông T đã
được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đề nghị Toà án không chấp nhận
yêu cầu của bà R, chị C2, chị N1.
Tại phiên toà thẩm: Đại diện theo uỷ quyền cho ông Doãn Đình T giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện xác định diện tích đất tranh chấp 409,1m
2
theo kết quả
đo đạc đất thuộc thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận cho hộ ông Doãn Đình T
thuộc quyền sdụng của ông Doãn Đình T và vợ Bùi Thị M. Xác định
diện tích đất 80m
2
tại thửa 216 nằm trong diện tích đất 409,1m
2
tranh chấp trước
đây, ông T đã chuyển đổi cho diện tích 80m
2
đứng tên ông K tại thửa 214; trước
đây việc đổi trên thực tế Biên bản về việc đổi đất năm 2019 (nguyên
đơn không quan điểm về việc đổi đất này). Xác định diện tích đất 210m
2
đất
bà Trần Thị R, chị Doãn Thị C2 chị Trần Thị N1 yêu cầu quyền thừa kế
do thuộc đất ông K đã chuyển vào làm lối đi và một phần ông K đang sử dụng.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Thị M, anh Doãn Văn
C1: Thống nhất với quan điểm của ông Doãn Đình T.
* Bị đơn ông Roãn Đình K trình bày: Ông nhất trí với trình bày của
nguyên đơn về nguồn gốc đất của bố mẹ ông và quan hệ gia đình.
Ông và bà Nguyễn Thị K2 có thửa đất số 217 tờ bản đồ số 4 tại xóm S, xã
G, tnh Ninh Bình; nguồn gốc thửa đất của ông của bố mẹ ông tặng cho từ
trước năm 1986 (Theo bản đồ năm 1986 thửa đất 154). Bố mẹ ông hai cụ
T1 sdụng tổng diện tích 1377m
2
. Trước khi hai cụ T1 chết thì ông T sử dụng
phần đất hiện nay ông T sử dụng. Phần đất tranh chấp hiện nay ông đang sử
dụng, trước đây của bố mẹ ông chưa cắt chia cho ai trước khi chết
210m
2
mang tên ông T3. Sau đó, ông T đã t đăng k chuyển đổi tất cả phần
đất của bố ông cho ông T, phần đất ông sử dụng cho hộ ông T. Trước đây khi
còn sống bố mẹ ông có dặn các con là ai sinh sống cùng sẽ được sử dụng khoảng
4
300m
2
đất vườn. Ông T cùng bố mẹ, mẹ ông mất năm 1989, đến khoảng năm
1991 do bố ông với ông T không hợp nhau nên về nhà ông K ở, đến năm 1992
thì bố ông chết. Sau đó ông quản l phần đất vườn này. Ngoài ra trên thửa đất bố
mẹ ông còn cắt đất cho ông T3 210m
2
và đã ghi trên bản đồ năm 1986. Mặc
trên bản đồ không giáp đất của ông nhưng khi hai cụ T1 còn sống, ông đi
ngõ N về phía bắc phần đất đứng tên ông T3 vậy một phần đất ông T3 đã
được chuyển thành lối đi vào nhà ông. Ông đổi ngõ trước năm 1986, bố mông
nhất trí. Ông T3 R sống với nhau được khoảng vài năm thì bà R bế con bỏ về
nhà bố mẹ đẻ ở; khi còn khoẻ ông T3 cùng bố mông T; khi ông T3 bệnh
nặng thì về nhà ông K do ông K chăm sóc đến khi chết lo ma chay an
táng.
Đầu năm 1999 gia đình và dòng tộc đã họp, trong đó có ông và ông T, các
thành phần đã thống nhất về phần đất của ông T3 210m
2
cũng như phần đất của
cụ T1 100m
2
ông được quyền sử dụng. Phần đất của các cụ sau khi chết được để
trồng trọt nuôi ông T3. Khi đó ông T xin 200m
2
tphần đất của bố mẹ còn ông
K được hưởng 100m
2
từ phần đất của bố mẹ 210m
2
phần đất của ông T3.
Biên bản họp gia đình ngày 30-01 năm KMão Biên bản làm việc ngày 18-
5- 1999 có sơ đồ phân chia đất kèm theo đều có xác nhận của chính quyền là Ủy
ban nhân dân xã H, huyện G. Lc đó đã xác định ông T ch có diện tích đất tổng
thể là 1006m
2
, còn lại là của ông K. Việc chia toàn bộ đất của ông T3 cho ông K
và 100m
2
đất vườn của cụ T1 là để ông K nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng ông
T3. Ông sinh sống thửa đất liền kvới đất tranh chấp; thửa đất của ông được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 với diện tích 1120m
2
; theo
bản đồ năm 1986 990m
2
; diện tích đất tăng lên do ông mua thêm lấn
sang các phần đất ruộng xung quanh. Thửa đất của ông T thực chất thửa đất
của bố mẹ, ông T đã đó đã tự đi khai cả phần đất của bố mẹ phần
đất của ông T3 vào chung 01 thửa 216. Ngoài ra, có 02 thửa đất phía giáp đường
bố mẹ ông cho ông K để kinh doanh buôn bán, được khai đứng tên ông
theo Bản đồ địa chính năm 1995; Thửa số 215, diện tích 25m
2
thửa số 214
diện tích 80m
2
được cấp chung vào Giấy chứng nhận đứng tên vợ chồng ông
(K).
Đối với thửa đất số 214 diện tích đất 80m
2
; năm 2019, ông và ông T đã có
thoả thuận với nhau, ông T được quyền sdụng thửa đất này chuyển đổi với
80m
2
phần đất vườn ông T sử dụng của bố mẹ ông liền với thửa đất 25m
2
.
Hai bên đã lập Biên bản vào ngày 08- 5- 2019, xác nhận của chính quyền
Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tnh Nam Định.
Sau năm 1999 khi gia đình thoả thuận ông đã xây tường bao phần đất
310m
2
. Liền kề phần đất này phần đất chuyển đổi 80m
2
thửa đất 25m
2
ông
xây quây lại sau khi chuyển đổi. thế hiện nay trong Giấy chứng nhận đất cấp
cho ông T có cả phần đất mà ông K đang sử dụng.
vậy, ông không đồng với yêu cầu khởi kiện đòi đất của ông T. Đối
với yêu cầu của Trần Thị R, chị Trần Thị C và chị Doãn Thị N, ông chấp
nhận để những người này yêu cầu nhận 1/2 di sản thừa kế của ông T3 nhưng ông
ch giao bằng gtrị. Trước đây ông đnghị Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử
5
dụng đất cho hộ ông T, tuy nhiên sau đó ông đã đề nghị rt yêu cầu này thấy
không cần thiết và đính chính số liệu sổ đất hai nhà như hiện trạng và công nhận
việc chuyển đổi phần đất từ thửa 214 sang vị trí đất nằm thửa 216 giáp thửa
215 như các bên đã thoả thuận và đề nghị chuyển đổi đng loại đất là đất ở. Ông
đề nghị Toà án công nhận 409,1m
2
đất nằm tại thửa 216 bao gồm phần đất đổi
80m
2
, phần đất 329,1m
2
của ông T3 và của bố mẹ ông được gia đình giao lại cho
ông cùng vợ là Nguyễn Thị K2 được quyền sử dụng.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị K2: Thống nhất
với quan điểm của ông Roãn Đình K.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (có yêu cầu độc lập), bà Trần Thị
R trình bày: Bà và ông T3 có lấy nhau khoảng năm 1972, hai gia đình có tổ chức
tại nhà rồi dẫn về sinh sống. ông T3 02 người con Trần Thị C, sinh
năm 1976 Doãn Thị N, sinh năm 1979. ông T3 sinh sống với nhau
khoảng năm 1982 rồi bà bế con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống để làm lụng nuôi các
con, bố mẹ hỗ trợ nuôi con. Ông T3 vẫn lại nhà cũ, thi thoảng sang nhà
ngoại làm nuôi con, có công việc gì bà vẫn đi lại về nhà nội. Sau khi cưới bố mẹ
đẻ ông T3 có cho ngôi nhà đất trên diện tích 210m
2
. Ông T3 vẫn sử dụng đến lc
chết, ngồi nhà lụp xụp, không còn giá trị đã được dỡ bỏ. Khi ngôi nhà của
ông T3 hỏng dột thì ông T3 về nhà ở nhà của cụ T1, ông T cũng ở cùng. Và ông
T chăm sóc lc ốm đau; đến 4 năm trước khi chết thì ông T3 với ông K do
ông K chăm sóc. Mẹ con không lại chăm sóc ông T3 được do bản thân
bị tàn tật, các con khó khăn. Khi ông T3 chết, ông K người đứng lên chủ trì
việc ma chay, họ hàng anh em cùng hỗ trợ, mẹ con bà có về chịu tang, đóng góp
để lo công việc cho ông T3. Bà đã nhiều lần  kiến về việc mẹ con bà xin hưởng
thửa đất mà trước đây bố mẹ ông T3 cho ông T3 đang do ông K quản l và đứng
trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông T, tuy nhiên không
được chấp nhận. Nay đnghị cho bà cùng chị Trần Thị C chị Doãn Thị N
được hưởng một nửa của phần 210m
2
của ông T3, phần nửa còn lại để cho ông
K do ông K có công chăm sóc ông T3 khi ốm đau và ma chay cho ông T3; bà đề
nghị nhận bằng hiện vật. Nếu không được nhận hiện vật thì đnghị Toà án
xem xét đến quyền lợi của bà và các con theo quy định pháp luật.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị C, chị Doãn Thị N:
Uỷ quyền cho bà Trần Thị R tham gia tố tụng và quyết định toàn bộ nội dung và
đồng  nhường tất cả phần di sản được hưởng từ ông T3 cho bà R.
* Kết quả thu thập chứng cứ tại xã G, tnh Ninh Bình: Theo bản đồ địa
chính H, huyện G, tnh Nam Định (nay G, tnh Ninh Bình) lập năm
1995, tại tờ bản đồ số 4, xóm S các thửa đất liên quan gồm: Thửa số 214 diện
tích 80m², loại đất ở; thửa số 215 diện tích 25m², loại đất ở; thửa số 216 diện
tích 1.380m², gồm 360m² đất ở, 465m² đất vườn, 295m² đất ao (tổng 1.120
m
2
); thửa số 217 diện tích 1.120m², gồm 360m² đất ở, 1.020m² đất vườn (tổng
1.380 m
2
. Trong đó, các thửa 214, 215, 217 mang tên Kim”, thửa 216 mang
tên T”. Các thửa đất nêu trên nguồn gốc từ các thửa 152, 153, 154 theo bản
đồ địa chính năm 1986; cụ thể, thửa 152 diện tích 210m² mang tên “Thính”,
thửa 153 diện tích 1.377m² mang tên “Thoa”, thửa 154 diện tích 990m² mang
6
tên “Kim”. Theo đối chiếu hồ địa chính, thửa 214 và thửa 215 năm 1995
nguồn gốc từ thửa 153 năm 1986; thửa 216 nguồn gốc từ các thửa 152, 153;
thửa 217 nguồn gốc từ các thửa 153, 154. Bản đồ địa chính năm 1986 không
thể hiện loại đất ở, đất ao, đất vườn; địa phương không nắm được cụ thể quá
trình biến động đất đai, do đến thời điểm lập bản đồ năm 1995 các hộ dân tự ch
mốc giới và kê khai đăng k đứng tên.
Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ ông Doãn Đình T
được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ ngày 05-12-1997 đối với thửa 216; hộ
ông Roãn Đình K được cấp GCNQSDĐ ngày 05-12-1997 đối với thửa 214
thửa 217. Riêng thửa 215 diện tích 25m² tuy mang tên “Kim” trên bản đồ năm
1995 nhưng không có trong hxin cấp giấy chứng nhận không được cấp
Giấy chứng nhận. Theo Quyết định s496/QĐ/UB của UBND huyện G, việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời điểm đó được thực hiện theo hình
thức cấp hàng loạt, trên cơ sở các hộ dân tự kê khai, đăng k, không theo thủ tục
tặng cho hoặc thừa kế. Căn cứ nguồn gốc thời điểm cấp giấy chứng nhận,
UBND G xác định thửa đất 216 được cấp cho "hộ" ông Doãn Đình T cấp
cho ông Doãn Đình T vợ là Bùi Thị M; các thửa đất 214 217 được cấp
cho "hộ" ông Roãn Đình K là cấp cho ông K và vợ là bà Nguyễn Thị K2.
Về hiện trạng sử dụng đất, ông Roãn Đình K và ông Doãn Đình T thỏa
thuận đổi 80m² đất từ thửa 214 sang vị trí thuộc thửa 216, giáp thửa 215; việc
chuyển đổi đã được UBND H lập biên bản xác nhận từ năm 2019. UBND
G xác nhận việc đổi đất giữa ông K ông T thật, đã được thực hiện trên
thực tế; sau khi hoán đổi, theo hồ địa chính, phần đất ông K sử dụng đất
vườn, phần đất ông T sử dụng là đất ở, nên đề nghị Tòa án công nhận việc
chuyển đổi này theo hiện trạng sử dụng biên bản xác nhận của UBND H.
Hiện nay, ông K đang quản l, sử dụng thửa 215, toàn bộ thửa 217, phần diện
tích khoảng 310m² thuộc thửa 216 phần đất tranh chấp đã được ông Kim Q
xây, sử dụng ổn định từ năm 1999 đến nay phần diện tích 80m² thuộc thửa
216 do đổi từ thửa 214. Ông T quản l, sử dụng phần diện tích còn lại của thửa
216 khoảng 1.070m² và phần diện tích 80m² thuộc thửa 214.
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17-01-2025, theo xác định
mốc giới thống nhất của đương sự: Diện tích đất tranh chấp thực tế 329,1m²;
nếu tính cả phần đất hoán đổi 80m
2
thì là 409,1m². Diện tích này hiện nằm trong
khuôn viên đất do ông K quản l nhưng thuộc phạm vi thửa 216 đứng tên ông T;
qua đối chiếu hsơ địa chính hiện trạng sử dụng, vị trí đất tranh chấp được
xác định là đất vườn.
Đối với phần đất liên quan đến ông Doãn Đình T5, bản đồ địa chính năm
1986 thể hiện thửa 152 diện tích 210m² đứng tên “Thính”, tuy nhiên đến bản đồ
năm 1995 thì thửa đất này không còn tồn tại độc lập. Theo hiện trạng tài liệu
địa chính, phần đất này một phần nằm trong diện tích tranh chấp do ông K quản
l nhưng thuộc thửa đất đứng tên ông T, một phần thuộc ngõ đi chung do
quản l; tuy nhiên không xác định được chính xác vị trí và diện tích cụ thể.
* Chi nhánh Văn phòng Đ và xác định: Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho hộ ông Roãn Đình K, ông Doãn Đình T thời điểm 1997 ch
7
đơn xin chia tách đất, đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và danh
sách đủ điều kiện cấp; Quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hàng
loạt không các tài liệu nào liên quan đến tặng cho hay thừa kế. Việc cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thời điểm đó cấp đại ttrên địa bàn
huyện và do các chủ hộ tự kê khai.
* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản đang tranh chấp: Xác
định trên các thửa đất hiện nay đều đất nổi, không xác định được vị trí đất ao,
vườn, đất ở. Các đương sự đã chuyển đổi phần đất thửa 214 sang vị trí giáp
thửa 215 và hiện nay ông K đã xây quây và sử dụng ổn định phần đất này, ông T
hiện nay ng đang sử dụng phần đất của thửa 214 ổn định đng như biên bản
chuyển đổi. Đối với phần đất ông K đang sử dụng 1121,4m
2
thuộc thửa
217, toàn bộ thửa 215 diện tích 25m
2
, 80m
2
đất của thửa 216 (đổi cho ông T
năm 2019) 329,1m
2
thuộc thửa 216 (là diện tích đất các bên đang tranh
chấp); ông T đang sử dụng 1022,1m
2
của thửa 216 toàn bộ 80m
2
của thửa
đất 214; giữa các diện tích hai hộ đang sử dụng đều tường ngăn xây kiên cố;
phần đất các bên đang tranh chấp hiện nay đất vườn do ông K quản l sử
dụng, trên đất không có công trình, cây cối nào có giá trị.
Ngày 24- 3- 2026, Hội đồng định giá đã định giá đất tại thửa đất trên đối
với giá đất ở là 7.200.000 đồng/m
2
; giá đất vườn là 2.400.000 đồng/m
2
.
* Tại bản án dân sự thẩm số 114/2026/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 Ninh Bình. Căn cứ vào các điều 26, 31,
236 Luật Đất đai năm 2024; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Doãn
Đình T về việc buộc ông Roãn Đình K trả lại diện tích đất đang tranh chấp
409,1m
2
thuộc thửa 216, tờ bản đồ số 4 tại xóm S, xã G, tnh Ninh Bình.
Về công nhận thỏa thuận chuyển đổi vị trí sử dụng đất: Căn cứ Điều 117
Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167 và Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; công
nhận thỏa thuận của ông Roãn Đình K và ông Doãn Đình T về việc chuyển đổi
diện tích 80m
2
đất tại thửa đất số 214 với diện tích đất 80m² tại thửa đất 216 tờ
bản đồ số 4 bản đđịa chính H, huyện G, tnh Nam Định (nay G, tnh
Ninh Bình).
Về yêu cầu chia thừa kế: Căn cứ các Điều 612, 650, 651 660 Bluật
Dân sự năm 2015; chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Trần Thị R, chị
Trần Thị C và chị Doãn Thị N về việc chia di sản thừa kế đối với diện tích
210m
2
đất của ông Doãn Đình T5 giá trị 504.000.000 đồng; trích công sức
quản l, bảo quản di sản cho ông Roãn Đình K số tiền 126.000.000 đồng; giao
ông Roãn Đình K tiếp tục quản l, sử dụng toàn bộ diện tích đất nêu trên.
Buộc ông Roãn Đình Kim thanh T6 cho Trần Thị R giá trị di sản thừa
kế số tiền 378.000.000 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
8
Về xác định quyền sử dụng đất của các bên: Căn cứ Điều 45, Điều 137
Luật Đất đai năm 2024;
Ông Doãn Đình T Bùi Thị M được quyền sử dụng diện tích đất
80m
2
ất ở) số 214, tbản đồ s4, bản đồ địa chính H, huyện G, tnh Nam
Định (nay là xã G, tnh Ninh Bình); theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
M 202501 ngày 05- 12- 1997 của Ủy ban nhân dân huyện G, tnh Nam Định;
Ông Roãn Đình K và bà Nguyễn Thị K2 được quyền sử dụng diện tích đất
409,1m² (đất vườn) thuộc thửa 216, tờ bản đồ số 4, bản đồ địa chính H,
huyện G, tnh Nam Định (nay xã G, tnh Ninh Bình); theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số M 202548 ngày 05- 12- 1997 của Ủy ban nhân dân huyện
G, tnh Nam Định;
(Có sơ đồ kèm theo)
Các đương sự quyền liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền để thực
hiện thủ tục đăng k biến động, chnh l hồ địa chính, điều chnh, cấp đổi
hoặc cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung bản án.
Kiến nghị quan nhà nước thẩm quyền làm thủ tục theo quy định
chnh l, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung bản án.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo biện
pháp thi hành án.
* Ngày 23-4-2026 ông Doãn Đình T nguyên đơn trong vụ án đơn
kháng cáo toàn bbản án n sự thẩm số 114/2026/DS-ST ngày 22-4-2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 Ninh Bình. do kháng cáo: Tòa án nhân
dân khu vực 10 - Ninh Bình đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng trong toàn bộ quá
trình giải quyết vụ án. Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 10 -
Ninh Bình xét xử vụ án nêu trên đã không xem xét, không đánh giá khách quan
toàn bộ chứng cứ, tài liệu trong vụ án, dẫn tới việc Quyết định của Bản án
dân sự thẩm không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông T được pháp
luật bảo vệ. Ông T đề nghị Tòa án cấp phc thẩm thụ l đgiải quyết lại vụ án
dân sự theo trình tự phc thẩm.
* Tại phiên toà phc thẩm ông Doãn Đình T người đại diện theo ủy
quyền vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên  kiến đã trình bày tại Toà
án cấp thẩm, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phc thẩm
hủy toàn bộ bản án thẩm số 114/2026/DS-ST ngày 22-4-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 Ninh Bình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về
việc xác định diện tích đất tranh chấp 329,1m
2
theo kết quả đo đạc đất thuộc
thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận cho hộ ông Doãn Đình T thuộc quyền sử dụng
của ông Doãn Đình T vợ là Bùi Thị M, buộc ông Doãn Đình K1 phải trả
lại cho ông T diện tích đất nêu trên. Ông Doãn Đình K1 vẫn giữ nguyên kiến
đã trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
ông Doãn Đình T, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Quyết định của bản án
sơ thẩm, bà Trần Thị R và chị Trần Thị C vẫn giữ nguyên  kiến đã trình bày tại
Toà án cấp thẩm. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
9
* Kiểm sát viên - Viện kiểm sát tnh Ninh Bình phát biểu kiến: V t
tng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phc thẩm, Thẩm phán Hội đồng xét
xử thư k phiên tòa đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân s. Các
đương sự chấp hành đng các quy định pháp luật tố tụng dân s, quyền lợi của
các đương sự được bảo đảm.
V ni dung, căn cứ o các tài liệu chứng cứ trong hồ ván, căn
cứ vào lời khai của ông Doãn Đình T, ông Doãn Đình K1, Trần Thị R,
Nguyễn Thị K2 quá trình quản l, sử dụng đất thì không sở chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông Doãn Đình T về việc đòi diện tích đất tranh chấp,
công nhận sự chuyển đổi đất của các bên đương sự đối với diện tích 80m
2
tại
thửa 214 sang vị trí giáp thửa 215. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của
Trần Thị R về việc chia di sản thừa kế đối với phần đất của ông T5 và cho m
con bà R nhận giá trị bằng tiền, buộc ông K1 phải thanh toán nghĩa vụ cho bà R.
Kháng cáo của ông Doãn Đình T không sở chấp nhận. Đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo
của ông Doãn Đình T giữ nguyên bản án thẩm. Án phí giải quyết theo pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Doãn Thị N đã ủy quyền cho bà Trần Thị R, bà Nguyễn
Thị K2 đã ủy quyền cho ông Roãn Đình K tại Tòa án các cấp, họ không
kháng cáo nên việc xét xử vắng mặt họ không ảnh hưởng gì đến quyền và lợi ích
hợp pháp của họ. vậy, căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa
án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
ông Doãn Đình K1 có yêu cầu Tòa án giải quyết huỷ Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất cấp cho hộ ông T nhưng trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hoà giải, ông K1 đã rt yêu cầu huỷ Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Tòa án cấp thẩm không ra Quyết định
đình ch xét xử đối với yêu cầu này của ông K1 còn thiếu sót về trình tự thủ
tục tố tụng dân sự, vi phạm này không ảnh hưởng gì đến nội dung của vụ án nên
cần rt kinh nghiệm với Tòa án nhân dân khu vực 10 Ninh Bình.
[2] Xét đơn kháng cáo của ông Doãn Đình T làm trong thời hạn luật định
phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 272, khoản 1 Điều 273, Điều 276 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải
quyết.
[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Doãn Đình T yêu cầu Tòa án giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 216, tờ số 4, bản đồ địa chính
H, huyện G, tnh Nam Định . Bị đơn ông Roãn Đình K, hiện đang trtại
Thôn S, G, tnh Ninh Bình. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình
thụ l xét xử thẩm vụ án đng thẩm quyền theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35 điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
10
[4] Về xác định quan hệ tranh chấp phạm vi tranh chấp: Ông Doãn Đình
T yêu cầu ông Roãn Đình K trả lại diện tích đất khoảng 400m
2
(theo đo đạc
409,1m²) thuộc thửa đất s216, tờ số 4, bản đồ địa chính H, huyện G, tnh
Nam Định cũ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 202548 do UBND
huyện G, tnh Nam Định cấp ngày 05 tháng 12 năm 1997 cấp cho hộ ông T.
Trong quá trình giải quyết: Ông K yêu cầu công nhận việc chuyển đổi 80m² đất
nằm trong phần đất ông T đòi quyền sử dụng, với 80m
2
đất thuộc quyền sử dụng
của ông K tại thửa số 214, tsố 4, bản đồ địa chính H, huyện G, tnh Nam
Định cũ; Trần Thị R, chị Trần Thị C chị Doãn Thị N yêu cầu được chia
thừa kế phần đất 210m
2
, ông Roãn Đình K đang sử dụng. Do đó, cần xác
định ba mối quan hệ tranh chấp trong ván cần giải quyết là: Tranh chấp
quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất
chia thừa kế quyền sử dụng đất. Tòa án cấp thẩm đã xác định đng quan hệ
pháp luật tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Các thửa đất tranh chấp đều đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông T, hộ ông K năm 1997. Hội đồng xét xử thấy, Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Doãn Đình T là cấp cho ông Doãn Đình
T Bùi Thị M; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Roãn
Đình K cấp cho ông Roãn Đình K Nguyễn Thị K2 phù hợp với quan
điểm của UBND xã G và lời khai thống nhất của các đương sự.
[6] Xét nội dung kháng cáo của ông Doãn Đình T đnghị Tòa án cấp phc
thẩm thụ l để giải quyết lại vụ án dân sự theo trình tự phc thẩm thấy rằng: Về
giá trị pháp l của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 202548 do UBND
huyện G, tnh Nam Định cấp ngày 05 tháng 12 năm 1997 cho hộ ông Doãn Đình
T, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc toàn bộ thửa 216 đứng tên hộ ông T ch phn
ánh kết quả khai, đăng k tại thời điểm cấp giấy, không loại trừ khả năng
trong khối đất đó có phần diện tích thuộc quyền sử dụng thực tế của người khác
hoặc có nguồn gốc từ di sản chưa phân chia.
[7] Đối với loại đất của diện tích đang tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy
rằng theo hồ địa chính năm 1995, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, lời khai
của các đương sự và tài liệu thu thập tại địa phương thì toàn bộ khu vực đất các
bên đang tranh chấp hiện nay đều là đất vườn; thực tế trên đất không công
trình, cây cối giá trị, các bên cũng không xuất trình được tài liệu hợp pháp
nào chứng minh phần diện tích này đất hoặc đã được quan thẩm
quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. vậy, đủ căn cứ xác định
toàn bộ diện tích 329,1m² trong đó phần đất đứng tên ông T5 và diện tích
80m² các bên đã hoán đổi đều đất vườn theo hồ quản l địa chính theo
hiện trạng sử dụng thực tế.
[8] Xét yêu cầu đòi lại đất của ông T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc
phần đất tranh chấp 409,1m
2
thuộc thửa đất đứng tên hộ ông T, nhưng quá trình
giải quyết vụ án đã làm rõ: Sau khi bố mẹ chết trước năm 1995, các phần đất của
gia đình không được phân định rành mạch bằng thủ tục pháp lriêng chủ
yếu được các thành viên sử dụng theo thực tế. Đến năm 1999 gia đình ng
tộc đã họp, thống nhất để ông K được quản l, sử dụng phần đất hiện nay ông K
11
đang sử dụng, trên sở đó ông K đã xây tường bao quản l công khai, liên
tục, ổn định từ đó đến nay. Việc thống nhất này đã lập thành biên bản được xác
nhận của chính quyền Ủy ban nhân dân H, huyện G, tnh Nam Định cũ.
Quá trình sử dụng kéo dài khoảng 25 năm, ranh giới giữa hai hộ đã được xác lập
ng trên thực địa, không tranh chấp kéo dài. Tại phiên tòa, ông T không
chứng minh được mốc giới cụ thể của phần đất mà ông cho rằng ông K lấn
chiếm, cũng không chứng minh được hành vi lấn chiếm trái pháp luật của ông K
sau khi ranh giới sử dụng đất đã được gia đình thống nhất hiện trạng đã n
định lâu dài. Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có yêu
cầu thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Việc ông T ch căn cứ vào số liệu diện tích
ghi trong Giấy chứng nhận mà không chứng minh được hành vi lấn chiếm trái
pháp luật trong bối cảnh ranh giới sử dụng đất thực tế đã tồn tại ổn định trên 27
năm không đủ căn cứ đchấp nhận. Trong diện tích đất 409,1m
2
đang
tranh chấp thì 210m
2
đất của ông T5 + 80m
2
diện tích đất ông K đã đổi cho
ông T = 290m
2
, phần đất còn lại 409,1m
2
- 290m
2
= 119,1m
2
được coi như
ông T đã tự nguyện đồng tặng cho ông K điều kiện ông K phải trách
nhiệm thay cho các anh chị em trong gia đình thường xuyên chăm sóc nuôi
dưỡng ông Doãn Văn T3 từ ngày 01 tháng 02 năm Kỷ Mão đến khi ông T3 chết,
làm tang lễ, cng giỗ sau này nhưng chưa làm thủ tục đăng k tại quan Nhà
nước có thẩm quyền về quản l đất đai. Tại phiên tòa phc thẩm hôm nay ông T
lại trình bày cho ông Kim M1 diện tích đất nêu trên nhưng ông T cũng không có
bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ và
hợp pháp. vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
T về việc buộc ông K trả lại diện tích đất đang tranh chấp.
[9] Về thỏa thuận hoán đổi 80m² giữa ông T ông K: Tài liệu, chứng cứ
trong hồ thể hiện đối với thửa đất 80m² đứng tên ông K tại thửa 214, năm
2019 ông K ông T đã tự nguyện lập Biên bản thỏa thuận mốc giới để hoán
đổi vị trí sử dụng với 80m² đất vườn liền kề thuộc thửa 216; biên bản xác
nhận của UBND đã được các bên thực hiện n định trên thực tế. Tại kết
quả xem xét thẩm định tại chng thể hiện rõ hiện nay ông K đang sử dụng
80m² đất của thửa 216 được đổi cho ông T năm 2019, còn ông T đang sử dụng
ổn định toàn bộ 80m² của thửa 214 đng như nội dung biên bản chuyển đổi. Xét
thấy thỏa thuận hoán đổi này được xác lập trên sở tự nguyện, không vi phạm
điều cấm của pháp luật, phù hợp với hiện trạng sử dụng đất thực tế nên cần được
công nhận. Do khu vực đất này theo hồ địa chính theo hiện trạng đều
đất vườn nên phần diện tích 80m² ông Roãn Đình K nhận hoán đổi tại thửa đất
216 được xác định đất vườn; trường hợp các đương sự nhu cầu chuyển
mục đích sử dụng đất thì thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai.
[10] Xét yêu cầu độc lập của Trần Thị R các con là chị Trần Thị C
chị Doãn Thị N về việc nhận thừa kế 210m² đất của ông Doãn Văn T3 thấy
rằng: Diện tích 210m² mang tên “Thính” theo bản đồ địa chính năm 1986, các
đương sđều thừa nhận đây phần đất do ông Doãn Văn T3 được bố mgiao
cho sử dụng riêng. Tuy nhiên, căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, tài liệu
địa chính lời khai của các đương sự, diện tích 210m² mang tên ông T3 theo
bản đồ năm 1986 không còn tồn tại ranh giới riêng biệt trên thực địa; vị trí c
12
thể của phần đất này không thể xác định chính xác trong tổng thể thửa đất hiện
nay. Mặt khác, phần diện tích này đã gắn liền với hiện trạng sử dụng chung,
trong đó phần đã được sử dụng làm lối đi chung nằm trong khuôn viên đã
được các bên xây tường bao, ổn định từ nhiều năm. Nay các đương sự cũng
không xác định được vị tđất, ông K thừa nhận đang quản l sdụng toàn bộ
diện tích đất này. vậy, Toà án ch thể xem xét chia di sản theo giá trị để
đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đồng thừa kế của ông T3. Do ông T3 chết
không để lại di chc nên di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
[11] Về quan hệ hôn nhân giữa Trần Thị R ông Doãn Văn T3, Hội
đồng xét xử thấy rằng: R và ông T3 thời gian chung sống với nhau từ
khoảng năm 1972 02 con chung nên hôn nhân thực tế. Mặc R
ông T3 thời gian chung sống với nhau như vchồng con chung, tuy
nhiên từ khoảng năm 1982 hai người không còn trực tiếp chung sống, nhưng
không tài liệu nào thể hiện đã chấm dứt quan hệ hôn nhân theo thủ tục pháp
luật. Do đó, bà R vẫn được xác định thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Đến nay trong
hồ sơ vụ án không có tài liệu chứng cứ nào để xác định diện tích đất 210m
2
là tài
sản chung của vợ chồng bà R và ông T3.
[12] Về hàng thừa kế, Hội đồng xét xử xác định bà Trần Thị R có hôn nhân
thực tế với ông T3, chị Trần Thị C chị Doãn Thị N con đẻ của ông T3 đã
được mọi người mặt tại phiên tòa phc thẩm m nay đều xác nhận. Những
người này thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân
sự và được hưởng di sản thừa kế của ông T3.
[13] Xét quá trình quản l, sử dụng đất, ông Roãn Đình K là người trực tiếp
chăm c ông T3 trong thời gian cuối đời, lo hậu sự quản l, bảo quản phần
đất trong thời gian dài, ổn định, không tranh chấp. Do đó, cần trích một phần
giá trị tương ứng 1/4 di sản của ông T3 để ghi nhận công sức quản l, bảo quản
di sản của ông K trước khi chia thừa kế là phù hợp.
[14] Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ và điều kiện để chia di sản bằng
hiện vật, để cho các đồng thừa kế nhận một nửa số diện tích đất bằng 105m
2
như
quan điểm của Trần Thị R, chị Trần Thị C chị Doãn Thị N. Mẹ con R
hiện đã nơi tr n định, từ năm 1982 cho đến nay không quản l sử dụng
đất nên cần áp dụng quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân s, thực hiện chia di sản
theo giá trị để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Trần Thị R, chị Trần Thị
C chị Doãn Thị N giữ ổn định tình trạng sử dụng đất hiện có cho ông K là
phù hợp pháp luật.
[15] Theo kết quả định giá, giá đất vườn 2.400.000 đồng/m², tổng giá tr
210m² là 504.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy cần trích 1/4 giá trị tương ứng
126.000.000 đồng cho ông K; phần còn lại 378.000.000 đồng di sản thuộc
quyền thừa kế của Trần Thị R, chị Trần Thị C chị Doãn Thị N mỗi người
được hưởng 126.000.000 đồng, thống nhất để cho bà Trần Thị R hưởng toàn bộ
di sản. Xét việc nhường này hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên
cần được ghi nhận. Do ông K được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất. Vì vậy,
cần buộc ông K phải trách nhiệm thanh toán cho Trần Thị R số tiền
378.000.000 đồng.
13
[16] Về xác định quyền sử dụng đất của các bên: Từ các phân tích nêu trên,
Hội đồng xét xử có căn cứ xác định diện tích 80m² giữa thửa đất số 214 thửa
đất số 216, các bên đã tự nguyện chuyển đổi vị tsdụng đất đã thực hiện
ổn định trên thực tế nên cần được công nhận theo hiện trạng sử dụng. Đối với
phần diện tích còn lại 119,1m
2
thuộc thửa đất số 216 hiện do ông K quản l, sử
dụng, Hội đồng xét xử xét thấy đây là phần đất đã được gia đình thống nhất giao
cho ông K quản l từ năm 1999, ông K sử dụng công khai, liên tục, ổn định, phù
hợp với hiện trạng thực tế và không căn cứ xác định việc lấn chiếm trái pháp
luật, bản thân ông T đã tự nguyện đồng tặng cho ông K điều kiện. vậy,
căn cứ xác định ông Doãn Đình T Bùi Thị M được quyền sử dụng toàn
bộ diện tích 80m² thuộc thửa đất số 214; ông Roãn Đình K Nguyễn Thị
K2 được quyền sử dụng diện tích 409,1m² đất vườn thuộc thửa đất số 216 theo
hiện trạng quản l, sử dụng thực tế hiện nay. Đối với phần diện tích đất còn lại
thuộc thửa 216, không có tranh chấp nên Toà án không xem xét, giải quyết.
[17] Về chi phí thẩm định định giá tài sản: Các đương sự đã nộp đầy đủ,
không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem
xét.
[18] Án phí dân sự thẩm: Yêu cầu khởi kiện của ông Doãn Đình T
không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự thẩm. Đối với yêu
cầu chia thừa kế, các đương sự phải chịu án phí dân sự thẩm tương ứng phần
giá trị tài sản được hưởng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông Doãn
Đình T, ông Roãn Đình K Trần Thị R đều người cao tuổi, đơn xin
miễn án phí nên được miễn án phí dân sthẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[19] Qua những phân tích nêu trên đã cho thấy những kết luận trong bản án
thẩm hoàn toàn phù hợp với những quy định của pháp luật. Tòa án cấp
thẩm đã áp dụng đng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Tại phiên
tòa phc thẩm ông Doãn Đình T người đại diện theo ủy quyền của ông T
cũng không đưa ra được các chứng cứ và l lẽ để chứng minh cho yêu cầu
kháng o của ông T. L do kháng cáo của ông T không n cứ. vậy,
yêu cầu kháng cáo của ông T không được chấp nhận cần giữ nguyên quyết định
của bản án sơ thẩm.
[20] Về án phí dân sự phc thẩm: Do kháng cáo của ông Doãn Đình T
không được chấp nhận, đáng lẽ ông T phải nộp án phí dân sự phc thẩm nhưng
trong vụ án này ông T người cao tuổi đã đơn xin miễn án phí, theo quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông T được miễn toàn b án phí
dân sự phc thẩm.
[21] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
14
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật ttụng dân sự năm 2015; Không
chấp nhận kháng cáo của ông Doãn Đình T; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166; khoản 2 Điều
296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Các
Điều 26, Điều 31, Điều 45, Điều 137, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều
117 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013;
Điều 612, Điều 650, Điều 651 Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ
khoản 1 Điều 12; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Gi nguyên Quyết định bản án thẩm số 114/2026/DS-ST ngày 22
tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình.
2. Án phí dân sự phc thẩm: Ông Doãn Đình T không phải nộp.
Trường hp bn án được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut Thi hành
án dân s thì người được thi hành án dân s nguyên đơn, bị đơn, người có quyn
lợi, nghĩa vụ liên quan, ngưi phi thi hành án dân s nguyên đơn, bị đơn, người
có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan có quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu
thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh
tại các Điu 6, 7, 9 Lut Thi hành án dân s; thi hiệu thi hành án được thc
hiện theo quy định tại Điều 30 Lut Thi hành án dân s.
Bản án phc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tnh Ninh Bình;
- TAND khu vực 10 - Ninh Bình;
- VKSND khu vực 10 - Ninh Bình;
- Phòng THADS khu vực 10 - Ninh Bình;
- Hồ sơ vụ án;
- Lưu VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHC THM
THM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lại Văn Tùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất