Bản án số 90/2026/DS-PT ngày 30/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 90/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 90/2026/DS-PT ngày 30/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 90/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ong Nguyen Van K yêu cầu chị Đặng Hồng L trả lại phần đất lấn chiếm là ½ con bờ ranh, theo đo đạc thực tế có diện tích là 280,4m2.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 90/2026/DS-PT
Ngày: 30 - 01- 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương
Các Thẩm phán: Ông Trương Thanh Dũng
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư phiên tòa: Ngô Thúy Nguyên, Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Trương Trung Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 619/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 11
năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 189/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 604/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 12
năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1968; Số CCCD:
096068007241, cấp ngày 14/8/2021; Địa chỉ trú: Ấp B, Đ, tỉnh Mau (có
mặt).
2. Bị đơn: Chị Đặng Hồng L, sinh năm 1975; CCCD số096175005476 cấp
ngày 16/9/2021; Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Tô Thị N, sinh năm 1969; Địa chỉ trú: Ấp B, xã Đ, tỉnh Mau (có
mặt).
- Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1992; Địa chỉ trú: Ấp B, Đ, tỉnh
Mau (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Mỹ H1, sinh năm 1992; Địa chỉ trú: Ấp B, Đ, tỉnh
Mau (vắng mặt).
- Nguyễn Hồng S, sinh năm 1946; CCCD số 096146004260 cấp ngày
13/08/2021; Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2
- Ngân hàng N1 chi nhánh Đ; Địa chỉ: khóm D, Đ, tỉnh Mau (vắng
mặt).
4. Người kháng cáo:Đặng Hồng L (là bị đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của các bên đương sự kết quả xét xử sơ thẩm, vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào năm 1990, ông Nguyễn Văn K nhận chuyển nhượng đất của ông
Nguyễn Việt Q diện tích 12.360m
2
tại ấp B, T, huyện Đ. Đến năm 1991, ông
Nguyễn Văn K nhận chuyển nhượng của Nguyễn Hồng S phần đất diện tích
4.550m
2
liền kề với phần đất đã nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Việt Q.
Ngày 02/5/1994, ông Nguyễn Văn K được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số C 125954 với diện tích 16.910m
2
gồm thửa đất
số 0238, 0243, 0244, thuộc tờ bản đồ số 10. Quá trình quản lý sử dụng đất đến cuối
năm 2022 thì phát sinh tranh chấp với chị Đặng Hồng L do chị Đặng Hồng L trồng
dừa trên phần bờ ranh giữa hai phần đất của ông Nguyễn Văn K và chị Đặng Hồng
L và ông Nguyễn Văn K đã khởi kiện.
Ông Nguyễn Văn K cho rằng, phần branh tiếp giáp giữa phần đất của ông
với phần đất của chị Đặng Hồng L là phần bờ chung, mổi bên sử dụng ½ bờ nhưng
chị Đặng Hồng L trồng dừa lấn sang phần bờ ranh của ông. Vào năm 2022, khi
phát sinh tranh chấp, chính quyền địa phương giải quyết mỗi bên một nữa phần bờ,
chị Đặng Hồng L Nguyễn Hồng S thống nhất nên cắm ranh giữa phần bờ
chung nhưng sau đó chĐặng Hồng L đã nhổ cọc cắm ranh. Tại thời điểm này ông
đã khởi kiện Nguyễn Hồng S nhưng do phần đất trên bà Nguyễn Hồng S đã
chuyển tên cho chị Đặng Hồng L nên ông đã rút lại đơn khởi kiện để khởi kiện lại
đối với chị Đặng Hồng L và yêu cầu chị Đặng Hồng L trả lại phần đất lấn chiếm là
½ con bờ ranh, theo đo đạc thực tế có diện tích là 280,4m
2
.
Chị Đặng Hồng L cho rằng phần đất tranh chấp nguồn gốc của cha chị
ông Đặng Văn T, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 147055
ngày 02/5/1994 với diện tích 9.020m
2
tọa lạc tại ấp B, T, huyện Đ, tỉnh
Mau. Năm 2018, cha của chị chết, không để lại di chúc nên những người thừa kế
thống nhất giao toàn bộ phần đất cho chị đã được chỉnh biến động đất đai,
sang tên cho chị vào ngày 27/01/2022. Phần đất trên tiếp giáp với phần đất của ông
Nguyễn Văn K phần ranh con bờ. Con bờ ranh này thuộc phần đất của chị
chứ phần đất của ông Nguyễn Văn K không bờ ranh, cho nên con bờ ranh
không phải bờ chung như ông Nguyễn Văn K trình bày. Việc chị trồng dừa trên
phần bờ ranh thuộc đất của chị nên yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K
chị không chấp nhận.
Nguyễn Hồng S thống nhất với ý kiến của chị Đặng Hồng . Th
N, anh Nguyễn Hoàng H và chị Nguyễn Mỹ H1 thống nhất ý kiến với ông Nguyễn
3
Văn K.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng N1 Chi nhánh Đ xác định chị Đặng
Hồng L giao kết hợp đồng tín dụng, theo đó Ngân hàng cho chị Đặng Hồng L
vay 100.000.000 đồng, vay tín chấp nên Ngân hàng không yêu cầu trong vụ án
giải quyết tranh chấp quyền sdụng đất giữa ông Nguyễn Văn K với chị Đặng
Hồng Lê .
Tại Bản án dân sự thẩm số: 189/2025/DS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Mau quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Nguyễn Văn K, buộc chị Đặng Hồng L giao trả phần đất lấn chiếm của ông
Nguyễn Văn K diện 280,4m
2
gồm các thửa 1438, 1439 và 1440, tờ bản đồ số 11 tại
ấp B, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng cáo
Bản án theo luật định.
Ngày 09/10/2025, chị Đặng Hồng L kháng cáo toàn bộ Bản án, yêu cầu sửa
Bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Đặng Hồng L giữ nguyên kháng cáo. Chị cho
rằng phần đất đang tranh chấp với ông Nguyễn Văn K con bờ ranh, mỗi bên sử
dụng ½ con bờ nhưng từ trước đến nay giữa chị ông Nguyễn Văn K chưa thực
hiện việc cấm mốc để xác định ranh. Do ông Nguyễn Văn K cho rằng chị lấn
chiếm ranh đất của ông K nên chị không đồng ý. Thực tế, chị Đặng Hồng L vẫn
thừa nhận mỗi bên sử dụng ½ con bờ. Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Nguyễn Văn K, xác định chị lấn chiếm ranh đất nên chị kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ
án; của Hội đồng xét xử những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của
chị Đặng Hồng . Sửa Bản án thẩm số: 189/2025/DS-ST ngày 25/9/2025 của
Tòa án nhân dân huyện khu vực 4 Mau do sai sót khi tính án pdân sự
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của chị Đặng Hồng L được thực hiện trong hạn luật định
hợp lệ nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung tranh chấp và kháng cáo của chị Đặng Hồng L:
[2.1] Về nguồn gốc các phần đất các bên không tranh chấp. Phần đất của ông
Nguyễn Văn K nhận chuyển nhượng một phần từ ông Nguyễn Việt Q vào năm
1990 và một phần nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Hồng S. Ông Nguyễn Văn K
được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C
125954 ngày 02/5/1999 với tổng diện tích 16.910m
2
. Còn phần đất của chị Đặng
4
Hồng L được thừa kế từ cha ruột là ông Đặng Văn T, được tất cả các đồng thừa kế
thừa nhận. Phần đất trên ông Đặng Văn T đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C147055 ngày 02/5/1994 với tổng diện tích
9.020m
2
, chị Đặng Hồng L cũng đã được quan thẩm quyền chỉnh biến
động đất đai, chuyển tên cho chị Đặng Hồng L vào ngày 27/01/2022.
[2.2] Xét về diện tích đất hồ địa chính của các phần đất thì cả hai phần
đất của ông Nguyễn Văn K chị Đặng Hồng L diện tích đất được đo đạc trên
thực địa đều thiếu so với diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Việc thiếu diện tích đất này có một phần lý do từ việc sạt lỡ của phần đất
giáp sông. Hồ sơ địa chính đều không xác định được chiều ngang của mỗi phần đất
là bao nhiêu.
Tại Công văn số 199/CNVPĐKĐĐ ngày 13/02/2025 của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện Đ xác định, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông Nguyễn Văn K, ông Đặng Văn T theo bản đồ năm 1990, không thực
hiện việc đo đạc nên độ sai số về diện tích, hình thể. Khi chỉnh biến động từ
tên ông Đặng Văn T sang tên chị Đặng Hồng L cũng không thực hiện việc đo đạc
nên không đủ sở xác định vị trí quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc quyền sử
dụng đất của ai.
[2.3] Xét về mặt chứng cứ: ChĐặng Hồng L xác định phần đất của chị được
thừa kế chiều ngang mặt tiền là 38 mét và phần branh thuộc diện tích giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của chị, phần đất của ông Nguyễn Văn K không có
bờ ranh. Đối với phần đất của ông Nguyễn Văn K có được do nhận chuyển nhượng
từ ông Nguyễn Việt Q. Ông Nguyễn Việt Q lời khai xác định phần đất đã
chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn K chiều ngang 32 mét. Ông cũng biết
phần đất của ông Đặng Văn T giáp với đất của ông mặt tiền chiều ngang 36
mét, không phải 38 mét. Ngoài các ý kiến nêu trên thì không chứng cứ o
khác. Căn cứ mảnh đo đạc chỉnh thửa đất ngày 28/11/2023 thể hiện, phần đất
tranh chấp diện tích 280,4m
2
, chiều ngang mặt tiền giáp lộ xi măng 1,6m trừ
diện ch tranh chấp thì chiều ngang mặt tiền giáp lxi măng phần đất của ông
Nguyễn Văn K là 31,31m 30,69m; Phần đất của chị Đặng Hồng L chiều
ngang mặt tiền giáp lộ bê tông là 36,39m và 36,40m.
[2.4] Xét về hiện trạng phần đất tranh chấp cho thấy, giữa hai phần đất của
ông Nguyễn Văn K và phần đất của chị Đặng Hồng L con branh. Quá trình
giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm thì ông Nguyễn Văn K xác định là bờ chung, mỗi
bên sử dụng ½ bờ, còn chị Đặng Hồng L xác định con bờ thuộc phần đất của
chị, không phải bờ chung, phần đất của ông Nguyễn Văn K không có bờ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quá trình quản lý, sử dụng đất của ông
Nguyễn Văn K, xác nhận của chủ đất ông Đặng Việt Q1, kết quả xác minh
nguồn gốc đất do Ủy ban nhân dân xã T thực hiện, xác nhận của chính quyền ấp B,
những người dân sống trên địa bàn cũng như quá trình sử dụng bờ ranh giữa ông
Đặng Việt Q1 ông Đặng Văn T không xảy ra tranh chấp. Từ đó, Tòa án cấp
5
thẩm đã xác định phần bờ ranh là bờ chung, ông Nguyễn Văn K chị Đặng
Hồng L có quyền sử dụng ½ bờ chung nên đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Nguyễn Văn K, buộc chị Đặng Hồng L giao trả phần đất lấn chiếm diện 280,4m
2
phù hợp.
[3] Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm chị Đặng Hồng L khẳng định phần
đất tranh chấp diện tích của ½ con bờ con bờ bờ ranh chung giữa hai phần
đất của chị và ông Nguyễn Văn K. Từ trước đến nay, con bờ chung này chưa được
hai bên xác định mốc giới để phân biệt rõ ràng nên việc ông Nguyễn văn K và Tòa
án cấp sơ thẩm xác định chị lấn chiếm đất của ông Nguyễn Văn K chị không
đồng ý.
Lời thừa nhận trên của chị Đặng Hồng L không đúng với ý kiến quan
điểm của chị Đặng Hồng L trong quá trình giải quyết tranh chấp Tòa án cấp
thẩm cũng như không đúng với ý kiến của chị Đặng Hồng L tại đơn kháng cáo lập
ngày 09/10/2025. Tuy nhiên, việc chị Đặng Hồng L cho rằng từ trước đến nay các
bên chưa phân định ranh nên cần thiết ghi nhận ý kiến của chị Đặng Hồng .
Đồng thời, việc chị Đặng Hồng L thừa nhận con branh bờ chung, mỗi bên sử
dụng ½ diện tích con bờ là hoàn toàn phù hợp với kết quả xét xử của Tòa án cấp sơ
thẩm trong việc giao diện tích đất tranh chấp 280,4m
2
cho ông Nguyễn Văn K. Chị
Đặng Hồng L khẳng định chị không lấn chiếm đất cũng không chiếm
giữ phần đất đang tranh chấp nên từ đó, giữ nguyên kết quả xét xử sơ thẩm đối với
phần đất tranh chấp nhưng cần điều chỉnh cách tuyên cho phù hợp với ý chí của ch
Đặng Hồng L phù hợp với thực tế, làm căn cứ để phân định phần ranh giữa hai
phần đất của chị Đặng Hồng L và phần đất của ông Nguyễn Văn K.
Ngoài ra, quan hệ tranh chấp giữa các đương sự được xác định tranh chấp
quyền sử dụng đất, áp dụng khoản điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lphí Tòa án thì chị Đặng Hồng L chỉ phải chịu án phí dân sự thẩm
không có giá ngạch. Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị Đặng Hồng L chịu án phí dân sự
thẩm giá ngạch chưa phù hợp nên cần sửa Bản án thẩm về nghĩa vụ
chịu án phí của chị Đặng Hồng Lê .
[4] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Chị Đặng Hồng L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận tại
số tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của chị Đặng Hồng . Sửa một phần Bản án
6
dân sự thẩm số: 189/2025/DS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân huyện
khu vực 4 Cà Mau (sửa phần án phí).
2. Căn cứ vào 26; 147; 148; 157 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 203 Luật
Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K. Giao phần đất tranh
chấp diện tích 280,4m
2
cho ông Nguyễn Văn K. Phần đất được xác định tại các
thửa 1438, 1439 1440, tờ bản đồ số 11. Ranh phân biệt giữa phần đất của chị
Đặng Hồng L phần đất của ông Nguyễn Văn K được xác định theo các mốc
M15,M28,M27,M25,M24,M31, M30, M29 M4M5M12,M11 theo Mảnh đo đạc
chỉnh thửa đất ngày 28/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện Đ.
(Kèm theo Bản án là Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 28/11/2023 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ).
- Chi phí tố tụng là 300.000 đồng chị Đặng Hồng L phải chịu. Do ông Nguyễn
Văn K đã nộp xong nên buộc chị Đặng Hồng L nghĩa vụ hoàn trả lại 300.000
đồng cho ông Nguyễn Văn K.
Kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả c khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Án phí dân sự thẩm: Chị Đặng Hồng L phải chịu 300.000 đồng. Ông
Nguyễn Văn K không phải chịu án phí, ông Nguyễn Văn K được nhận lại 300.000
đồng đã dự nộp ngày 11/10/2024 tại Biên lai số 0001896 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Đầm Dơi (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau).
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Đặng Hồng L không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm, được nhận lại 300.000 đồng đã dự nộp ngày 15/10/2025, biên lai số
0002119 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 4 Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 4;
- Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thế Phương
Tải về
Bản án số 90/2026/DS-PT Bản án số 90/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 90/2026/DS-PT Bản án số 90/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất