Bản án số 103/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 103/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 103/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 103/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG H4 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 103/2026/DS- PT
Ngày: 11/3/2026
V/v “Tranh chấp quyền sdụng
đất và u cu bi thường thiệt
hại ngoài hợp đng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên t: Ông Nguyễn Ngọc Chung.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng
Bà Nguyễn Thị Hằng
Thư phiên toà: Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Ông Đặng Thanh Minh
Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09/2/2026,10/3/2026 và 11/3/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân
tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 499/2025/DS-PT ny
22/12/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 65/2025/DS-ST ngày 11/11/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 3-Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thẩm số 45/2026/QĐ-PT ngày
09/01/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2026/QĐ-PT ngày 23/01/2026;
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 37/2026/QĐ-PT ngày 09/02/2026 giữa:
1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1952 (có mặt)
Nơi thường trú: thôn H, xã Ngc Thin, tnh Bc Ninh.
Người bo v quyn và li ích hp pháp ca nguyên đơn: ông Triệu Hạnh H
và bà Hà Th H1 - đều là Lut sư Văn phòng lut sư TH, Đoàn lut sư tnh Bc
Ninh (bà H1 vng mt, ông H có mt khi xét x, vng mt khi tuyên án).
2. B đơn: ông Lê Văn D, sinh năm 1970 (có mặt)
Nơi thường trú: s nhà 279/65, t 7, phường PL, thành ph Hà Ni.
Người bo v quyn và li ích hp pháp ca bị đơn: Luật sư Lê Thị Ngọc L
Văn phòng luật sư L1 và cộng sự. (có mặt)
3. Người có quyn li, nghĩa v liên quan:
- Ông Nguyễn Duy T1, sinh năm 1964 ( mt khi xét xử, vắng mặt khi
2
tuyên án)
- Bà Thân Th L2, sinh năm 1960 (vng mt)
- Bà Nguyn Th B, sinh năm 1969 (vng mt)
- Anh Nguyn Duy H1, sinh năm 1993 (vng mt)
Đều thường trú: thôn H, xã Ngc Thin, tnh Bc Ninh.
- Ch Nguyn Th H2, sinh năm 1981 (vng mt)
Nơi thường trú: thôn N, xã Ngc Thin, tnh Bc Ninh.
Nơi : s 852, t 1, khu ph KH, phường Tân Khánh, thành ph H Chí
Minh.
- Anh Nguyn Duy H4, sinh năm 1983 (vng mt)
Nơi thường trú: thôn H, xã Ngc Thin, tnh Bc Ninh.
Nơi : s 955, khu ph 4, phường M, thành ph H Chí Minh.
- Ch Nguyn Th T2, sinh năm 1986 (vng mt)
Nơi thường trú: thôn , xã Chi Lăng, tnh Bc Ninh;
Nơi : s nhà 219, đường s 3, khu ph 2, phường PL, thành ph H Chí
Minh.
- U ban nhân dân tnh Bc Ninh.
Người đại din hp pháp: ông Hoàng Trung H1 - Phó Giám đốc Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai liên Tân Yên, S nông nghip và Môi trường đại
din theo u quyn theo văn bn s 518 ngày 04/8/2025 (vng mt).
- U ban nhân dân xã Ngc Thin, tnh Bc Ninh.
Người đại din hp pháp: bà Nguyn Th H5- Chuyên viên phòng Kinh tế xã
Ngc Thin, tnh Bc Ninh là người đại din theo y quyn theo văn bn s 3891
ngày 17/9/2925 (vng mt).
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Duy T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai, các lời khai tiếp theo, quá trình giải quyết
vụ án và tại phiên toà nguyên đơn là ông Nguyễn Duy T trình bày:
Bố ông cụ Nguyễn Duy N, mẹ cụ Nguyễn Thị G mảnh đất hơn
3000m
2
khai hoang từ năm 1960 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Năm 1980 ông lấy vợ bà Thân Thị L2 thì được bố mẹ ông cho 1434m
2
phía
bên cạnh, diện tích đất còn lại bố mông cùng em trai ông Nguyễn Duy T1,
năm 1995 bmẹ ông cho ông T1 mảnh đất còn lại. Năm 1995 ông và ông T1 cùng
đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất ông được cấp giấy
chứng nhận quyền sdụng đất thửa số 422 thửa số 423 tờ bản đồ số 8 diện
tích 1434m
2
, trong đó 360m
2
đất còn lại là đất ờn. Thửa đất ông T1 được cấp
thửa số 277, tờ bản đồ số 8 diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất 2100m
2
, thửa đất nhà ông ông T1 cao thấp khác nhau. Ranh giới
thửa đất nhà ông và nhà ông T1 là hàng cây bạch đàn do ông trồng năm 2004.
3
Đến năm 2017, ông T1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông
Lê Văn D. Đến đầum 2024 ông thấy ông D đưa người về chặt cây bạch đàn nhà
ông giáp đất nhà ông D mua múc vào phần đất nhà ông để xây tường rào, ông
ra ngăn cản nhưng ông D cho rằng phần đất này ông D được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Sau khi kiểm tra ông thấy ông D lấn sang nhà ông khoảng
250m
2
. Quá trình giải quyết vụ án kết quả đo đạc hiện trạng ông xác định diện
tích ông D lấn chiếm sang nhà ông khoảng 270,6m
2
.
Đến nay, ông yêu cầu ông D phải trả cho gia đình ông diện tích đất khoảng
270,6m
2
do ông D đã lấn chiếm của gia đình ông tại thửa đất s423, tờ bản đồ số
8, địa chỉ: thôn H, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang cũ) trong đó: 170,6m
2
gồm diện tích đất 34,6m
2
hình
FEHG diện tích đất 136m
2
hình ABCD theo đồ thẩm định ngày
13/01/2025; Diện tích đất khoảng 100m
2
tương đương với số tiền 323.000.000
đồng tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi ông D đã nhận; Ông yêu cầu ông
Văn D phải bồi thường giá trị tổng số cây ông D đã chặt gồm 10 cây bạch
đàn, đường kính gốc 30cm theo giá định giá tài sản 300.000 đồng/ cây; Buộc
ông Văn D phải tháo dỡ các công trình cụ thể các đoạn tường đã xây dựng
trên diện tích lấn chiếm sang đất nhà ông.
Đề nghị Toà án xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL
115894 cho vợ chồng ông T1 vào ngày 22/12/ 2017 (đã được chỉnh lý sang tên ông
D) đối với diện ch đất 2420,4m
2
tại thửa số 78, tbản đồ s59, địa chỉ thửa đất
thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh
Bắc Giang cũ).
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Văn D yêu cầu ông phải trả diện
tích đất 57,6m
2
một phần thửa đất số 78, tờ bản đồ số 59, địa chỉ: thôn H,
Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh
Bắc Ninh) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy
T1, Nguyễn Thị B ngày 22/12/2017, chỉnh sang tên cho ông Văn D ngày
25/12/2017 tương ứng với số tiền 186.048.000 đồng ông hoàn toàn không đồng ý
với yêu cầu phản tố của ông Lê Văn D.
* Tại phiên toà người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Duy
T ông Triệu Hnh H trình bày:
Hồ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là GCNQSDĐ) số CL 115894 cho vợ chồng ông T1: toàn bộ hồ
đề nghị cấp đổi GCNQSDĐ số CL 115894 được làm trong 01 ngày (ngày
14/12/2017) thể hiện Uỷ ban nhân dân (viết tắt Uỷ ban nhân dân là UBND) xã giúp
ông D. Đơn đề nghị cấp lại GCNQSDĐ: UBND xã (bà Nguyễn Thị H5 địa chính
Nguyễn Thị Oanh Phó chủ tịch xã) xác nhận không đúng thực tế tại nội
dung về “Sự thay đổi đường ranh giới thửa đất kể từ khi cấp giấy chứng nhận đến
4
nay” không ghi đúng thực tế thay đổi về ranh giới, hình thể diện tích thửa
đất, Ủy ban xã lại xác định “Hộ ông T1 sử dụng đất ổn định từ trước năm 1980 đến
nay không tranh chấp”. Chi nhánh văn phòng đăng đất đai tiếp nhận hồ biết
thay đổi hình thể, ranh giới chưa được làm nhưng vẫn xác nhận “đủ điều
kiện cấp”.
Biên bản làm việc ngày 14/12/2017: xác định: “hình thù thửa đất không giống
nhau do năm 1991 khi xây dựng bản đồ các hộ chưa xây tường bao ranh giới cố
định như hiện nay nên bản đồ năm 1991 thể hiện chưa chính xác” gian dối, bởi:
Tại thời điểm 14/12/2017 các hộ vẫn chưa xây tường bao ranh giới, đến nay (2025)
vẫn chưa bao giờ xây tường bao ranh giới. Ranh giới từ năm 1991 đến nay vẫn chỉ
rãnh đất tự cào sâu khoảng 30cm phân biệt căn cứ vào việc đất thửa 423 của
gia đình ông T địa hình cao hơn đất tại thửa 277 (hiện nay thửa 78) nên
không việc ranh giới thay đổi do xây tường bao. Biên bản ghi: ông T1 các
hộ giáp ranh đều thống nhất sử dụng ranh giới như bản đồ địa chính năm 2012”
gian dối, bởi: thành phần tham gia làm việc không hộ giáp ranh nào, phần
cuối biên bản không có mục ký của các hộ giáp ranh, không có hộ giáp ranh ký vào
biên bản; ông T ký vào thửa đất nhà ông T ở sơ đồ do bị lừa dối.
Tờ khai lệ phí trước bạ: xác định nguồn gốc của diện tích 320,4m
2
đất tăng
lên DT tăng do sai số đo đạclà cố ý làm không đúng thực tế, mâu thuẫn với
Biên bản làm việc ngày 14/12/2017 xác định tăng do thay đổi hình thể thửa đất.
Tờ trình số 1235/TTr-TNMT ngày 19/12/2017 Quyết định 1394/QĐ-UB
ngày 22/12/2017 UBND huyện cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông T1 phần
“công nhận diện tích tăng 320,4m
2
đất trồng cây lâu năm” nhưng hồ chưa
thực hiện các thtục theo quy định khi “công nhận” quyền sử dụng đất, cấp giấy
chứng nhận lần đầu đối với diện tích 320,4m
2
tăng lên theo quy định tại khoản 2
Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, cụ thể là chưa thực hiện các thủ tục: Xác nhận
nguồn gốc thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp
với quy hoạch (điểm a khoản 2); Niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác
nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc thời điểm sử dụng đất tại trụ
sở Ủy ban nhân dân cấp xã khu dân nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong
thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai
gửi hồ đến Văn phòng đăng đất đai (điểm c khoản 2). Ông T1 không phải
người nộp hồ sơ đề nghị cấp lại GCNQSDĐ, không có giấy ủy quyền cho ai, hồ
không tài liệu thể hiện ông T1 nộp lệ phí trước bạ khi cấp đổi GCNQSDĐ
công nhận quyền sử dụng đất cấp mới với diện tích 320,8m
2
tăng lên, thể hiện phù
hợp lời khai của ông T1 không đi làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ.
Thời gian giải quyết hồ cấp đổi GCNQSDĐ theo quy định 25 ngày làm
việc (+15 ngày xã miền núi) nhưng hcấp đổi chỉ 7 ngày tngày nộp hồ
(15/12/2017-22/12/2017) ông T1 đã được công nhận quyền sử dụng 320,8m
2
đất
5
và cấp đổi GCNQSDĐ là bất thường, thể hiện có sự tác động để làm sai quy trình.
Hồ đăng ký biến động sang ông D: ngày 22/12/2017 vợ chồng ông T1
hợp đồng chuyển nhượng cho ông D thửa đất số 78 theo GCNQSDĐ mới được cấp
đổi cùng ngày 22/12/2017. Tuy nhiên, ngày 22/12/2017, GCNQSDĐ ông T1
được cấp năm 1995 chưa đăng biến động (xóa) thửa đất số 78 (trước đó là thửa
277) đến ngày 25/12/2017 mới đăng ký biến động (xóa) thửa 78 ra khỏi
GCNQSDĐ cấp năm 1995. Tại thời điểm hợp đồng chuyển nhượng cho ông D
(ngày 22/12/2017) thì thửa đất số 78 đang 2 GCNQSDĐ đều đang hiệu lực.
Hợp đồng chuyển nhượng ghi “thời hạn sử dụng: Lâu dài” là không đúng với
GCNQSDĐ xác định đất ở: lâu dài, đất CLN: đến 2063. Hợp đồng chuyển nhượng
ghi: Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng” không đúng sự thật sai với
GCNQSDĐ xác định: “Nguồn gốc sử dụng: Công nhận quyền sử dụng đất như
giao đất có thu tiền sử dụng đất”. Tờ lời chứng của UBND xã sai về trình tự thủ tục
- khác nhau nhiều nội dung giữa các bản hợp đồng: Hợp đồng chuyển nhượng nộp
trong hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ: “bên chuyển nhượng, Bên nhận chuyển nhượng” ;
ghi hợp đồng lập thành “5 bản chính (mỗi bản gồm 03 tờ, 04 trang”, “04 bản chính
được giao cho các bên”. Hợp đồng chuyển nhượng ông D giữ UBND lưu:
“Bên A”, “Bên B”; ghi sai tên của Phó chủ tịch Oanh, có thêm dòng ghi vợ ông D;
ghi hợp đồng lập thành “3 bản chính (mỗi bản gồm 02 tờ, 03 trang”, “02 bản chính
giao cho các bên”.
Đơn đăng biến động đất đai tài sản gắn liền với đất: ngày 25/12/2017 ông
D mới đơn nhưng ngày 22/12/2017 Phó chủ tịch Oanh đã xác nhận. Cùng
ngày ông D đơn đăng ký biến động (25/12/2017) Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai đã đăng biến động ngay trên GCNQSDĐ trong khi thời gian giải quyết
là 10 ngày (+15 ngày xã miền núi).
Hồ sơ thu hồi đất năm 2022: hồ thể hiện 2 trích lục tờ bản đồ số 59,
nhưng diện tích thửa đất của ông D, ông T khác nhau về diện tích, hình thể, thể
hiện rõ có 1 tờ bản đồ số 59 bị làm giả.
Từ những căn cứ trên đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T:
Buộc ông Lê Văn D trả lại cho gia đình ông T diện tích đất khong 270,6m
2
ông
D lấn chiếm của gia đình ông T tại tha đất số 423, tờ bản đồ s 8 địa ch tại thôn H,
Ngọc Vân, huyn Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, trong đó: 170,6 m
2
gồm diện ch
34,6m
2
nh FEHG din tích 136m
2
nh ABCD theo sơ đồ thẩm định ngày
13/01/2025, trị giá 551.038.000 đồng; Din tích khong 100m
2
đã được nhà nước thu
hồi để m đường thì đề nghTòa án buộc ông Lê n D tr lại cho ông T số tiền
323.000.000 đồng (Ba tm hai mươi ba triệu đồng) tiền bồi thường khi nhà c
thu hồi diện ch khoảng 100m
2
đất của gia đình ông T mà ông D đã nhận (do được
cấp GCNQSDĐ trồngn din ch đất khoảng 270,6m
2
đất tại tha đất số 423, tờ bản
đồ số 8 của gia đình ông T).
6
Buộc ông Văn D bồi thường cho gia đình ông T 3.000.000 đồng gtrị
tổng scây ông D đã chặt (gồm 10 cây bạch đàn, đường kính gốc 30cm, trị giá
300.000 đồng/cây).
Hủy giấy chứng nhận quyn sử dụng đất s CL 115894 do y ban nhân n
huyn Tân Yên cấp ny 22/12/2017 cho ông Nguyễn Duy T1 và bà Nguyễn ThB đối
vi thửa đất s 78, t bản đồ s59, din ch 2420,4m
2
(trong đó có 360m
2
đt ở nông
thôn 2063m
2
đất trồng cây lâu năm) tại thôn H, Ngọc Vân, huyn Tân n, tỉnh
Bc Giang.
Hủy một phn Quyết định số 1394/QĐ-UBND ngày 22/12/2017 ca UBND
huyn Tân Yên v việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Thị B.
Hủy nội dung chỉnh biến động ngày 25/12/2017 của Chi nhánh văn phòng
đăng đất đai huyện Tân Yên tại GCNQSDĐ sCL 115894 do UBND huyện
Tân Yên cấp cho ông Nguyễn Duy T1 Nguyễn Thị B ngày 22/12/2017 đối
với thửa đất s78, tờ bản đồ số 59 địa chỉ: thôn H, Ngọc n, huyện Tân n,
tỉnh Bắc Giang.
* Tại Bản tự khai biên bản ghi lời khai quá trình giải quyết vụ án bị đơn
ông Lê Văn D trình bày:
Khoảng ngày 22/12/2017 ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Duy
T1 thôn H, Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang thửa đất số 78, tờ bản
đồ số 59 diện tích 2420,4m
2
, diện tích đất ông nhận chuyển nhượng của ông T1 đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi nhận chuyển nhượng thì ông T1
có mời địa chính xã, trưởng thôn và ông T đi chứng kiến và chỉ mốc giới, ranh giới
đất nhà ông T1 chuyển nhượng cho ông. Mốc giới đất nhà ông T cao hơn đất nhà
ông T1 chuyển nhượng cho ông. Đến ngày 25/12/2017 Văn phòng đăng ký đất đai
huyện Tân Yên đã chỉnh lý trang 4 sang tên cho ông. Sau khi nhận chuyển nhượng
diện tích đất của ông T1, năm 2018 ông xây tường bao thì ông T1 cho rằng sổ
đỏ cấp cho ông T1 không đúng nên không đồng ý cho địa chính đo ranh giới đất
ông nhận chuyển nhượng của nhà ông T1.
Đến nay, ông xác định phần diện tích ông T khởi kiện thuộc diện tích đất ông
nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T1, ông chặt cây bạch đàn nằm trên phần
diện tích đất của ông nên ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
T về việc yêu cầu ông trlại diện tích đất khoảng 270,6m
2
tại thửa đất 423, tờ bản
đồ số 8, địa chỉ: thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, xã Ngọc Vân,
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang cũ) trong đó: có 170,6m
2
gồm diện tích đất 34,6m
2
hình FEHG diện tích đất 136m
2
hình ABCD theo đồ thẩm định ngày
13/01/2025; Diện tích đất khoảng 100m
2
được Nhà nước thu hồi đlàm đường
tương ứng số tiền 323.000.000 đồng tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi
ông đã nhận; Yêu cầu ông phải bồi thường gtrị tổng số cây ông đã chặt gồm
10 cây bạch đàn, đường kính gốc 30cm theo giá định giá tài sản ngày 13/01/2025
7
300.000 đồng/ cây; Buộc ông phải tháo dỡ các công trình cụ thể các đoạn
tường đã xây dựng trên diện tích lấn chiếm sang đất nhà ông T.
Đề nghị Toà án xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL
115894 cho vợ chồng ông T1 vào ngày 22/12/ 2017 (đã được chỉnh lý sang tên cho
ông) đối với diện tích đất 2420,4m
2
tại thửa số 78, tờ bản đồ số 59, địa chỉ thửa đất
thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh
Bắc Ninh cũ).
Quá trình giải quyết vụ án ngày 20/01/2025 ông Văn D đơn yêu cầu
phản tố yêu cầu ông Nguyễn Duy T phải trả diện tích 57,6m
2
là một phần thửa đất
số 78, tờ bản đồ số 59, địa chỉ: thôn H, Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc
Giang (nay là thôn H, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh) đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy T1, Nguyễn Thị B ngày 22/12/2017,
chỉnh sang tên cho ông Văn D ngày 25/12/2017 tương ng với số tiền
186.048.000 đồng mà ông T đã nhận bồi thường.
Tại phiên toà ông Văn D mặt không đồng ý với toàn byêu cầu khởi
kiện của Nguyễn Duy T. Ông xin rút yêu cầu phản tố về việc yêu cầu ông T trả
diện tích 57,6m
2
một phần thửa đất số 78, tờ bản đồ số 59, địa chỉ: thôn H,
Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh
Bắc Ninh) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy
T1, bà Nguyễn Thị B ngày 22/12/2017, chỉnh lý sang tên cho ông ngày 25/12/2017
tương ứng với số tiền 186.048.000 đồng mà ông T đã nhận bồi thường.
* Tại Bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thân Thị L2 trình
bày:
Bố mẹ chồng bà có diện tích đất ở và đất nông nghiệp ở thôn H, xã Ngọc Vân,
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, chia cho chồng em chồng ông Nguyễn
Duy T1 mỗi người sử dụng một phần, cụ thể: chồng được sử dụng thửa số
422 thửa số 423 tờ bản đồ số 8 diện tích 1434m
2
, trong đó 360m
2
đất
1074m
2
đất vườn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
10/11/1995 mang tên ông Nguyễn Duy T. Ông T1 được sử dụng thửa s277, tờ
bản đsố 8 diện tích đất 2100m
2
, trong đó 360m
2
đất và 1740m
2
đất vườn đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/11/1995 mang tên ông T1.
Sau khi được bố mcho đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì chồng bà có trồng một hàng cây bạch đàn theo ranh giới giữa thửa đất nhà bà và
thửa đất nhà ông T1, thửa đất hai nhà cao, thấp khác nhau. Đến năm 2017, ông T1
chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông Văn D. Khi cắm mốc
giới bàn giao đất có gọi chồng bà ra để chỉ ranh giới đất, chồng bà ông T có nói với
ông D ranh giới đất hai nhà được xác định từ vị trí hàng cây bạch đàn do chồng
bà trồng năm 2004.
Đến ngày 08/4/2024 ông D đưa người về đo đất, cắm mốc giới, thuê máy múc
8
đào đất, xúc đất và chặt cây bạch đàn nhà bà trồng làm ranh giới giữa 2 thửa đất.
Diện tích ông D lấn chiếm sang nhà bà khoảng 250m
2
có hình chữ” L”
Đến nay bà yêu cầu ông Văn D phải trả cho gia đình diện tích đất
khoảng 250m
2
do ông D đã lấn chiếm của gia đình thuộc thửa đất 78, tờ bản đ
số 59, địa chỉ: thôn H, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, xã Ngọc Vân, huyện
Tân Yên, tỉnh Bắc Giang cũ) có hình dạng là chữ” L”; Yêu cầu ông Văn D phải
bồi thường giá trtổng số cây ông D đã chặt gồm 10 cây bạch đàn, đường kính
gốc 30cm trị giá là 1.500.000 đồng/ cây, tại phiên toà bà L2 vắng mặt.
* Tại Bản tkhai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy T1
trình bày:
Bố ông cụ Nguyễn Duy N, mẹ cụ Nguyễn Thị G mảnh đất 3534m
2
sử dụng ttrước năm 1960. Năm 1980 ông T kết hôn với Thân Thị L2 thì được
bố mông chia cho ông T một phần đất để vợ chồng ông T riêng. Ranh giới
phần đất chia cho vợ chồng ông T tính từ mép bờ ao đến hết phần đất của gia đình
ông về phía giáp ruộng một phần đất phía sau ao để làm lối đi ra đường nên
phần đất chia cho ông T hình chữ L. Tổng diện tích ông T được chia 1434m
2
.
Khi chia đất bố mông đã yêu cầu ông T cào rãnh sâu 30cm, rộng 30cm để phân
biệt ranh giới phần đất ông T được chia với phần đất n lại của bmông. Diện
tích còn lại là 2100m
2
bố mẹ ông tiếp tục sử dụng.
Năm 1995 bố mẹ ông cho ông toàn bộ diện tích đất 2100m
2
đất còn lại, ông
ông T đã đi khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 422 diện tích 220m
2
đất
vườn thửa số 423 diện tích 1214m
2
trong đó 360m
2
đất 854m
2
đất vườn
đều tờ bản đồ số 8. Ông được cấp là thửa số 277, tờ bản đồ số 8 diện tích được cấp
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2100m
2
. Ranh giới thửa đất nhà ông và
nhà ông T hàng cây xoan bạch đàn do ông T trồng cách ranh giới đất giữa
nhà ông và nhà ông T 1m. Ông T thu hoạch bạch đàn và xoan 2 lần. Năm 2016 ông
lấn ao sát đất nhà ông T đtrồng bạch đàn, phần đất gia đình ông T cao hơn nên
ranh giới giữa 2 nhà rất rõ ràng.
Đến năm 2017, ông chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông
Văn D. Khi chuyển nhượng ông gọi ông T cùng ông đưa ông D ra chỉ mốc giới
đất hiện trạng các bên đang sử dụng theo đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã được cấp năm 1995. Ông D đã thanh toán tiền chuyển nhượng cho ông nhận
làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 277.
Ông đưa cho ông D bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toàn bộ quá trình
cấp đổi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông D thì ông D người làm
và mang về cho gia đình ông ký, khi ký do tin tưởng ông D và cơ quan nhà nước sẽ
làm đúng thực tế đất mà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp lần đầu cho
ông nên ông không xem kỹ.
9
Đầu năm 2024, ông thấy ông T nói với ông ông D đưa người về đào đất,
múc đất chặt cây bạch đàn ông T trồng trên đất (gần ranh giới đất giữa 2
nhà). Sau đó ông thấy thửa đất số 277 ông D mua của ông năm 2017 thì sau khi
làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa số 78, tờ bản đồ
số 59 diện tích 2420,4m
2
tăng lên 320m
2
so với thửa đất ban đầu, cấp cả diện
tích khoảng 250m
2
đất trong thửa số 423 của gia đình ông T đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 vào thửa số 78. Ông nhiều lần yêu cầu
ông D làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dúng ranh giới, diện tích
thửa đất số 277 ông đã chuyển nhượng cho ông D năm 2017 nhưng ông D không
trả lại đất cho ông T.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông D trả lại diện tích đất khoảng 250m
2
ông D
lấn chiếm tại thửa số 423, tờ bản đồ số 08 tại thôn H, Ngọc Vân, huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang cho ông T ông hoàn toàn đồng ý, đề nghị Toà án chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông T theo quy định, tại phiên toà ông T1 vắng mặt.
* Tại Bản tự khai người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị B
trình bày:
kết hôn với ông Nguyễn Duy T1 về sinh sống với gia đình chồng trên
tại thửa đất số 277, tờ bản đồ số 8, diện tích 2100m
2
tại thôn H, Ngọc Vân,
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, liền kề với thửa đất số 423, tờ bản đồ số 08 diện
tích 1434m
2
của ông T, giữa hai gia đình ranh giới ràng, sử dụng ổn định,
liên tục nhiều năm không tranh chấp gì. Đến năm 2017 vợ chồng chuyển
nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông Lê Văn D.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp đất đai giữa nhà
ông T và ông D tại vị trí ranh giới đất giữa hai gia đình, bà đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của ông T, đồng ý ranh giới đất giữa hai gia đình như ông T xác định, bà đồng
ý với các lời khai của ông Nguyễn Duy T1, đề nghị Toà án buộc ông D sử dụng
đúng diện tích thửa 277 vợ chồng đã chuyển nhượng cho ông D năm 2017,
ông D phải trả lại cho ông T diện tích đất đã lấn chiếm, tại phiên toà B vắng
mặt.
* Tại Bản tự khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Duy
H1, anh Nguyễn Duy Hoà, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị T2 đều trình bày:
Toàn bộ thửa đất số 423, tờ bản đồ số 08 diện tích 1214m
2
trong đó 360m
2
đất
854m
2
đất vườn nguồn gốc do ông nội anh chị để lại cho bố mẹ anh
chị ông Nguyễn Duy T Thân Thị L2 khoảng từ năm 1980. Bố manh chị
đã cào rãnh sâu 30cm, rộng 30cm tạo thành hình chữ L để phân biệt ranh giới phần
đất được chia với phần đất còn lại ông nội anh chị chia cho ông Nguyễn
Duy T1 diện tích 2100m
2
, gia đình anh chị gia đình ông T1 sdụng ổn định,
không tranh chấp, biến động gì. Ông Văn D người nhận chuyển nhượng
toàn bộ thửa đất của ông Nguyễn Duy T1, khi đến sử dụng đã lấn sang đất của gia
10
đình anh chị khoảng 250m
2
. Nay bố anh chkhởi kiện yêu cầu ông D trả lại gia
đình anh chị toàn bộ diện tích đất lấn chiếm khoảng 250m
2
trong đó 150m
2
đất ông
D đang quản lý, sử dụng và khoảng 100m
2
đất ông D đã nhận tiền bồi thường
tương đương 323.000.000 đồng bồi thường 15.000.000 đồng gía trị số cây ông
D đã chặt thì anh chị hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bố anh chị, anh
chị đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bố anh chị.
Ông D yêu cầu phản tố cho rằng bố anh chị lấn chiếm 57,6m
2
đất là không
sự thật, anh chị không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông D, đnghị Toà án
không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D. Anh chị đnghị Toà án cho anh chị
được vắng mặt trong tất cả các buổi làm phiên toà xét xử vụ án, tại phiên toà
anh H1, anh Hoà, chị H2, chị T2 vắng mặt.
* Tại văn bản số 123 ngày 31/10/2024 của UBND Ngọc Vân, huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang xác định:
Về nguồn gốc thửa đất: thửa đất số 78, tờ bản đồ số 59 diện tích 2420,4m
2
thửa số 77 tờ bản đồ số 59 diện tích 979,6m
2
theo bản đồ địa chính Ngọc Vân
đo năm 2012, địa chỉ: thôn H, Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang thửa
đất này trước đây thửa số 277 tờ bản đồ số 08 diện tích 2100m
2
thửa số 423
tờ bản đồ số 08 diện tích 1214m
2
theo bản đồ giải thửa Ngọc Vân đo năm 1991
đã được UBND huyện Tân Yên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ
ông Nguyễn Duy T1 hộ ông Nguyễn Duy T vào mục đích sử dụng đất đất
vườn.
Theo bản đồ giải thửa: thửa đất của ông Nguyễn Duy T1 thể hiện tại thửa số
277 tờ bản đồ số 08 diện tích 2100m
2
, còn thửa đất của ông Nguyễn Duy T thể
hiện tại thửa số 423 tbản đồ số 08 diện tích 1214m
2
. Thửa đất số 277, tờ bản đ
số 08 diện tích 2100m
2
được thể hiện tại sổ mục quyển số 01 trang số 34 tại
sổ địa chính quyển số 03 trang số 118 của xã Ngọc Vân. Thửa đất số 423 tờ bản đồ
số 08 diện tích 1214m
2
được thể hiện tại sổ mục quyển số 01 trang số 41 tại
sổ địa chính quyển số 03 trang số 115 của xã Ngọc Vân.
Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 đối với thửa đất 277
và thửa đất số 423 tờ bản đồ số 08 hiện UBND xã Ngọc Vân không còn lưu trữ.
Hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 277, tờ bản đồ
số 08 nay thửa số 78, tờ bản đồ số 59 cấp ngày 22/11/2017 mang tên ông
Nguyễn Duy T1 và bà Nguyễn Thị B gồm có đơn đề nghị cấp đổi lại của hộ, sơ đồ
đo đạc chỉnh lý thửa đất, biên bản kiểm tra, quyết định của UBND huyện.
Hồ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy T1
Nguyễn Thị B sang cho ông Văn D gồm Hợp đồng chuyển nhượng số 84
ngày 22/12/2017, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng minh nhân dân
của hai bên phô tô.
* Tại biên bản ghi lời khai của bà Nguyễn Thị H5 người đại diện theo uỷ
11
quyền của Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh trình bày:
Với cách người đại diện theo uỷ quyền của UBND Ngọc Thiện, tỉnh
Bắc Ninh bà đồng ý với ý kiến của UBND xã Ngọc Vân ngày 31/10/2024.
Ngày 14/12/2017 bà, ông T1, ông T, ông Điện, ông Thắng đã đến thực địa
thửa đất nhà ông T ông T1. Ông T ông T1 thống nhất ranh giới hiện trạng
của 2 thửa đất của hai gia đình sử dụng đúng như bản đồ đo đạc năm 2012. Sau khi
hai bên thống nhất ranh giới theo bản đồ năm 2012 thì có lập biên bản làm việc xác
định ranh giới giữa hộ ông T ông T1 không có tranh chấp, nhất trí với biên bản
làm việc đã lập ngày 14/12/2017 có chữ ký của ông T1 là chủ sử dụng đất còn ông
T xác định ranh giới của nhà ông T và ông T1 đúng như sơ đồ đo đạc năm 2012 và
ký trực tiếp vào sơ đồ thửa đất của nhà ông T. Sau khi các bên thống nhất ranh giới
thì ông T1 đã làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017.
Ông T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích theo hiện trạng
ông T1 đang sử dụng 2420,4m
2
tại thửa số 78, tờ bản đồ số 59, địa chỉ thôn H,
Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh
Bắc Ninh). Hồ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử đụng đất cho ông Nguyễn
Duy T1 năm 2017 theo bản đồ đo đạc năm 2012 và hiện trạng sử dụng đất của gia
đình ông T1 tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay ông T
khởi kiện tranh chấp quyền sử đụng đất với ông D, đề nghị Toà án xem xét yêu cầu
khởi kiện của ông T yêu cầu phản tố của ông D theo quy định của pháp luật, tại
phiên toà bà H5 vắng mặt.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26/02/2026, bà Nguyễn Thị H5 trình bày thêm:
Sau khi đo đạc lại năm 2012, thửa đất của hộ ông Nguyễn Duy T hộ ông
Nguyễn Duy T1 sự thay đổi về hình thửa diện tích thửa đất. Năm 2017, khi
ông Nguyễn Duy T1 làm hồ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
bản đồ đo đạc năm 2012 và hiện trạng sử dụng đất tại thởi điểm cấp đổi thì UBND
Ngọc Vân (cũ) đã giải thích hướng dẫn ông Nguyễn Duy T cấp đổi đồng
thời. Về phía gia đình ông Nguyễn Duy T làm hồ cấp đổi Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo bản đồ đo đạc năm 2012 hay không thì UBND Ngọc
Thiện (mới) không nắm được do hiện nay không có tài liệu liên quan lưu trữ tại Ủy
ban.
* Tại văn bản ngày 17/9/2025 của ông Hoàng Trung H1 người đại diện
theo uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh trình bày:
Ông Nguyễn Duy T1 vợ là bà Nguyễn Thị B sử dụng thửa đất tại Ngọc
Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh), ngày
10/11/1995 được UBND huyện Tân Yên cấp GCNQSDĐ số G 327842, số vào sổ
01325, trên GCNQSDĐ có thửa đất số 277, tờ bản đồ số 8, diện tích 2100m
2
(trong
đó có 360m
2
đất ở và 1740m
2
đất vườn) và các thửa đất nông nghiệp khác,
GCNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Duy T1.
12
Năm 2017, ông T1 B nộp hồ đề nghị cấp đổi GCNQSDĐ cho thửa
đất trên theo diện tích thực tế sử dụng đất theo bản đồ địa chính Ngọc Vân đo
đạc năm 2012, thành phần hcòn lưu trữ gồm: GCNQSDĐ số G 327842, số
vào sổ 01325 bản gốc; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất theo mẫu số 10/ĐK;
Trích bản đồ giải thửa của Ngọc Vân m 1991; Trích lục bản đồ địa chính
Ngọc n đo đạc năm 2012 (thửa đất số 78, tờ bản đồ số 59, diện tích 2420,4m
2
);
Biên xác minh nguồn gốc hiện trạng sử dụng đất của UBND Ngọc Vân; T
khai lệ phí trước bạ nhà, đất theo mẫu.
Ngày 15/12/2017, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện n Yên xác
nhận hồ sơ đủ điều kiện cấp đổi GCNQSDĐ vào đơn đăng ký và chuyển lên phòng
Tài nguyên và Môi trường huyện;
Ngày 19/12/2017, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Yên ban hành
Tờ trình số 1235/Ttr-TNMT đề nghị UBND huyện Tân Yên cấp đổi GCNQS
cho ông T1, bà B;
Ngày 22/12/2017, UBND huyện Tân Yên ban nh Quyết định số 1394/QĐ-
UBND về việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Duy T1 Nguyễn Thị B,
thông tin về thửa đất như sau: thửa đất số 78, tờ bản đồ số 59; Diện tích: 2420,4 m
2
(trong đó: đất nông thôn: 360m
2
, đất trồng cây lâu năm: 2060,4m
2
); Thời hạn sử
dụng: Đất nông thôn: lâu dài; đất trồng CLN: Đến năm 2063. Nguồn gốc sử
dụng: Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất. Địa chỉ
thửa đất: Thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 25/12/2017, ông Nguyễn Duy T1 vợ Nguyễn Thị B nộp hồ
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên cho ông Văn D, thành phần hồ
gồm: GCNQSDĐ số CL 115894, số vào sổ CH 000777 do UBND huyện Tân
Yên cấp ngày 22/12/2027 bản gốc (thửa đất số 78, tờ bản đồ số 59, diện tích:
2420,4m
2
); Đơn đăng biến động đất đai theo mẫu số 09/ĐK; Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được UBND Ngọc Vân chứng thực ngày
22/12/2017; Các tờ khai thuế theo quy định;
Ngày 25/12/2017, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Tân Yên phê
duyệt hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chỉnh lý tại trang 03 của
GCNQSDĐ nội dung như sau: “Chuyển nhượng cho ông Văn D, số CMND
012554282, địa chỉ: Số 26, tổ 7, phường PL, quận Long Biên, thành phố Nội
theo đơn đăng ngày 25/12/2017”. (Gửi kèm theo bản sao các hồ cấp đổi,
chuyển nhượng quyền sử dụng đất).
Việc Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Tân Yên thẩm định hồ sơ,
trình phòng Tài nguyên Môi trường, UBND huyện Tân Yên cấp đổi
GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Duy T1 Nguyễn Thị B đảm bảo đúng quy
định của pháp luật cụ thể:
13
Vthẩm quyền cấp đổi GCNQSDĐ: Đảm bo đúng thẩm quyền theo quy định
tại Điều 105, Luật đất đai s 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013; Quyết định số 609/QĐ-
UBND ngày 04/11/2015 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc ban nh quy chế phi
hợp gia Sở Tài nguyên và i trưng với UBNDc huyn, thành phố, UBND các
, phường, thị trn và các quan, tổ chức ln quan trong hot động của Văn phòng
đăng ký đất đai.
Vtrình tự, thủ tục đưc thc hin đúng theo quy định: Trình tự thc hiện việc
cấp đổi GCNQS được thực hin theo quy định tại Điều 76, Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ny 15/5/2014 của Cnh phủ quy định chi tiết một số điu ca Luật
Đất đai;
Vtnh phn hồ thực hiện theo quy định: Về hsơ cp đổi GCNQS đảm
bảo theo quy định tại khon 1, Điu 10 Tng số 24/2014/TT-BTNMT ngày
19/5/2014 của Bộ Tài nguyên Môi trường quy đnh về hồ sơ địa cnh;
Việc Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện Tân Yên xác nhận biến
động, cấp giấy chứng nhận do chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Văn
D ngày 25/12/2017 là đảm bảo đúng quy định của pháp luật cụ thể:
Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận: Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai
huyện Tân Yên thực hiện đảm bảo đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 37,
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một sđiều của Luật đất đai; Khoản 5, Điều 1 Nghị định số 10/2023/NĐ-CP
ngày 03/4/2023 của Chính Phủ; Quyết định số 609/2015/QĐ-UBND ngày
04/11/2015 của UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quy chế phối hợp giữa Sở Tài
nguyên Môi trường với UBND các huyện, thành phố, UBND các xã, phường,
thị trấn các quan, tổ chức liên quan trong hoạt động của Văn phòng Đăng ký
đất đai;
Về thẩm quyền xác nhận biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất đã cấp: Việc xác nhận biến
động do chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai huyện Tân Yên thực hiện đảm bảo đúng thẩm quyền theo quy định tại
khoản 1 Điều 17, khoản 1 Điều 19, Thông số 23/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài
nguyên và Môi trường;
Về trình tự, thủ tục được thực hiện đúng theo quy định: Thực hiện theo quy
định tại Điều 79, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của Luật Đất đai;
Về thành phần hồ sơ thực hiện theo quy định: Về hồ sơ đăng biến động do
chuyển quyền đảm bảo theo quy định tại khoản 2, Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-
BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên Môi trường quy định về hồ địa
chính, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT
ngày 19/9/2017 của Bộ Tài nguyên Môi trường quy định chi tiết Nghị định số
14
01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị
định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các
thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai;
Về đủ điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất: Thửa đất đủ điều
kiện chuyển quyền theo quy định tại Điều 167; Điều 168 và khoản 1 Điều 188 Luật
đất đai năm 2013.
Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh xem xét giải quyết ván theo
quy định của pháp luật, tại phiên toà ông H1 vắng mặt.
Với nội dung trên, bản án dân sự thẩm số 65/2025/DS-ST 11/11/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 3 –Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 6, khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 227, Điều 228,
khoản 2 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều
175, 176 của Bộ luật dân sự; Điều Điều 98, 99, 100, 166, 167, 168, Điều 188 Luật
Đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 27, Điều 236 của Luật đất đai năm 2024; Điểm đ
khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu
nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy T về việc:
- Yêu cầu ông Văn D trả diện tích khoảng 270,6m
2
đất lấn chiếm của gia
đình ông Nguyễn Duy T tại thửa đất số 423, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: thôn H,
Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
) trong đó 170,6m
2
gồm diện tích đất 34,6m
2
hình FEHG diện tích đất
136m
2
là hình ABCD theo sơ đồ thẩm định ngày 13/01/2025;
- Trả lại cho ông Nguyễn Duy T diện tích đất khoảng 100m
2
tương ứng số
tiền 323.000.000 đồng tiền bồi thường khi nnước thu hồi ông Văn D
đã nhận.
- Buộc ông Văn D phải tháo dỡ các công trình cụ thể các đoạn tường
đã xây dựng trên diện tích lấn chiếm sang đất nhà ông Nguyễn Duy T.
- Yêu cầu ông Lê n D bồi thường giá trị 10 cây bạch đàn, đường kính
gốc 30cm trị giá 300.000 đồng/ cây với số tiền 3.000.000 đồng.
2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Lê Văn D về việc: yêu cầu ông Nguyễn
Duy T phải trả diện tích đất 57,6m
2
là một phần thửa đất số 78, tờ bản đồ số 59, địa
chỉ: thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn H, xã Ngọc
Thiện, tỉnh Bắc Ninh) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Nguyễn Duy T1, Nguyễn Thị B ngày 22/12/2017, chỉnh sang tên cho ông
Văn D ngày 25/12/2017 tương ứng với số tiền 186.048.000 đồng ông Nguyễn Duy
T đã nhận.
15
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền
thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 25/11/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Duy T
kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự thẩm số
65/2025/DS-ST 11/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 Bắc Ninh, chuyển hồ
sơ về cho Tòa sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
Ông Nguyễn Duy T người bo v quyền lợi ích hợp pháp cho ông T
trình bày: Bản án thẩm vi phạm nghiêm trng t tng, gii quyết sai thm
quyn. Đây là th tục hành chính đã được Tòa án nhân dân tnh th và đương sự
đề ngh chuyển lên tỉnh để nhp v án nhưng Tòa thẩm không chuyển theo
ng dn ca TAND ti cao. Th hai, gii quyết v án trái pháp luật, không đúng
s thật. Sau khi kết qu ca bản án thẩm thì 2 thửa đất chồng lên nhau,
thửa đất ca ông D hiện nay 136m2 chồng lên diện tích đất của ông T1 đưc
cấp năm 1995. Dưới góc đ đánh giá chứng c đánh giá sai. Khi mà v án hành
chính xem xét hy giy chng nhận được gii quyết thì sẽ xem xét k hai giy
chng nhận này chồng lên nhau không. Giấy chng nhn cấp năm 2017 chồng
lên giấy chng nhn cấp năm 1995. Nội dung bản án sai pháp luật, không đúng
thc tế. Trình tự th tc t tụng sai nghiêm trọng, không thu thp chng c theo
yêu cầu của đương sự hồ địa chính của thửa đất đang có tranh chp. T đó
nhng nhận định sai v nội dung. Ông T kháng cáo toàn bộ bản án đề ngh hy bn
án sơ thẩm giao h sơ cho tòa sơ thẩm x li.
Ông Văn D người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông D trình
bày không nhất trí với nội dung kháng cáo của ông T. Vụ án dân sự đã được
TAND huyện Tân Yên thụ không thuộc trường hợp nhập với vụ án hành chính
do TAND tỉnh Bắc Giang thụ . Việc chuyển nhượng giữa các bên đã được tiến
hành các thủ tục theo quy định của pháp luật. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 22/12/2017 giữa vợ chồng ông T1 B và ông D đã được chứng
thực theo quy định của pháp luật. quan thẩm quyền đã đăng biến động
quyền sử dụng đất cho ông D ngày 25/12/2017 nên ông D là chủ sử dụng hợp pháp
diện tích đất nêu trên. Hồ chuyển nhượng thể hiện Ông D đề nghị đăng
biến động ngày 25/12/2017 nhưng PCT xác nhận ngày 22/12/2017 là do
xuất, không phải tài liệu giả mạo, không ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp
của các bên chuyển nhượng. Do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đăng
QSDĐ, không đăng quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất nên trong hợp đồng
không ghi tài sản chuyển nhượng nhà ở, công trình trên đất là phù hợp quy định
tại Điều 118 Luật Nhà ở. Việc chuyển nhượng tài sản gắn liền trên đất cho Ông D
16
đã được bà B ông T1 công nhận. Như vậy, việc ông D nhận chuyển nhượng QSDĐ
của ông T1 bà B theo Hợp đồng chuyển nhượng ngày 22/12/2017 và đã được đăng
biến động theo quy định của pháp luật nên Ông D chủ sử dụng đối với diện
tích 2420, 4 m
2
. Tài sản gắn liền trên đất đã được ông T1 B xác nhận đã
chuyển nhượng cho ông D. Ông D chặt 10 cây bạch đàn tài sản gắn liền trên đất
của ông D, không phải tài sản của ông T nên không sở để buộc Ông D
phải bồi thường cho ông T theo yêu cầu. Không có sở để xác định việc cấp đổi
vi phạm về thời hạn như ý kiến phát biểu của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của ông T. Đề nghị HĐXX phúc thẩm áp dụng Điều 308 BLTTDS quyết
định không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án thẩm.
Ông Nguyễn Duy T1 trình bày: Năm 2017 ông bán đất cho ông Văn D
diện tích 2.100m2 như trong sổ đỏ. Tại sao diện tích đất tăng lên 320m2 ông không
nắm được. Ông không phải người trực tiếp đi làm thủ tục tách sổ nên không rõ.
Sau khi bán đất cho ông D gia đình ông đã nhận đủ tiền và đã bàn giao đất cho ông
D. Khi bàn giao đất ông chỉ ranh giới đất cho ông D, khi đó mặt cả ông T,
ông Điện trưởng thôn anh Tiếp cán bộ địa chính xã. Ranh giới đất giữa nhà ông
T nhà ông T1 hàng cây bạch đàn một phần góc nhà ngang của bố mẹ cho
gia đình ông T1.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh phát biểu:
V t tng: T khi th lý cho đến khi Ngh án, thm phán, Thư HĐXX
thc hin đầy đủ các trình t, th tc t tng đảm bo quy định ca BLTTDS.
V vic chp hành pháp lut ca người tham gia t tng: Đã thc hin đúng
các quyền, nghĩa v được quy định ti Điu 70, 71, 72, 73 BLTTDS.
V ni dung: Đề ngh HĐXX áp dụng khon 1 Điu 308 B lut t tng dân
s, x: Không chp nhn kháng cáo ca ông T, gi nguyên bn án sơ thm s
65/2025/DS- ST ngày 11/11/2025 ca Tòa án nhân dân khu vực 3-Bắc Ninh.
Án phí DSPT: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Duy T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ông Nguyễn Duy T kháng cáo trong thời hạn luật định nên xác định
kháng cáo là hợp lệ.
[1.2] Một số người có quyền lợi nghĩa vụ ln quan đã được Tòa án triu tập hợp
lệ nhưng vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt những người này đảm bảo quy định
tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Duy T, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về tố tụng:
17
[2.1.1] Đối với nội dung ông T kháng cáo cho rằng Tòa án nhân dân huyện
Tân Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3- Bắc Ninh) không chuyển hồ vụ án
đến Tòa án nhân dân tỉnh để giải quyết theo quy định, xét thấy:
Ông Nguyễn Duy T khởi kiện yêu cầu phải trả cho gia đình ông diện tích đất
khoảng 270,6m2 do ông D đã lấn chiếm của gia đình ông tại thửa đất 423, tờ bản
đồ số 8, địa chỉ: thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, Ngọc Vân,
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang cũ); Yêu cầu phải bồi thường giá trị tổng số cây
mà ông D đã chặt gồm 10 cây bạch đàn, đường kính gốc 30cm theo giá định giá tài
sản ngày 13/01/2025 300.000 đồng/ cây; Buộc ông D phải tháo dỡ các công
trình cụ thể các đoạn tường đã xây dựng trên diện tích đất lấn chiếm sang nhà
ông T đối với bị đơn ông Lê Văn D, địa chỉ: số nhà 279/65, tổ 7, phường PL, thành
phố Nội. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Văn D đơn yêu cầu phản
tố yêu cầu ông T phải trả diện tích đất 57,6m2 một phần thửa đất số 78, tờ bản
đồ số 59, địa chỉ: thôn H, Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay
thôn H, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Nguyễn Duy T1, Nguyễn Thị B ngày 22/12/2017, chỉnh
sang tên cho ông Văn D ngày 25/12/2017 tương ứng với số tiền 186.048.000
đồng. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay Tòa án nhân dân
khu vực 3 Bắc Ninh) thụ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc “Tranh chấp
quyền sử dụng đất yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” đúng thẩm
quyền được quy định tại các Điều 26, Điều 35 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân
sự Điều 3, Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm
2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà
án nhân dân khu vực; quy định phạm vi, thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân
dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.
Do đó, kháng cáo của ông Nguyễn Duy T là không có căn cứ chấp nhận.
[2.1.2] Đối với nội dung ông Nguyễn Duy T kháng cáo cho rằng Tòa án
thẩm không thu thập tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, xét thấy:
Ngày 22/10/2024, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay
Tòa án nhân dân khu vc 3- Bắc Ninh) đã Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu
chng c (BL 38) Hồ sơ cp giy chng nhn quyn s dng đất năm 1995 đối
vi tha đất 277 thửa đt s 423 t bn đồ s 08, diện tích 2.100m2 tại thôn H,
Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bc Giang. Tuy nhiên, ti văn bn s 123 ngày
31/10/2024 của UBND xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bc Giang xác định H
sơ cp giy chng nhn quyn s dng đất năm 1995 đối vi tha đất 277 và thửa
đất s 423 t bn đồ s 08 hiện UBND xã Ngọc Vân không còn lưu tr. Do đó, nội
dung kháng cáo này của ông Nguyn Duy T là không có căn cứ.
[2.2] Về nội dung:
18
[2.2.1] Đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu ông Văn D trả diện
tích lấn chiếm của gia đình ông T tại thửa đất 423, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: thôn H,
Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc
Giang cũ) trong đó 170,6m
2
gồm diện tích đất 34,6m
2
hình FEHG diện
tích đất 136m
2
là hình ABCD theo sơ đồ thẩm định ngày 13/01/2025; Diện tích đất
khoảng 100m
2
được Nhà nước thu hồi đlàm đường thì đề nghị ông D phải trả lại
cho gia đình ông số tiền 323.000.000 đồng là tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi
ông D đã nhận. Buộc ông Văn D phải tháo dỡ các công trình cụ thể các
đoạn tường đã xây dựng trên diện tích lấn chiếm sang đất nhà ông T. Hội đồng xét
xử xét thấy:
- Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất số 78, tờ bản đồ số 59 diện tích 2420,4m
2
theo bản đồ địa chính xã Ngọc Vân đo năm 2012, địa chỉ: thôn H, Ngọc Vân,
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang ( nay thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh)
trước đây thửa số 277 tờ bản đồ số 08 diện tích 2100m
2
theo bản đồ giải thửa xã
Ngọc Vân đo năm 1991 đã được UBND huyện Tân Yên cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Duy T1 vào ngày 10/11/1995 vào mục
đích sử dụng đất đất vườn. Thửa đất số 77 tờ bản đồ số 59 diện tích 979,6m
2
theo bản đồ địa chính xã Ngọc Vân đo năm 2012, địa chỉ: thôn H, Ngọc Vân,
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang ( nay thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh)
trước đây thửa số 423 tờ bản đồ số 08 diện tích 1214m
2
theo bản đồ giải thửa xã
Ngọc Vân đo năm 1991 đã được UBND huyện Tân Yên cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Duy T vào ngày 10/11/1995 vào mục
đích sử dụng đất đất vườn. Hai thửa đất này của bố mông T1 ông T
cho ông T1 ông T. Sau khi ông T1 ông T được bố mẹ cho đất đã sdụng ổn
định và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Về quá trình sử dụng đất: Sau khi nhn Giy chng nhn quyn s dụng đất
lần đầu đối với các thửa đất trên, gia đình ông T gia đình ông T1 quản s
dụng đất ổn định, không tranh chấp vi ai trong nhiều năm. Đến năm 2017, ông T1
cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 2420,4m
2
thửa đất số 78, tờ
bản đồ số 59 địa chỉ: thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là
thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh). Hồ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất năm 2017 của nhà ông T1 đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền trên đất ngày
14/12/2017, trong đó, diện tích ông T1 đề nghị cấp đổi 2420,4m
2
, do cấp đổi
cấp lại cho đúng diện tích đang sử dụng. Sau khi ông Nguyễn Duy T1 chuyển
nhượng cho ông Lê Văn D thửa đất trên thì giữa ông D ông T xảy ra tranh chấp.
- Về xác định ranh giới thửa đất: Ông Nguyễn Duy T và ông Nguyễn Duy T1
cho rằng ranh giới thửa đất giữa đất giữa hai nhà hàng cây bạch đàn do ông
trồng m 2004, một góc căn nhà ngang do bố mẹ hai ông xây từ trước, ranh
19
giới đất nhà ông nhà ông T1 cao thấp khác nhau. Tuy nhiên, đến nay hàng cây
bạch đàn đã bị ông D chặt hiện trạng của hai thửa đất hiện đã đđất, ngôi nhà
ngang đã không còn nữa. Xét thấy: H sơ cp giy chng nhn quyn s dng đất
năm 1995 đối vi tha đất 277 tha đất s 423 t bn đồ s 08 hiện UBND
Ngọc Vân không còn u trữ. Căn cứ h cấp đổi quyn s dụng đất của ông
Nguyn Duy T1 th hin ông T đã trực tiếp vào đồ thửa đất còn ông T1
vào phần chủ sử dụng đất của đồ thửa đất kèm theo Biên bản làm việc ngày
14/12/2017. Theo Nguyễn Thị H5 công chức địa chính Ngọc Vân xác
định khi làm thủ tục để cấp đổi GCNQSDĐ năm 2017 cho ông T1 thì địa chính
vthực địa thửa đất, khi đó mặt trưởng thôn, ông T1, ông T. Ông T, ông T1
thống nhất ranh giới, hiện trạng của nhà ông T1 nhà ông T sử dụng đúng như
bản đồ đo đạc năm 2012. Sau khi hai bên thống nhất ranh giới thì lập biên bản làm
việc vào ngày 14/12/2017. Tại biên bản việc ngày 14/12/2017 ông T1 ông T
đồng ý diện tích và ranh giới của 2 nhà theo hiện trạng và bản đồ đo đạc năm 2012.
Ông T xác định chữ Nguyễn Duy T tại đồ thửa đất kèm theo biên bản làm
việc ngày 14/12/2017 chữ của ông. Tại vị trí thửa đất ông T thể
hiện số thửa, diện tích hình thể. Kể từ sau khi ký, vợ chồng ông T cũng không
bất kỳ kH1 nại nào liên quan đến quyền sử dụng đất được thể hiện trên bản đồ
địa chính năm 2012. Ngoài ra, tháng 4 năm 2022 khi UBND huyện Tân Yên thu
hồi một phần đất vườn của ông Văn D với diện tích 841,6 m
2
, thu hồi một
phần đất vườn của ông gia đình Nguyễn Duy T với diện tích 124,7m
2
. Theo
danh sách thông báo kèm theo thu hồi đất để thực hiện thông tin thửa đất theo bản
đồ địa chính diện tích của ông D là 2420,4m
2
còn diện tích hộ ông T là 979,6m
2
thì
ông T không ý kiến phản đối gì. Như vậy, đủ căn cứ xác định phần diện tích
đất ông T1 được cấp đổi năm 2017 là diện tích đất ông T1 thực tế đang sử dụng và
được thể hiện tại bản đồ do đạc từ năm 2012. vậy, cần căn cứ vào bản đồ địa
chính xã Ngọc Vân năm 2012 để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại kết quả trích đo các thửa đất và báo cáo kết quả trích đo các thửa đất đang
tranh chấp của Công ty TNHH một thành viên Kim Hoàng: tiến hành đo đạc theo
hiện trạng sử dụng đất và xác định vị trí tranh chấp theo bản đồ địa chính Ngọc
Thiện được đo đạc năm 2012, thể hiện: diện tích thửa đất 78 của ông Văn D
hiện trạng đang sử dụng, theo bản đồ đo đạc năm 2012 diện tích đất thu hồi xác
định 2325,2m
2
. Diện tích hiện trạng thửa đất số 77 do hộ ông T hiện trạng đang
sử dụng, theo bản đồ đo đạc năm 2012 diện tích đất thu hồi xác định
1015,6m
2
. Phần diện tích đất đang tranh chấp có 170,6m
2
gồm diện tích đất 34,6m
2
hình FEHG diện tích đất 136m
2
hình ABCD theo đồ thẩm định ngày
13/01/2025 diện tích đất 100m
2
đã được nhà nước thu hồi được xác định nằm
trong phần diện tích đất của ông Văn D theo đồ cấp giấy chứng nhận quyền
20
sử dụng đất cho ông T1, B ngày 22/12/ 2017 được chỉnh sang tên ông
Văn D ngày 25/12/2027.
Do đó, nguyên đơn ông Nguyễn Duy T khởi kiện yêu cầu ông Văn D trả
diện tích đất 270,6m
2
lấn chiếm của gia đình ông T tại thửa đất 423, tờ bản đồ số 8,
địa chỉ: thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, Ngọc Vân, huyện n
Yên, tỉnh Bắc Giang cũ) trong đó 170,6m
2
gồm diện tích đất 34,6m
2
hình
FEHG diện tích đất 136m
2
hình ABCD theo đồ thẩm định ngày
13/01/2025; Diện ch đất khoảng 100m
2
được Nhà nước thu hồi đlàm đường
tương ứng số tiền 323.000.000 đồng tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi
ông D đã nhận. Buộc ông Lê Văn D phải tháo dỡ các công trình cụ thể các đoạn
tường đã xây dựng trên diện tích lấn chiếm sang đất nhà ông T không có căn cứ
chấp nhận.
[2.2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T yêu cầu phải bồi thường giá trị
tổng số cây mà ông D đã chặt gồm 10 cây bạch đàn, đường kính gốc 30cm theo giá
định giá tài sản ngày 13/01/2025 là 300.000 đồng/ cây.
Qua xem xét, lời khai của các đương skết quả xem xét thẩm định tại
chỗ các cây bạch đàn hiện không còn, các cây bạch đàn trên được trồng trên phần
đất đang tranh chấp. Theo như phân tích tại mục [2.2.1] thì diện tích đang tranh
chấp được xác định thuộc quyền sdụng hợp pháp của ông Văn D. Đối với tài
sản gắn liền trên đất tuy không được thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng
nhưng đã được ông T1 B công nhận (BL152) cho đến nay cũng không ý
kiến gì. Do đó, ông D quyền quản lý, sử dụng xử cây trồng trên phần đất
thuộc quyền sử dụng của mình. Việc ông D chặt bỏ các cây bạch đàn nêu trên
không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Duy T. Mặt khác,
ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh 10 cây bạch đàn nêu
trên thuộc quyền sở hữu của gia đình ông hoặc được trồng trên phần đất của gia
đình mình. Vì vậy, yêu cầu buộc ông Lê Văn D bồi thường giá trị 10 cây bạch đàn,
đường kính gốc 30cm với tổng số tiền 3.000.000 đồng của ông Nguyễn Duy T
không có cơ sở để chấp nhận.
[4]. Quá trình giải quyết ván tại phiên toà nguyên đơn ông Nguyễn Duy
T người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiến về
việc: Toà án xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 115894 cho
vợ chồng ông T1 vào ngày 22/12/ 2017 (đã được chỉnh lý sang tên cho ông Văn
D) đối với diện ch đất 2420,4m
2
tại thửa số 78, tbản đồ s59, địa chỉ thửa đất
thôn H, Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh
Bắc Giang cũ); Hủy một phn Quyết định s 1394/QĐ-UBND ngày 22/12/2017 của
UBND huyn Tân Yên về việc cp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Duy T1 và bà
Nguyn Th B; Hủy nội dung chỉnh biến động ngày 25/12/2017 của Chi nhánh
văn phòng đăng đất đai huyện Tân Yên tại GCNQSDĐ số CL 115894 do
21
UBND huyện Tân Yên cấp cho ông Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Thị B ngày
22/12/2017 đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 59 địa chỉ: thôn H, Ngọc Vân,
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Hội đồng xét xthấy: Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, hồ cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy T1 năm 2017 đảm bảo đúng
quy định của pháp luật nên việc ông Nguyễn Duy T và người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CL 115894 cho vợ chồng ông Nguyễn Duy T1 vào ngày 22/12/ 2017 đã được
chỉnh sang tên ông Văn D của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
diện tích đất 2420,4m
2
tại thửa số 78, tờ bản đồ s59, địa chỉ thửa đất thôn H,
Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh (thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
cũ); Hy một phn Quyết đnh s 1394/-UBND ngày 22/12/2017 ca UBND
huyn Tân Yên vvic cp GCNQSDĐ cho ông Nguyn Duy T1 và bà Nguyễn Th B;
Hủy nội dung chỉnh biến động ngày 25/12/2017 của Chi nhánh văn phòng đăng
ký đất đai huyện Tân Yên tại GCNQSDĐ số CL 115894 do UBND huyện Tân Yên
cấp cho ông Nguyễn Duy T1 Nguyễn Thị B ngày 22/12/2017 đối với thửa
đất số 78, tờ bản đồ số 59 địa chỉ: thôn H, Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc
Giang (nay là thôn H, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh) là không có căn cứ.
[5] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Văn D:
Tại phiên toà thẩm, ông Văn D xin rút toàn bộ yêu cầu phản tố không
yêu cầu ông Nguyễn Duy T phải trả diện tích đất 57,6m
2
là một phần thửa đất số
78, tờ bản đồ số 59, địa chỉ: thôn H, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
(nay là thôn H, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh) đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy T1, Nguyễn Thị B ngày 22/12/2017, chỉnh
sang tên cho ông Văn D ngày 25/12/2017 tương ứng với số tiền 186.048.000
đồng ông Nguyễn Duy T đã nhận. Việc ông Văn D rút yêu cầu phản tố là tự
nguyện nên Hội đồng xét xử thẩm đình chỉ yêu cầu này của ông D có căn cứ
theo khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Duy T kháng cáo đề nghị hủy bản án dân sự thẩm, giao hồ sơ
cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại vụ án tuy nhiên ông T không đưa ra được
căn cứ theo quy định tại Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó, không căn cứ
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Duy T, gi nguyên bản án dân sự
thẩm số 65/2025/DS-ST ngày 11/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc
Ninh.
[6] Về chi phí định giá thẩm định tại chỗ tài sản: Do yêu cầu của nguyên
đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí định giá
thẩm định tại chỗ tài sản 18.350.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157,
khoản 1 Điều 165 Bộ luật T tụng Dân sự, xác nhận ông T đã nộp đủ.
[7] Về án phí:
22
- Về án phí dân sự thẩm do yêu cầu ông T không được chấp nhận nên ông
T phải chịu án phí dân sự thẩm nhưng do ông T người cao tuổi nên được
miễn án phí dân sự thẩm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Trả lại ông n D 4.950.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai
thu tiền tạm ứng án phí số 0003591 ngày 17/02/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh
Bắc Ninh (Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang cũ).
- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn
Duy T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên ông T người cao tuổi nên
cần miễn án phí cho ông T theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
[8] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị, Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Duy T, gi nguyên bản án dân sự thẩm
số 65/2025/DS-ST ngày 11/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.
2. Ván phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
lệ phí Tòa án
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Duy T.
3. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 3-Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS
Nguyễn Ngọc Chung
23
Tải về
Bản án số 103/2026/DS-PT Bản án số 103/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 103/2026/DS-PT Bản án số 103/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất