Bản án số 102/2026/DS-PT ngày 19/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 102/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 102/2026/DS-PT ngày 19/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 102/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Q - Trương Văn D
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 102/2026/DS-PT
Ngày: 22/01/2026
V/v tranh chấp đòi lại tài sản
quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH
TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Đinh Tiền Phương
Bà Hoàng Thị Thúy Lành
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Chiêu Linh - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân n
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 825/2025/TLPT-DS, ngày 17
tháng 11 năm 2025 về việc Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất.
Do Bn án dân s sơ thm số 216/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025,
của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1023/2025/QĐ-PT ngày
16 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Văn Q, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp T, T, tỉnh
Tây Ninh.
Đại diện theo ủy quyền của anh Q: Anh Nguyễn Duy D, sinh năm 1978;
địa chỉ: 202/31/11, đường H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trương Văn D, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Tây
Ninh; có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Đỗ Thị N, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng
mặt.
2
3.2. Chị Trà Thị Ngọc T, sinh năm 1976; địa chỉ: ấp T, T, tỉnh Tây
Ninh; có mặt.
Người kháng cáo: Ông Lê Văn Q là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, anh Nguyễn Duy D trình
bày: Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế diện tích 9,5 m
2
, thuộc một phần
thửa 48, tờ bản đồ số 98 (BĐ 2000), tọa lạc tại ấp T, T, tỉnh Tây Ninh nằm
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Q. Hiện tại, anh D đã cất nhà
trên phần đất này. Nay anh Q khởi kiện yêu cầu anh D, chị T trả lại phần đất
diện tích đất này cho anh Q được quyền quản lý, sử dụng. Hàng rào lưới B40
do gia đình anh Q làm cách nay đã hơn 20 năm. Hiện trạng phần đất tranh chấp
gia đình anh D đã xây nhà kiên cố, khi xây nhà anh Q không biết anh D lấn đất
nên không có ý kiến gì.
Trong đơn khởi kiện ngày 09-9-2024, anh Q khởi kiện yêu cầu đòi lại
phần đất diện tích ngang 1 m x dài 17 m. Sau khi kết quả đo đạc, anh Q chỉ
tranh chấp phần đất có diện tích 9,5 m
2
, thuộc một phần thửa 48, tờ bản đồ số 98
(BĐ 2000), tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh.
* Bị đơn anh Trương Văn D trình bày: Phần đất diện tích 229,3 m
2
, thuộc
thửa 28, tờ bản đồ số 98, tọa lạc tại ấp T, T, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc của
cha mẹ anh cho khoảng năm 2010, đến năm 2015 thì vợ chồng tôi được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất của anh đang quản lý, sử dụng đã
hàng rào ràng, hàng rào lưới B40 do gia đình anh Q làm. Hiện tại, phần đất
này anh đã cất nhà kiên cố, khi xây nhà thì gia đình anh Q không ý kiến hay
khiếu nại gì. Nay anh không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
đồng thời anh yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có diện tích 9,5 m
2
, thuộc một
phần thửa 48, tờ bản đồ số 98 (BĐ 2000), tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh
cho vợ chồng anh được quyền quản lý, sử dụng.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị Đỗ Thị N trình bày: Chị
vợ của anh Q, chị thống nhất theo lời trình bày yêu cầu của anh Q, không bổ
sung gì thêm.
* Người quyền lợi nghĩa vliên quan, chị Trà Thị Ngọc T trình bày:
Chị vợ của anh D, chị thống nhất theo lời trình bày yêu cầu của anh D,
không bổ sung gì thêm.
Tại Bản án số 216/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của a án nhân khu vực
12 - Tây Ninh đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Q đối với anh
Trương Văn D về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Trương Văn D, chị Trà Thị Ngọc T
đối với anh Lê Văn Q về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
3
Anh Trương Văn D, chị Trà Thị Ngọc T được quyền quản lý, sử dụng
phần đất diện tích 9,5 m
2
(loại đất: Đất LNK), thuộc một phần thửa 48, tờ bản đồ
số 98 (BĐ 2000), tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; đất có t cận như sau:
Đông giáp một phn tha 48 dài 10,19 m + 6,53 m;
Tây giáp tha 28 dài 16,79 m;
Nam giáp mt phn tha 48 dài 0,94 m;
Bc giáp tha 29 dài 0,1 m.
Trên đất mt phần căn nhà cấp 4 ca anh Trương Văn D, ch Trà Th
Ngc T.
Các đương sự liên quan quyền nghĩa vụ liên hệ với quan nhà
nước thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Ghi nhn anh Trương Văn D, ch Trà Th Ngc T nghĩa vụ thanh
toán cho anh Văn Q, ch Đỗ Th N s tin 3.790.000 (ba triu, bảy trăm chín
mươi nghìn) đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên vchi phí tố tụng, án phí, quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/10/2025 anh Văn Q kháng cáo yêu cu Tóa án cp phúc thm
sa bản án thẩm theo ng buc ông Trương Văn D tr quyn s dng
đất din tích 9,5m
2
đã ln chiếm thuc diện tích được công nhn trong Giy
chng nhn quyn s dụng đất s AE 826601 ca ông. Buc ông D tháo d
công trình xây dng trái phép trên phần đt din tích 9,5m
2
và khôi phc li tình
trạng ban đu. Buc ông D phi chu toàn b án phí dân s thẩm và phúc
thm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Người đại diện hợp pháp của anh Văn Q anh Nguyễn Duy D trình
bày: Phần đất tranh chấp của anh Q, anh Q đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bị đơn anh D
đã lấn chiếm phần đất này của anh Q để xây hàng rào, xây nhà trên đất anh Q
không phát hiện kịp thời để ngăn cản. Nay đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
toàn bộ yêu cầu kháng cáo của anh Q, buộc anh D trả lại phần đất diện tích
9,5m
2
cho anh Q.
Bị đơn anh Trương Văn D không đồng ý yêu cầu kháng cáo của anh Q.
4
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ vụ án, chuẩn bị xét xử quyết định đưa vụ
án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình
tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện
đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của anh Lê Văn Q; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ o các chứng cứ, i liệu có trong hồ vụ án được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] V t tng: Đơn kháng o của ông Văn Q đưc thực hiện đúng quy
định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng n sự đưc gửi đến a án trong thời hạn
quy định tại Điu 273 Bộ luật Tố tụng n sự nên đưc chấp nhận xem t theo
trình tự phúc thẩm.
Chị Đỗ Thị N đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt chị N theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của anh Lê Văn Q thấy rằng:
[2.1] Theo biên bản đo đạc, thẩm định tại chỗ, thể hiện: Phần đất tranh chấp
diện tích 9,5 m
2
thuộc một phần thửa 48, tờ bản đsố 98 (BĐ 2000) hiện do
anh Q chị N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE826601, số
vào sổ cấp GCN 00748/202/2005/QĐ-UBND (HL) do Ủy ban nhân dân huyện
Dầu cấp ngày 19/6/2006, tọa lạc tại ấp T, T, tỉnh Tây Ninh trị giá phần
đất tranh chấp 3.790.000 đồng.
[2.2] Xét thấy: Giữa đất của anh Q và anh D đã có ranh đất rõ ràng, hai bên
đã cắm trụ, rào lưới B40 cách đây đã hơn 20 năm. Gia đình anh Q là người cắm
ranh, kéo hàng rào được sự chứng kiến và thống nhất của gia đình anh D.
Mặc đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh
Q, chị N nhưng thực tế anh Q, chị N không quá trình quản lý, sdụng đất
này. Cha của anh D ông Trương Văn Ngàn đã sinh sống trên đất này từ
khoảng năm 1990, cách nay đã hơn 30 năm, sau đó ông Ngàn cho lại anh D
phần đất này hơn 20 năm, khi anh D nhận tặng cho đất từ ông Ngàn thì trên đất
đã sẵn hàng rào lưới B40. Hiện tại, anh D đã xây nhà kiên cố trên phần đất
tranh chấp, khi xây nhà, anh Q không tranh chấp hay khiếu nại . Qua xác
minh ngày 17/7/2025 anh Văn Hiệp anh ruột của anh Q sống gần phần
đất tranh chấp, anh Hiệp trình bày đất anh Q, anh D đã ranh đất từ lâu, hai
bên đã tự cắm trụ hàng rào lưới B40 cách đây hơn 20 năm, từ trước đến
5
nay không thấy tranh chấp về ranh đất. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của anh Q vviệc yêu cầu anh D, chị T trả lại diện tích
đất tranh chấp 9,5m
2
. Đồng thời, chấp nhận yêu cầu phản tố của anh D, chị T
công nhận cho anh D, chị T được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp
là phù hợp quy định điều 166 Luật đất đai.
Tuy nhiên tại cấp thẩm anh D, chị T tự nguyện thanh toán cho anh Q,
chị N số tiền 3.790.000 đồng giá trị phần đất tranh chấp nên Hội đồng xét xử ghi
nhận vấn đề này.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm anh Q kháng cáo nhưng không cung cấp được
chứng cứ mới chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận.
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên anh Q phải chịu án p
dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
[5] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phù
hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn ckhoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Lê Văn Q.
- Ginguyên Bản án dân sư thẩm s216/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9
năm 2025, của Toà án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 khoản 1 Điều 39, khoản 1
Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, 175, 176 của Bộ luật
Dân sự; Điều 166, 203 của Luật đất đai năm 2013; Căn cứ Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Q đối với anh
Trương Văn D về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Trương Văn D, chị Trà Thị Ngọc T
đối với anh Lê Văn Q về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Anh Trương Văn D, chị Trà Thị Ngọc T được quyền quản lý, sử dụng
phần đất diện tích 9,5 m
2
(loại đất: Đất LNK), thuộc một phần thửa 48, tờ bản đồ
số 98 (BĐ 2000), tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; đất có t cận như sau:
Đông giáp một phn tha 48 dài 10,19 m + 6,53 m;
Tây giáp tha 28 dài 16,79 m;
Nam giáp mt phn tha 48 dài 0,94 m;
Bc giáp tha 29 dài 0,1 m.
6
Trên đất mt phần căn nhà cấp 4 ca anh Trương Văn D, ch Trà Th
Ngc T.
Các đương sự liên quan quyền nghĩa vụ liên hệ với quan nhà
nước thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Ghi nhn anh Trương Văn D, ch Trà Th Ngc T nghĩa vụ thanh
toán cho anh Văn Q, ch Đỗ Th N s tin 3.790.000 (ba triu, bảy trăm chín
mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn
phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. V chi phí đo đạc, định giá tài sn: Anh Văn Q, chị Đỗ Thị N phải
chịu 10.971.000 (mười triệu, chín trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng. Ghi nhận
anh Q, chị N đã nộp xong.
4. Về án phí:
4.1. Anh Văn Q, chị Đỗ Thị N phải chịu 600.000 đồng, được khấu trừ
300.000 đồng vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010866 ngày
07-5-2025 của Chi cục Thi hành án huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng
Thi hành án dân skhu vực 12 Tây Ninh), anh Q, chị N còn phải nộp tiếp số
tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
4.2. Anh Trương Văn D, ch Trà Th Ngc T không phi chu. Hoàn tr
cho anh D, ch T s tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đng tin tm ứng án phí đã
np theo biên lai thu s 0003693 ngày 29-8-2025 ca Thi hành án dân s tnh
Tây Ninh.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Anh Lê Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu
trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Q đã nộp theo Biên lai thu số
0006257 ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận anh Q
đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
7
- Phòng KTNV.TAT;
- TAND khu vực 12-Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án; Lưu VP.
Dương Thúy Hằng
Tải về
Bản án số 102/2026/DS-PT Bản án số 102/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 102/2026/DS-PT Bản án số 102/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất