Bản án số 183/2026 ngày 12/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 183/2026
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 183/2026
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 183/2026
| Tên Bản án: | Bản án số 183/2026 ngày 12/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Nai |
| Số hiệu: | 183/2026 |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp QSD đất Nguyễn Thị Lệ Phi - Nguyễn Thị T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 183/2026/DS-PT
Ngày: 12/3/2026
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng
Các Thẩm phán: Bà Bùi Lan Hương
Ông Nguyễn Văn Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Hoàng Thế Anh– Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và 12 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Đồng
Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 598/2025/TLPT-DS ngày
26 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 4-Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 69/2026/QĐ-PT ngày
23/01/2026, Thông báo dời mở phiên toà số 21/TB-TA ngày 09/02/2026, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ P, sinh năm 1962. Địa chỉ: số 929/27 khu
phố Trần Cao Vân, xã Dầu Giây, huyện Thống Nhất (nay là xã Dầu Giây) tỉnh
Đồng Nai.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961. Địa chỉ: số 929/27 khu phố
Trần Cao Vân, xã Dầu Giây, huyện Thống Nhất (nay là xã Dầu Giây) tỉnh Đồng
Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Chị Nguyễn Thị T H, sinh năm
1990; địa chỉ: 937/27 khu phố Trần Cao Vân, xã Dầu Giây, huyện Thống Nhất
(nay là xã Dầu Giây) tỉnh Đồng Nai (theo văn bản ủy quyền 24/02/2023).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đỗ Hoàng P, sinh năm 1960; Địa chỉ: số 929/27 khu phố Trần Cao
Vân, xã Dầu Giây, huyện Thống Nhất (nay là xã Dầu Giây) tỉnh Đồng Nai.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phong: Bà Nguyễn Thị Lệ P, sinh
năm 1962. Địa chỉ: số 929/27 khu phố Trần Cao Vân, xã Dầu Giây, huyện Thống
Nhất (nay là xã Dầu Giây) tỉnh Đồng Nai (theo văn bản ủy quyền 24/5/2023).
2. Chị Nguyễn Thị T H, sinh năm 1990; địa chỉ: 937/27 khu phố Trần Cao
Vân, xã Dầu Giây, huyện Thống Nhất (nay là xã Dầu Giây) tỉnh Đồng Nai.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P.
(Bà P, chị H có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính: Theo Bản án sơ thẩm:
* Theo nguyên đơn trình bày:
Năm 2003, bà P có nhận chuyển nhượng của gia đình bà Huỳnh Thị T1 diện
tích đất 3760m
2
thuộc thửa đất số 478, tờ bản đồ số 17 xã Bàu Hàm 2, huyện
Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai (nay là xã Dầu Giây, tỉnh Đồng Nai) với giá chuyển
nhượng 31 cây vàng. Hai bên có lập giấy sang nhượng đất thổ cư + vườn đề ngày
09/9/2003. Việc chuyển nhượng đất giữa hai bên là tự nguyện, hợp pháp theo quy
định.
Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (viết tắt QSDĐ) bà P đã
được Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất (cũ) cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với
thửa đất số 478, tờ bản đồ số 17 xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
(nay là xã Dầu Giây, tỉnh Đồng Nai), diện tích đất 3760m
2
, trong đó gồm 300m
2
đất thổ cư và 3460m
2
đất vườn theo Giấy chứng nhận QSDĐ số Y 909670 cấp
ngày 04/12/2003 tên bà Nguyễn Thị Lệ P.
Tuy nhiên do hoàn cảnh của bà T là con gái bà T1 rất khó khăn, bà T1 năn nỉ
bà P cho bà T ở lại và hứa khi nào cần lấy lại đất thì bà T sẽ trả nên bà P đồng ý
cho bà T ở nhờ trên đất nhưng hai bên chỉ nói miệng chứ không làm văn bản việc
việc cho ở nhờ.
Năm 2010, do bà P có vay nợ của Ngân hàng TMCP Công thương nhưng
không đủ khả năng thanh toán số nợ trên nên ngân hàng đã khởi kiện bà P đến Tòa
án tỉnh Đồng Nai, sau khi có quyết định của Tòa án thì Chi cục Thi hành án dân sự
đã bán đấu giá tài sản của bà P là diện tích đất 3302m
2
thuộc một phần thừa đất số
478 tờ bản đồ số 17. Vì vậy diện tích đất của bà P còn trong tại thửa đất số 478 tờ
bản đồ số 17 chỉ còn là 458m
2
(do bà P không có hồ sơ kê biên, bán đấu tài sản
trên của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất nên không thể cung cấp
cho Tòa án).
Đến năm 2022, khi bà P làm thủ tục để cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ thì bà
T ngăn cản tuyên bố tranh chấp, không cho đội đo đạc tiến hành đo vẽ nên hai bên
xảy ra tranh chấp. Hiện nay bà T đã xây dựng 01 căn nhà cấp 4 trên diện tích
khoảng 61m
2
. Bà T cho rằng diện tích đất bà T sử dụng, xây nhà là được mẹ bà T
là bà T1 cho trước khi bà T1 chuyển nhượng cho bà P là không đúng thực tế. Vì
theo Giấy sang nhượng đất thổ cư + vườn đề ngày 09/9/2003 thì gia đình bà T1 đã
3
chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất 3760m
2
thuộc thửa đất số 478, tờ bản đồ số
17 cho bà P.
Nay bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà P
diện tích đất 44m
2
(theo bản vẽ Tòa án đo đạc) thuộc một phần thửa đất số 478, tờ
bản đồ số 17 cũ bản đồ địa chính xã Bàu Hàm 2 (nay là thửa 45, tờ bản đồ 71 xã
Dầu Giây) trị giá thẩm định là 184.800.000 đồng. Do hiện nay bà T đã xây nhà cấp
4 trên đất nên bà P yêu cầu được nhận căn nhà trên đất và đồng ý hỗ trợ chi phí xây
dựng căn nhà nếu bà T bàn giao nguyên hiện trạng căn nhà đang sử dụng cho bà P.
Bà P chỉ đồng ý kết quả đo đạc lần đầu với diện tích 44 m
2
, sau khi bị đơn
làm đơn yêu cầu đo đạc lại thì kết quả đo đạc là 48,8m
2
tuy nhiên bà P không đồng
ý kết quả đo đạc này.
Theo bà P, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích
3706m
2
giữa bà Huỳnh Thị T1 và bà Nguyễn Thị Lệ P được lập tại UBND xã Bàu
Hàm 2 vào ngày 09/9/2003 là do bà P không để ý nên có sai sót do đảo số từ
3760m
2
thành 3706m
2
. Sai sót này dẫn đến sai sót dây chuyền tiếp theo chứ thực tế
bà nhận chuyển nhượng của bà T1 nguyên thửa tức là 3760m
2
.
Quá trình giải quyết bà Nguyễn Thị Lệ P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc
bà Nguyễn Thị T phải trả diện tích đất 44m
2
thuộc một phần thửa đất số 478, tờ
bản đồ số 17 cũ bản đồ địa chính xã Bàu Hàm 2 (nay là thửa 45, tờ bản đồ 71 xã
Dầu Giây) trị giá thẩm định là 184.800.000 đồng. Do bà T đã xây nhà cấp 4 trên
đất nên bà P nhận căn nhà trên đất và đồng ý hỗ trợ chi phí xây dựng căn nhà nếu
bà Thu bàn giao nguyên hiện trạng căn nhà đang sử dụng cho bà P.
* Theo bị đơn trình bày:
Mẹ ruột của bà Nguyễn Thị T là cụ Huỳnh Thị T1, sinh năm 1927 mất năm
2010 có khai hoang diện tích 3760m
2
cũ thuộc thửa 478, tờ bản đồ địa chính số 17
tọa lạc tại xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất (nay là xã Dầu Giây) tỉnh Đồng Nai.
Gia đình cụ T1 sử dụng diện tích đất ổn định không tranh chấp với ai và đã được
cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định.
Đến ngày 28/06/2003, cụ T1 chia cho bà Nguyễn Thị T (bị đơn) diện tích
54m
2
(ngang khoảng 4,5m x dài 12m) thuộc thửa 478, tờ bản đồ địa chính số 17
theo “giấy chia chia đất cho con” đề ngày 28/06/2003. Sau khi được chia đất thì bà
T xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất vào năm 2003 và sinh sống từ đó đến nay.
Diện tích đất còn lại là 3706m
2
cụ T1 chuyển nhượng hết cho bà Nguyễn Thị
Lệ P theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 09/9/2003 có xác
nhận của UBND xã Bàu Hàm 2 vào ngày 22/10/2003. Giữa bà Nguyễn Thị Lệ P và
cụ T1 có thống nhất chừa lại khoảng 54m
2
(nay thuộc thửa 45, tờ bản đồ địa chính
số 71 tọa lạc tại xã Dầu Giây, tỉnh Đồng Nai). Phần đất này cụ T1 không bán cho
bà P (theo “tờ giấy” có tiêu đề “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
(không đề ngày tháng năm) bà Nguyễn Thị Lệ P ghi rõ chừa ra 48m
2
; sở dĩ bà P
viết chừa lại 48m
2
mà không phải là 54m
2
vì đã trừ đi phần mương nước chảy có
diện tích khoảng 6m
2
).
4
Từ thời điểm năm 2003 đến khoảng trước năm 2022 gia đình bà T sinh sống
ổn định trên đất tranh chấp cho đến năm 2022 bà P nộp đơn ra UBND xã Dầu Giây
và tranh chấp với gia đình bà T và cho rằng bà P đã mua hết toàn bộ diện tích mà
cụ T1 để lại là 3760m
2
, việc gia đình bà T ở trên đất là do bà P cho bà T ở nhờ thì
bà T không đồng ý. Bà T khẳng định gia đình bà sinh sống trên diện tích đất 54m
2
(nay thuộc thửa 45, tờ bản đồ địa chính số 71 tọa lạc tại xã Dầu Giây, huyện Thống
Nhất) qua đo đạc lại là 48,8m
2
là hợp pháp, hoàn toàn không có việc mượn đất ở
nhờ như lời khai bà Nguyễn Thị Lệ P.
Nay bà P khởi kiện yêu cầu gia đình bà T trả lại diện toàn bộ diện tích đất
tranh chấp bà T không đồng ý.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Hoàng P (do bà P làm đại
diện) trình bày: Ông Phong thống nhất yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ P.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T H trình bày:Bà
Hương thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị T đề nghị bác toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ P, ngoài ra bà Hương không bổ sung gì thêm.
2. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4-Đồng Nai tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Lệ P về việc buộc bà Nguyễn Thị T trả diện tích đất 44m
2
thuộc một phần thửa đất
số 478, tờ bản đồ số 17 cũ bản đồ địa chính xã Bàu Hàm 2 (nay là thửa 45, tờ bản
đồ 71 bản đồ địa chính xã Dầu Giây) được giới hạn bởi các điểm (c, 7, 8, 9, 10, a,
b, c) thể hiện tại Trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2470/2023
do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh Thống Nhất lập ngày
11-8-2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ
thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
3. Về kháng cáo:
Ngày 27 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P có đơn
kháng cáo, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số
73/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai, giao
hồ sơ về cho Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai để tiến hành xét xử lại vụ án
theo đúng trình tự, thủ tục luật định.
Tại phiên toà, nguyên đơn bà P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu
kháng cáo. Các bên không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Các bên không ai giao nộp chứng cứ gì mới.
4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại
phiên tòa:
Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P đề nghị hủy toàn bộ bản
án sơ thẩm nhận thấy:
5
Ngày 29/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm
công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2023 về
việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
60/2024/QĐXXST-DS ngày 11/9/2024 ấn định thời gian mở phiên toà ngày
26/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 435/2024/QĐST-DS ngày 26/9/2024 ấn
định thời gian mở phiên tòa ngày 24/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số
13/2024/QĐST-DS ngày 24/10/2024 ấn định thời gian mở phiên tòa ngày
19/11/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 33/2024/QĐST-DS ngày
19/11/2024 ấn định thời gian mở lại phiên tòa ngày 12/12/2024; Thông báo mở lại
phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 10/4/2025 ấn định thời gian mở lại phiên tòa
ngày 25/4/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 187/2025/QĐST-DS ngày
25/4/2025; Thông báo mở lại phiên tòa số 04/2025/TB-TA ngày 05/8/2025 ấn định
thời gian mở phiên tòa ngày 19/8/2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa
số 253/TB-TA ngày 15/9/2025 ấn định thời gian mở lại phiên toà ngày 29/9/2025
giữa các đương sự nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P và bị đơn bà Nguyễn Thị T.
Tại Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 253/TB-TA ngày 15/9/2025, Tòa
án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai thông báo cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P
biết phiên tòa xét xử sơ thẩm sẽ được tiến hành vào lúc 08 giờ 00 phút ngày
29/9/2025 (bút lục 500). Tòa án tống đạt Thông báo về việc mở lại phiên tòa số
253/TB-TA cho bà P qua dịch vụ bưu chính. Tại Giấy báo phát (bút lục 503) thể
hiện Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 253/TB-TA đã được phát thành công
cho bà P. Tuy nhiên tại Bản tường trình về việc thất lạc bưu gửi ngày 17/10/2025
của ông Nguyễn Hồng Phúc (Bưu tá tai Bưu điện khu vực Trảng Bom, Thống Nhất)
thể hiện ông Phúc đã phát nhầm Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 253/TB-TA
cho địa chỉ khác chứ không phát cho bà P (bút lục 535).
Tại đơn kháng cáo ngày 27/10/2025 cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà P
kháng cáo cho rằng ngày 29/9/2025 bà vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm là do
không nhận được giấy triệu tập của Tòa án là có cơ sở.
Xét thấy, việc triệu tập đương sự để xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu
vực 4 – Đồng Nai là chưa hợp lệ vì lý do khách quan do Bưu tá phát nhầm và làm
thất lạc Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 253/TB-TA ngày 15/9/2025 cho
nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P. Đây là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tống đạt
văn bản tố tụng cho đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
Bên cạnh đó, tại Biên bản kê biên tài sản ngày 27/3/2009, Hội đồng cưỡng
chế Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất có ông Lê Hoàng Viễn là người lập biên
bản thể hiện: số diện tích đất 3.760m
2
thuộc thửa 478, tờ bản đồ số 17 Đoàn chỉ kê
biên 300m
2
đất thổ cư, 3.400m
2
đất trồng cây lâu năm và tài sản trên đất còn 60m
2
Đoàn không kê biên do số diện tích đất này của bà Nguyễn Thị T1, trú tại ấp Trần
Cao Vân, xã Bàu Hàm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trước đây khi sang
nhượng đất cho ông Phong, bà P đã cho lại con của bà nhưng chưa lập thủ tục tách
thửa (bút lục 76, 203). Tại Biên bản thỏa thuận thi hành án ngày 29/01/2010 thể
hiện: 60m
2
đất trồng cây lâu năm của bà Nguyễn Thị T1 Cơ quan thi hành án
không kê biên (bút lục 199). Tại Biên bản giải quyết việc thi hành án ngày
6
17/8/2010, bà P trình bày: bà P đã cắt đất bán cho bà Nguyễn Thị T diện tích
100m
2
đất thổ cư (hiện tại bà T đã xây nhà ở) nằm trong tổng diện tích quyền sử
dụng đất 3.760m
2
thuộc thửa đất số 478, tờ bản đồ số 17 (bút lục 197). Tuy nhiên,
tại bản tự khai ngày 13/11/2024 do ông Lê Hoàng Viễn – cán bộ công tác tại Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc trình bày: đối với vụ việc trên (tranh chấp
giữa bà P và bà T), tại thời điểm cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản là quyền
sử dụng đất có diện tích 3.302m
2
thuộc thửa đất số 478 của ông Đỗ Hoàng P và bà
Nguyễn Thị Lệ P để đảm bảo thi hành án; ngoài ra, cơ quan Thi hành án không
biết bà Nguyễn Thị T là ai vì bà Nguyễn Thị T không liên quan đến việc thi hành
án của ông Đỗ Hoàng P và bà Nguyễn Thị Lệ P (bút lục 420). Như vậy, lời khai
của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P có sự mâu thuẫn với nhau trong việc có
chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị T hay không? Nếu có chuyển nhượng thì
diện tích chuyển nhượng là bao nhiêu, 48m
2
, 54m
2
hay 100m
2
? Chuyển nhượng đất
trồng cây lâu năm hay đất thổ cư? Đồng thời nội dung các Biên bản làm việc của
Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất do ông Lê Hoàng Viễn lập có mâu
thuẫn với Bản tự khai của chính ông. Cụ thể, trong Bản tự khai ông Viễn cho rằng
không biết bà Nguyễn Thị T là ai, trong khi bà T là con bà Nguyễn Thị T1, đã sinh
sống ổn định trên đất từ năm 2003 tuy nhiên tại Biên bản kê biên tài sản ngày
27/3/2009 do ông Viễn lập cũng xác định diện tích đất tranh chấp thuộc bà Nguyễn
Thị T1 trước khi chuyển nhượng cho ông Phong, bà P thì bà T1 sau đó cho lại con
bà T1 (chính là bà Nguyễn Thị T) nhưng chưa làm thủ tục tách thửa. Những vấn đề
mâu thuẫn này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xác minh làm rõ để có đủ cơ sở giải
quyết vụ án. Như vậy, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P kháng cáo đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án do vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng là có căn
cứ để chấp nhận.
Từ những phân tích trên, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn bà Nguyễn Thị Lệ P. Áp dụng khoản 3 Điều 308 BLTTDS hủy Bản án dân sự
sơ thẩm số 73/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng
Nai và chuyển hồ sơ cho Tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án do thủ tục tống đạt
văn bản tố tụng cho đương sự chưa hợp lệ vì lý do khách quan và thu thập chứng
cứ chưa đầy đủ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Lệ P làm trong
hạn luật định và có đơn đề nghị miễn nộp tạm ứng án phí nên được xem xét giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà P:
Quá trình mở phiên toà xét xử vụ án của Toà án cấp sơ thẩm: Tòa án nhân
dân khu vực 4 – Đồng Nai ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
60/2024/QĐXXST-DS ngày 11/9/2024, ấn định thời gian mở phiên toà ngày
7
26/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 435/2024/QĐST-DS ngày 26/9/2024 ấn
định thời gian mở phiên tòa ngày 24/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số
13/2024/QĐST-DS ngày 24/10/2024 ấn định thời gian mở phiên tòa ngày
19/11/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 33/2024/QĐST-DS ngày
19/11/2024 ấn định thời gian mở lại phiên tòa ngày 12/12/2024; Thông báo số
01/2025/TB-TA ngày 10/4/2025 ấn định thời gian mở lại phiên tòa ngày 25/4/2025;
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 187/2025/QĐST-DS ngày 25/4/2025; Thông
báo số 04/2025/TB-TA ngày 05/8/2025 ấn định thời gian mở phiên tòa ngày
19/8/2025; Thông báo số 253/TB-TA ngày 15/9/2025 ấn định thời gian mở lại
phiên toà ngày 29/9/2025 giữa các đương sự nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P và bị
đơn bà Nguyễn Thị T.
Tại Thông báo số 253/TB-TA ngày 15/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 4
thông báo cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P biết phiên tòa xét xử sơ thẩm sẽ
được tiến hành vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 29/9/2025 (bút lục 500). Tòa án tống
đạt Thông báo số 253/TB-TA cho bà P qua dịch vụ bưu chính. Tại Giấy báo phát
(bút lục 503) thể hiện Thông báo số 253/TB-TA đã được phát thành công cho bà P.
Tuy nhiên tại Bản tường trình về việc thất lạc bưu gửi ngày 17/10/2025 của ông
Nguyễn Hồng Phúc (Bưu tá tai Bưu điện khu vực Trảng Bom, Thống Nhất) thể
hiện ông Phúc đã phát nhầm Thông báo số 253/TB-TA cho địa chỉ khác chứ không
phát cho bà P (bút lục 535).
Do đó, việc triệu tập đương sự để xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu
vực 4 – Đồng Nai là chưa hợp lệ vì lý do khách quan do Bưu tá phát nhầm và làm
thất lạc Thông báo số 253/TB-TA ngày 15/9/2025 cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Lệ P. Đây là vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho
đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
Bên cạnh đó, tại Biên bản kê biên tài sản ngày 27/3/2009, Hội đồng cưỡng
chế Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất có ông Lê Hoàng Viễn là người lập biên
bản thể hiện: Số diện tích đất 3.760m
2
thuộc thửa 478, tờ bản đồ số 17 Đoàn chỉ kê
biên 300m
2
đất thổ cư, 3.400m
2
đất trồng cây lâu năm và tài sản trên đất còn 60m
2
Đoàn không kê biên do số diện tích đất này của bà Nguyễn Thị T1, trú tại ấp Trần
Cao Vân, xã Bàu Hàm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trước đây khi sang
nhượng đất cho ông Phong, bà P đã cho lại con của bà nhưng chưa lập thủ tục tách
thửa (bút lục 76, 203). Tại Biên bản thỏa thuận thi hành án ngày 29/01/2010 thể
hiện: 60m
2
đất trồng cây lâu năm của bà Nguyễn Thị T1, Cơ quan thi hành án
không kê biên (bút lục 199). Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 13/11/2024 ông Lê
Hoàng Viễn trình bày: Đối với vụ việc trên (tranh chấp giữa bà P và bà T), tại thời
điểm cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích
3.302m
2
thuộc thửa đất số 478 của ông Đỗ Hoàng P và bà Nguyễn Thị Lệ P để
đảm bảo thi hành án; ngoài ra, cơ quan Thi hành án không biết bà Nguyễn Thị T là
ai vì bà Nguyễn Thị T không liên quan đến việc thi hành án của ông Đỗ Hoàng P
và bà Nguyễn Thị Lệ P (bút lục 420). Như vậy, nội dung các biên bản làm việc của
Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất do ông Lê Hoàng Viễn lập có mâu
8
thuẫn với bản tự khai của chính ông. Sự mâu thuẫn này chưa được Tòa án cấp sơ
thẩm xác minh làm rõ.
Xét thấy bản án sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về tống
đạt, dù được xác định không phải lỗi của Toà án nhưng việc sai sót này đã làm ảnh
hưởng nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của bà P nên kháng cáo của bà P đề
nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà P không phải
chịu án phí.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quy định
của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Lệ P. Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm
số 73/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai giải quyết lại vụ
án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng sẽ được Toà án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai giải
quyết lại sau.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Lệ P không phải chịu án phí.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND KV4-Đồng Nai;
- Phòng THADS KV4-Đồng Nai;
- Đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Thanh Phượng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm