Bản án số 208/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 208/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 208/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 208/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Đoàn Thị X-Đoàn Thị T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 208/2026/DS-PT
Ngày: 05 - 3 - 2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng
đất
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lương
Ông m Triệu Hữu
- Thư phiên tòa: Đào Nguyễn Yến Phương Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà
Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 05/3/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự thụ lý số 738/2025/TLPT-DS ngày 11/12/2025 về “Tranh chấp
quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 6 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 79/2026/QĐXXPT-DS
ngày 14/01/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đoàn Thị X, sinh năm 1964, địa ch: p TN, HKT, tnh
Vĩnh Long.
Người đại din theo y quyn của nguyên đơn: ông Đinh Văn N, sinh m
1977, địa ch: 305/68 p LQ, CL, tỉnh Vĩnh Long a ch liên h: 311 p PH,
GL, tỉnh Vĩnh Long, có mặt).
- B đơn: Đoàn Thị T, sinh m 1973, đa ch: p TN, HKT, tỉnh Vĩnh
Long.
Người đại din theo y quyn ca b đơn: Th Minh T1, địa ch: p TA,
TTB, tỉnh Vĩnh Long (có mt).
- Ngưi có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyn Th K, sinh năm 1945, địa ch: p TN, HKT, tỉnh Vĩnh Long
(có đơn xin vắng).
2. Ông Văn S, sinh m 1966, đa ch: p HN, HKT, tỉnh Vĩnh Long (có
mt).
2
3. Ông Đoàn Văn M, sinh năm 1968, địa ch: p TN, HKT, tỉnh Vĩnh Long
(vng mt).
4. Đoàn Th N, sinh năm 1988, địa ch: p TN, HKT, tỉnh Vĩnh Long
(vng mt).
- Người kháng cáo: B đơn Đoàn Th T; người quyn lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Lê Văn S.
NI DUNG V ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 18/02/2025 của nguyên đơn Đoàn Thị X, đơn khởi
kiện sửa đổi bổ sung ngày 29/4/2025 trong quá trình giải quyết vụ án, người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 358, diện tích 2.937m
2
, tờ bản
đồ số 18, tọa lạc tại ấp TN, HKT, tỉnh Vĩnh Longcủa Nguyễn Thị K tặng cho
bà X từ năm 1997, X đã được UBND huyện CL, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 01/4/1997, cấp đổi theo Vlap vào ngày 06/6/2013.
X quản canh tác thửa đất 358, trồng dừa trên đất y dựng căn nhà nhỏ
bằng cây, nền đất. Đến năm 2012 thì bà X đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh nên để cho
K thu hoạch huê lợi trên đất. Đến năm 2021 X trở về tiếp tục quản lý, sử dụng
đất, lúc đó trên đất có căn nhà kiên cố xây tường như hiện nay. Bà X hỏi bà K nhà của
ai xây dựng trên thửa đất 358, K nói nhà của bà K cất cho bà T ở vào năm 2013, do
T đi làm vườn gần nhà X. Khi đó nói với T cho T trong căn nhà
đến khi T mất thì thôi, còn phần đất là bà vẫn canh tác và thu hoạch huê lợi. Bà cho
bà T từ năm 2013 đến ngày 06/11/2024 khi X đến thu hoạch dừa thì bà T với ông
S ngăn cản không cho thu hoạch nên xảy ra tranh chấp. làm đơn yêu cầu hòa
giải tại địa phương nhưng không thành.
Do đó, X khởi kiện yêu cầu T và ông S di dời tài sản nhân ra khỏi thửa
đất 358 để trả lại căn nhà đất cho X, X không hỗ trợ chi phí di dời. X
không đồng ý đối với yêu cầu phản tố của T về việc hủy hợp đồng chuyn nhượng
quyền sử dụng đất lập ngày 28/02/2023 giữa K với X đối với thửa đất 358, diện
tích 2.937m
2
, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp TN, HKT, tỉnh Vĩnh Long, không đồng
ý điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 358 từ bà X sang bà T.
* Tại đơn phản tố ngày 24/6/2025 của Đoàn Thị T, bản tự khai, biên bản hoà
giải cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, bà T trình bày:
Nguồn gốc thửa đất tranh chấp là của ông bà ngoại của bà T là ông Nguyễn Văn
M1, sinh năm 1895 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1904, cùng trú tại ấp TN, xã HKT.
Nguyễn Thị K con út của ông ngoại, còn T X cháu ruột gọi K
bằng dì. Ông ngoại T kêu T lại cùng, ông ngoại cho đất giữ đất cho ông
ngoại để tập đoàn chia đất mình hết. m 1993, X bỏ nhà bỏ xứ đi, trước khi đi
X nói không bao giờ về, để T với ông M được hưởng Nều đất. Lúc đó K nói
bà X đi rồi, T với ông M cố gắng làm, sauy bà T với ông M hưởng đất hết, K
làm sổ đỏ cho bà T. Đến năm 2002, bà X quay trở về đòi ở chuồng heo của K, bà T
xin K dỡ căn nhà y của K để cất nhà cho X ở. K cho X thửa đất
3
phía trên diện tích khoảng 02 công (giáp đất ông M), phần đất T đã trồng dừa
trái, X quản sử dụng thu hoạch dừa, bứng dừa bán thửa đất này từ m 2002
cho đến nay. Đầu năm 2021, T đi làm ở Long An, mỗi tuần về nhà 01 lần, X đến
thu hoạch dừa nên xảy ra tranh chấp cho đến nay.
Đối với căn nhà y dựng trên đất tranh chấp, do K y dựng nhưng nguồn
tiền y dựng nhà của T từ việc bán 01 con 21 triệu đồng, 01 con 18 triệu
đồng, bán 02 bờ y ghép khoảng 13 triệu đồng, trồng đồ hàng bông bán, bán con
….bà T đưa K lấy tiền hết. Ngoài ra, T đưa cho K 01 chỉ vàng 24K.
Đoàn Thị N, sinh năm 1988 đi học ra trường thất nghiệp nên không tiền trả nợ
Ngân hàng thayK như bà K và ông M trình bày.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý phản tố yêu cầu
hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 28/02/2023 giữa K với
X đối với thửa đất 358, diện tích 2.937m
2
, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp TN,
HKT, tỉnh Vĩnh Long. Kiến nghị quan nhà nước thẩm quyền điều chỉnh giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 358 sang tên từ X sang T (tức
công nhận cho bà T quyn sử dụng thửa đất 358).
* Tại biên bản lấy lời khai, người quyền, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị
K trình bày:
Do bà không có chồng nên bà có nuôi các cháu gồm bà X, bà T, ông M, bà N từ
nhỏ. Nguồn gốc thửa đất 358 tranh chấp nêu trên của cha mẹ bà cho nhưng bà đã
cho X thửa này vào năm 1997. m 2010, X đi làm Sài n nh
nhà quản lý và trông nom dùm, lúc này trên đất bà X có căn nhà gỗ đã cũ, bà T xin sửa
lại căn nhà để đi vườn có chỗ trú mưa, trú nắng đến năm 2013 thì bà xây dựng căn nhà
kiên cố như hiện nay, bà X không biết. Khi xây nhà bà có nói với bà T nhà này trên đất
của X. m 2014, với T xảy ra u thuẫn, T không với đi lại
căn nhà trên thửa đất 358 của bà X, từ đó đến nay T không về thăm bà. y căn
nhà trên thửa đất 358 khoảng bảy mươi mấy triệu trong đó vay tiền Ngân hàng còn
nợ lại mấy chục triệu cháu N đi làm trả cho bà. Đất này của bà X, bà không có hứa cho
T thửa đất này cũng không quyền cho người khác. Ngoài cho đất X, K
còn cho đất T, ông M, N nhưng do T không chịu tên (02 lần ra
huyện) nên không làm thủ tục sang tên cho T, ông M, N được. không
đồng ý yêu cầu phản tố của T về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
thửa đất 358 cho X, sang tên thửa đất 358 cho T. Thửa đất 358 đã cho X,
không yêu cầu X hoàn trả lại giá trị căn nhà trên thửa đất 358 đã y
dựng. Do bà bị bệnh đi lại không được nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà.
*Tại biên bản lấy lời khai, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đoàn
Thị N trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp thửa 358 của cha mẹ K, do K nuôi cha
mẹ nên sau khi cha mẹ chết đã cho K. cháu K, do cha mẹ ly hôn nên được
bà K nhận nuôi khi mới hơn 04 tháng tuổi.gọi K bằng Út, bà nội bà là chị
ruột K. T với X ruột của bà. nghe K ông Đoàn Văn M nói
K cho X thửa đất 358, X đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4
Do X không chồng nên bà X có cho thửa đất y, X đã sang tên qua cho
để sau này nuôi X nhưng do thấy T rượt đánh, chém X khi X lại
thu hoạch dừa trên thửa đất 358 nên bà sang tên trả lại thửa đất 358 cho bà X.
Do trước đây căn nhà X bằng cây bị dột nên K mới y dựng căn nhà
tường chưa tô trên thửa đất 358 để giữ vườn năm 2013. Do thiếu tiền xây nhà nên bà K
vay 30.000.000 đồng của Ngân hàng. m 2021, 2022 bà đã trả tiền nợ Ngân hàng
thay cho K. T sống chung với K nhưng không phụ tiền cất nhà. Khi cất
nhà xong T nói giữ vườn nên lại ở, từ khi vào cho đến nay bà T không sửa
chữa căn nhà. K cho X thửa 358, bà K cho T thửa đất khác diện tích
3.300m
2
nhưng T không chịu nhận. Trước đây, bà K cho T phần đất canh tác
khoảng 700m
2
thuộc một phần đất 3.300m
2
T đã canh tác, trồng tắc, trồng dừa
khoảng mười mấy năm, sau y K tính cho T hết thửa 3.300m
2
làm giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi ra tên thì T không đồng ý.
người nuôi K, hiện nay K bị bệnh chân tay yếu không tự đi được. K tính cho
thửa đất 1800m
2
, do T không chịu tên nên chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
*Tại biên bản lấy lời khai, người quyền, nghĩa vụ liên quan ông Văn S
trình bày: Ông chồng Đoàn Thị T, ông sống chung với T tại căn nhà trên thửa
đất tranh chấp khoảng năm 2015, 2016 đến nay. Theo ông, T sống trên thửa đất 358
từ năm 1988 cho đến nay, cây trồng trên đất do bà T trồng. Đối với căn nhà trên đất do
T bỏ tiền y dựng, ông cũng phụ T nhưng không biết bao nhiêu tiền. Ông
không biết tại sao X lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc X
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 358 không đúng quy định pháp
luật. Ông thống nhất lời trình y của T, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố
của bà T.
*Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Văn M
trình y: X chị ruột ông, T em ruột ông. Nguồn gốc phần đất tranh chấp
thửa 358 của K, K đã cho X thửa đất này, X đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp này của X, X cho ông y
dựng phía sau thửa đất 358 01 chuồng heo 01 chuồng gà cách nay khoảng 12, 13
năm. Căn nhà tường trên thửa đất K kêu thợ hồ m năm 2013, do K kêu ông
trộn hồ m nhà nên ông biết. Tiền m nhà ông nghe K vay Ngân hàng 30 triệu
đồng để y dựng, cháu N người trả tiền Ngân hàng. y trồng trên thửa đất 358
X trồng, 01 số cây dừa bị trời đánh chết ai trồng lại ông không biết. Theo ông
khi T, ông cùngN sống chung nhà K thì kinh tế gia đình sử dụng chung, đưa
tiền K rồi cần làm ăn mua giống, y giống thì K đưa tiền. Ông có cho
con cho bà T nuôi, ông trồng đồ hàng bông có kêu bà T đi bán. Theo ông thì bà T cũng
đóng p vào y dựng căn nhà nhưng không xác định được bao nhiêu, theo ông
chia đôi giá trị căn nhà cho K T mỗi người một nữa. Đối với chuồng heo,
chuồng gà ông cất trên đất nếu bà X yêu cầu ông di dời thì ông đồng ý di dời và không
có ý kiến gì.
* Tại Bản án dân sự thẩm số 110/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án
5
nhân dân khu vực 6 - Vĩnh Long đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị X về việc yêu cầu Đoàn
Thị T ông Văn S di dời chcủa mình ra khỏi thửa đất 358, diện tích 2.937m
2
,
tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp TN, HKT, tỉnh Vĩnh Long trả lại căn nhà thửa đất
cho bà Đoàn Thị X.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đoàn Thị T về việc yêu cầu hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 28/02/2023 giữa Nguyễn Th
K với Đoàn Thị X đối với thửa đất 358, diện tích 2.937m
2
, tờ bản đồ số 18, tọa lạc
tại ấp TN, HKT, tỉnh Vĩnh Long. Đồng thời, không chấp nhận kiến nghị quan
nhà nước thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
đất 358, diện tích 2.937m
2
, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp TN, xã HKT, tỉnh Vĩnh Long
từ bà Đoàn Thị X sang bà Đoàn Thị T.
Buộc bà Đoàn Thị T và người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Văn S
trách Nm di dời chỗ của mình trả lại cho Đoàn Thị X căn nhà thửa đất 358,
diện tích 2.937m
2
, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp TN, xã HKT, tỉnh Vĩnh Long.
Bà Đoàn Thị Xtrách Nệm bồi thường ½ giá trị căn nhà y trồng trên đất
cho bà Đoàn Thị T, ông Lê Văn S tổng cộng số tiền là 17.872.620 đồng.
Đoàn Thị X trách Nệm hỗ trợ cho Đoàn Thị T và ông Văn S chi
phí di dời chỗ ở của mình là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
Đoàn Thị T ông Văn S được quyền lưu trong thời hạn 03 (ba)
tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật để di dời tài sản thuộc sở hữu cá nhân bà
T, ông S trong căn nhà trên thửa đất 358 để di dời đi nơi khác.
Ngoài ra, bản án n tuyên về lãi chậm thi hành án; chi phí tố tụng; án phí
thẩm; quyn, nghĩa vụ liên quan đến thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự
theo luật định.
Ngày 06/10/2025, b đơn Đoàn Thị T người quyn lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Văn S kháng cáo toàn b bản án thẩm, yêu cu Toà án cp phúc thm
sa bản án sơ thẩm theo hướng buc bà X bồi thường cho bà T và ông S toàn b giá tr
căn nhà + h tr chi phí di di 10.000.000 đồng + cho lưu 06 tháng theo quy đnh.
Đến ngày 20/10/2025 ông S bà T đơn kháng cáo bổ sung yêu cu cp phúc thm
sửa án thẩm theo hướng không chp nhn yêu cu khi kin ca X, chp nhn
yêu cu phn t ca bà T.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: người đại diện hợp pháp của T xác định T
kháng cáo yêu cầu hủy bỏ bản án thẩm để giải quyết lại theo hướng buộc X bồi
thường cho bà T toàn bộ giá trị căn nhà và 30% giá trị quyền sử dụng đất theo định giá
của cấp thẩm T người y dựng căn nhà công tôn tạo, canh tác quản
lý phần đất này từ 1998 đến nay; ông S xác định ông kháng cáo yêu cầu hủy bỏ án sơ
thẩm để giải quyết lại theo hướng công nhận cho T quyn sử dụng thửa đất số 358,
T sống chung với K từ nhỏ đến lớn K cũng từng hứa cho T phần đất
này nhưng chỉ nói không chịu sang tên; người đại din theo y quyn ca X
6
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo ca T ông S , đề ngh Hi đồng xét x gi
nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: những người tiến hành tố tụng đã chấp
hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã
thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: đề ngh Hi đồng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308 B
lut T tng dân s, không chp nhn yêu cu kháng cáo ca bà Đoàn Thị T và ông Lê
Văn S, gi nguyên bản án thẩm, buc T ông S mỗi ngưi chịu 300.000 đồng
tin án phí phúc thm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu tài liu chng c trong h vụ án đưc thm tra ti
phiên tòa; căn cứo kết qu tranh tng ti phiên toà; Hi đng xét x nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 26/9/2025 Tòa án nhân dân khu vc 6 - Vĩnh Long tuyên
án thẩm vng mt b đơn Đoàn Th T, ngày 06/10/2025 T nhận đưc bn án,
ngày 07/10/2025 T ông Văn S đơn kháng cáo đến ngày 20/10/2025
T ông S đơn kháng cáo b sung còn trong hạn theo quy định tại Điều 273 B
lut T tng dân s thực hiện c thtục kháng cáo hợp lệ n được xem xét giải
quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tất cả đương sự trong vụ án đều thống nhất thừa nhận: nguồn gốc thửa đất
358, tbản đồ số 18, diện tích 2.937m
2
, tbản đồ số 18, tọa lạc tại ấp TN, HKT,
tỉnh Vĩnh Long các bên đang tranh chấp của cha mẹ bà Nguyễn Thị K cho bà K.
Năm 1997, K đã tặng cho thửa đất 358 cho X n X đã được UBND huyện
CL cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 01/4/1997 sau đó cấp đổi
theo chương trình VLAP vào ngày 06/6/2013. Năm 2013 bà K có cất một căn nhà kiên
cố trên thửa đất y. T ông S sinh sống trong căn nhà trên thửa đất 358 từ năm
2015 cho đến nay. Đây những tình tiết sự kiện được các đương sự thống nhất thừa
nhận trong quá trình giải quyết vụ án nên không cần phải chứng minh theo quy định
tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Quá trình đăng ký, kê khai và cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất.
Theo công văn số 2436/CNMCB-TTLT ngày 24/6/2025 Chi nhánh văn phòng
đăng đất đai huyện Mỏ y Bắc (bút lục 74) hồ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng thửa 358 kèm theo, thể hiện: ngày 26/6/1996 Nguyễn Thị K đơn đăng
quyền sử dụng đối với thửa đất số 832 diện tích 3.900m
2
đất CLN ghi nguồn gốc
cha, mẹ cho (bút lục số 82), sau đó do K cho X thửa đất y nên X đăng
trong sổ mục (bút lục 83) đến ngày 01/4/1997 hộ Đoàn Thị X được UBND
huyện CL cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa 832 diện tích 3.900m
2
(hộ Đoàn
Thị X ch01 nhân khẩu bà Đoàn Thị X). Năm 2012, theo liệu đo đạc bản đồ
địa chính chính quy (VLAP) thì X xin tách thửa 832 cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thành thửa 358 diện tích 2.937m
2
(bút lục 75, 76), phần còn lại của
7
thửa 832 là 963m
2
đến ngày 06/6/2013 bà X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
thửa 358 diện tích 2.937m
2
(bút lục 79). Ngày 25/02/2022 X lập hợp đồng chuyển
nhượng thửa đất 358 cho Đoàn Thị N đến ngày 22/3/2022 N được Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất (bút lục 101). Ngày 16/02/2023 N lập hợp đồng
chuyển nhượng thửa đất 358 lại cho bà X đến ngày 28/02/2023 STài nguyên Môi
trường tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất thửa 385 cho bà Đoàn Thị X (bút lục 90).
[4] Theo văn bản trả lời của Sở nông nghiệp và môi trường tỉnh Bến Tre thì việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất đối với thửa 385 cho X đúng quy định. Quá trình cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho X lần đầu vào năm 1997 sau đó những lần đăng biến
động tiếp theo đến 28/02/2023 X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất thì không ai ngăn cản kể cả T
cũng không ngăn cản hay phản đối gì. Như vậy, bà X chủ sử dụng hợp pháp đối
với thửa đất số 358 nên được pháp luật bảo hộ. Việc T ông S chiếm dụng thửa
đất của X khi không được sự đồng ý của X chiếm hữu trái phép. Do đó, X
quyền đòi T ông S giao trả tài sản lại cho theo quy định tại Điều 166 Bộ
luật dân sự 2015. Tòa án cấp thẩm xử buộc T ông S giao trả đất lại cho X
là đúng quy định.
[5] Bà K không còn là chủ sử dụng thửa đất 358, việc bà T và ông S cho rằng bà
K đã cho T thửa đất 358 nên yêu cầu sang tên quyền sử dụng đất từ X sang T
(tức yêu cầu công nhận choT được quyền sử dụng thửa đất 358) là không có căn cứ
chấp nhậnbà K cũng khẳng định: phần đất này bà đã tặng cho X nên thộc quyền
sử dụng của X, không quyền lấy tặng cho T hay ai khác. Toà án cấp
thẩm xử buộc bà T và ông S giao trả đất cho X và không chấp nhận yêu cầu phản t
của bà T về việc sang tên thửa đất từ bà X sang bà T là đúng quy định pháp luật.
[6] Theo xác minh tại chính quyền địa phương, căn nhà do K y dựng
năm 2013, T không chứng cứ chứng minh bỏ tiền ra y dựng căn nhà y.
Theo trình y của ông M (anh em của T X) thì trước đây T sống chung
với K nên chắc cũng công sức đóng góp vào việc tạo lập căn nhà nhưng không
biết chính xác bao Nêu. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử buộcX bồi thường cho
T ông S ½ giá trị căn nhà phù hợp, không thiệt thòi cho T. Đối với phần đất
thì T không chứng minh được công sức tôn tạo. Do đó, không căn cứ chấp
nhận yêu cầu của bà T đòi bà X bồi thường 30% giá trị quyền sử dụng đất và hỗ trợ chi
phí di dời bằng 10.000.000 đồng.
T ông S kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ để chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, yêu cầu kháng cáo không được chấp
nhận.
3. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Đoàn Thị T
và ông Lê Văn S mỗi người phải chịu 300.000 đồng theo quy định.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long có căn cứ chấp hận.
8
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 B lut T tng dân s.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Đoàn Thị T và ông Lê Văn S.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 110/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 - Vĩnh Long.
Áp dng Điều 163, 164, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26,
31, 131 Luật Đất đai m 2024; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị X:
Buộc Đoàn Thị T ông Văn S di dời tài sản nhân ra khỏi thửa đất
358, diện tích 2.937m
2
, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp TN,HKT, tỉnh Vĩnh Long để
giao trả lại căn nhà và thửa đất cho Đoàn Thị X sở hữu, sử dụng (Có họa đồ hiện
trạng thửa đất kèm theo).
Buộc Đoàn Thị X bồi thường cho Đoàn Thị T ông Văn S ½ giá trị
căn nhà giá trị cây trồng trên đất tổng cộng bằng số tiền 17.872.620 đồng (Mười
bảy triệu tám trăm bảy mươi hai ngàn sáu trăm hai mươi đồng).
Buộc Đoàn Thị X htrợ cho Đoàn Thị T ông Văn S chi phí di dời
tài sản cá nhân để giao nhà và đất cho bà X là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Đoàn Thị T ông Văn S được quyền lưu trong thời hạn 03 (ba)
tháng kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, hết thời hạn lưu phải giao trả nhà
đất lại cho bà Đoàn Thị X.
Đoàn Thị X quyền, nghĩa vụ đăng biến động đất đai theo quy định
pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền chưa được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của stiền còn phải thi
hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Đoàn Thị T về việc: yêu cầu hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 28/02/2023 giữa Nguyễn Thị
K với Đoàn Thị X đối với thửa đất 358, diện tích 2.937m
2
, tờ bản đồ số 18, tọa lạc
tại ấp TN, HKT, tỉnh Vĩnh Long kiến nghị quan nnước thẩm quyền
điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 358 từ Đoàn Thị X
sang bà Đoàn Thị T.
3. Về án phí phúc thẩm:
Buộc Đoàn Thị T chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ
vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004574 ngày 07/10/2025 của
Thi hành án dân sự tỉnhVĩnh Long. Bà T đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
9
Buộc ông Văn S chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ
vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004572 ngày 07/10/2025 của
Thi hành án dân sự tỉnhVĩnh Long. Ông S đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra giải quyết, hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
nh án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân Tối cao;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 6-Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 6-VL;
- VP TAND tỉnh Vĩnh Long;
- Đương sự; Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Kim Chi
Tải về
Bản án số 208/2026/DS-PT Bản án số 208/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 208/2026/DS-PT Bản án số 208/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất