Bản án số 271/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 271/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 271/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 271/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 271/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 271/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nay anh yêu cầu ông M và vợ con di dời nhà, trả lại phần đất theo đo đạc thực tế và anh không đồng ý hỗ trợ gì cho bị đơn. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 271/2026/DS-PT
Ngày 27- 3- 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Dũng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Bà Châu Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà
Trần Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2026, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 670/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 12
năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 317/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 648/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng
12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm: 2001; Căn cước công dân số:
096201010076, cấp ngày 02/07/2021; Địa chỉ: ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau (có
mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Trần Văn M, sinh năm: 1969 (vắng mặt).
2. Bà Trần Thị Đ, sinh năm: 1973 (vắng mặt).
3. Chị Trần Bích T1, sinh năm 1999 (vắng mặt).
4. Anh Trần Văn Đ1, sinh năm 2003 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng N2; Địa chỉ: Số B,
L, B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng Giám
đốc.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn N – Chức vụ: Phó Giám đốc
Ngân hàng N2 chi nhánh T2. Địa chỉ: Khóm I, xã T, tỉnh Cà Mau (có đơn xin
vắng mặt).
- Người kháng cáo: Anh Lê Văn T là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khi kiện, quá trnh giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Văn
T trình bày: Nguồn gốc đất của anh là do ông nội là ông Lê Tấn H tặng cho lại
cha anh là ông Lê Văn B, ông B cho lại anh vào năm 2022 và anh đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), đất tọa lạc tại ấp K, xã T,
huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau). Trên phần đất có căn
nhà của ông M ở, từ khi nào ông không năm rõ, nhà ngang khoảng 10m dài
khoảng 18m. Hiện nay, ông M sửa chữa nhà lấn chiếm ra thêm phần đất của anh
nên anh không đồng ý và phát sinh tranh chấp. Ông M cất nhà ông B biết có
ngăn cản, cha anh không đồng ý, tự ông M cất, ông M cũng có lùi lại về hướng
mương vài cm, việc ngăn cản không có lập biên bản do anh bệnh nằm viện, cha
anh có lúc không minh mẫn, lúc anh xuất viện thì ông M đã bao nền nhà xong.
Sau này ông M tiếp tục cất nhà, xây mái che không hỏi ý kiến anh và mới xây
thêm nhà tắm cũng không hỏi ý kiến, anh có ngăn cản và có nhờ địa phương lập
biên bản. Ngày cha anh cho đất anh thì anh có gặp ông M hỏi có cắt phần đất
ruộng 02 công không thì ông M không đồng ý. Sau khi anh được cấp
GCNQSDĐ anh mới gặp ông M nữa hỏi ông M có tách sổ ra không trong khi
đất ruộng ông M được cho trước đây nằm trong giấy của anh thì ông M cũng
không đồng ý. Theo cha anh thì đất ông H chỉ cho bà V1 mượn, không có cho
luôn, ở thì cứ ở, không được bán, đi thì trả lại, không nói diện tích bao nhiêu.
Trước đây do ông M chưa sửa nhà nên anh cho tiếp tục ở nhưng nay ông M sửa
chữa nhà lấn chiếm thêm và có những lời lẽ đe đọa gia đình anh. GCNQSDĐ
anh đang thế chấp vay vốn tại Ngân hàng N2 chi nhánh T2. Nay anh yêu cầu
ông M và vợ con di dời nhà, trả lại phần đất theo đo đạc thực tế và anh không
đồng ý hỗ trợ gì cho bị đơn.
- Quá trnh giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn M trình bày: Nguồn
gốc đất vào năm 1982 là của ông ngoại ông là ông Lê Tấn H cho mẹ ông là bà
Lê Thị V1 02 công đất ruộng và một nền nhà để ở ngang 05m kè thêm bếp 01m
là 06m, hai cái mương hai bên nếu có điều kiện thì kè thêm để ở, không nói
chiều dài bao nhiêu. Ông nghe mẹ ông nói là cho luôn, không được sang bán, đi
thì trả lại, mẹ ông và ông cất nhà ở từ đó đến nay. Việc ông ngoại cho đất chỉ nói
miệng, không có làm giấy tờ do hoàn cảnh khó khăn nên chưa kê khai cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông H chết thì đất chuyển qua ông B thì ông
B cũng theo ý của ông ngoại ông, vẫn để ông ở, thời điểm đó ông cơi nới nhà thì
có nói với ông B nhưng ông B cũng không có ý kiến gì. Sau này ông B tặng cho
lại đất anh T thì anh T mới nói là cho ông ngang 05m, còn 03m nói 05 năm trả
lại, còn 02m nhà bếp thì anh T đòi lại, anh T yêu cầu chuyển nhượng lại cho ông
02m nhà bếp với giá 40.000.000 đồng nhưng không thực hiện được. Ông cho
rằng đất này là của ông bà, cha mẹ cho ông ở từ đó đến nay. Ông có nộp đơn
3
yêu cầu phản tố nhưng ông xác định đây là ý kiến phản bác lại yêu cầu của
nguyên đơn, ông không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.
- Quá trnh giải quyết vụ án, đại diện ngân hàng trnh bày: Tại Công văn
số 103/NHN
0
.TVT-TH, đại diện Ngân hàng không có yêu cầu, xin vắng mặt tại
phiên tòa xét xử vụ án.
- Quá trình giải quyết vụ án, các bị đơn là bà Trần Thị Đ, chị Trần Bích
T1, anh Trần Văn Đ1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không gửi ý kiến
cũng như không tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử không ghi nhận được ý
kiến.
Tại phiên tòa, anh T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, xin rút lại phần
diện tích có căn nhà của ông M tại thửa số 2, chỉ yêu cầu trả lại phần đất tại thửa
số 1, diện tích 56,1m
2
và phần mái che 2 diện tích 16,8m
2
, nhà vệ sinh diện tích
2,6m
2
. Thống nhất bản vẽ hiện trạng, thống nhất với giá thẩm định.
Ông M không đồng ý tháo dỡ, di dời trả lại phần mái che 2, nhà vệ sinh
trả đất cho anh T, không yêu cầu chi phí di dời, đồng ý việc nguyên đơn không
yêu cầu phần diện tích căn nhà chính tại thửa số 2 cho gia đình ông tiếp tục sử
dụng, đồng ý di dời mái che 1, trả lại đất tại thửa số 1 sau 05 năm kể từ ngày xét
xử. Thống nhất bản vẽ hiện trạng, thống nhất với giá thẩm định, ông không có
yêu cầu phản tố trong vụ án này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 317/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Lê Văn T đối với ông Trần Văn M,
bà Trần Thị Đ, chị Trần Bích T1, anh Trần Văn Đ1 phần diện tích 23,1m
2
, tại
thửa số 1 (sau khi trừ diện tích mái che số 1 (MC 1)).
Buộc bị đơn tháo dỡ, di dời trả lại phần diện tích mái che số 2 (MC 2),
diện tích 16,8m
2
và nhà vệ sinh (WC) diện tích 2,6m
2
cho anh T quản lý, sử
dụng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu của anh Lê Văn T đối với phần đất
mái che 1 (MC 1), có diện tích
33,0m
2
, tại thửa số 1.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Lê Văn T tiếp tục cho gia đình ông M
quản lý, sử dụng đối với phần đất tại thửa số 2, diện tích 92,2m
2
.
Ghi nhận sự tự nguyện ông Trần Văn M di dời mái che 1, trả lại đất tại
thửa số 1 sau 05 năm kể từ ngày xét xử 29/9/2025 đến ngày 29/9/2030. Các
phần đất tọa lạc tại ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án,
án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 13 tháng 10 năm 2025, anh Lê Văn T kháng cáo yêu cầu sửa bản án
sơ thẩm. Buộc ông Trần Văn M cùng các thành viên trong gia đình phải di dời
toàn bộ phần mái che diện tích 33m
2
, không chấp nhận việc kéo dài thời gian di
4
dời sau 05 năm như bản án sơ thẩm đã tuyên; đồng thời, không đồng ý hỗ trợ
hoặc bồi thường bất kỳ khoản chi phí nào cho bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải
quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham
gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của anh Lê Văn T; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số:
317/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 –
Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét về hình đơn kháng cáo của anh Lê Văn T được thực hiện trong
hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng, Toà án đã triệu tập tham gia phiên toà lần thứ hai
nhưng bị đơn ông Trần Văn M, bà Trần Thị Đ, chị Trần Bích T1, anh Trần Văn
Đ1 vắng mặt không lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng
N2 có đơn xin vắng mặt, nên tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 227, Điều 228
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét nội dung đơn kháng cáo của anh T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Nguồn gốc đất tranh chấp nguyên đơn anh T xác định là của ông nội
anh T là ông Lê Tấn H tặng cho cha anh là ông Lê Văn B và ông B tặng lại cho
anh T, năm 2022 anh T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phía bị
đơn ông M cũng xác định nguồn gốc đất là của ông ngoại ông là ông Lê Tấn H
tặng cho mẹ ông là bà Lê Thị V1. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của anh T, buộc gia đình ông M1 tháo dỡ, di dời trả lại phần diện tích
mái che số 2 (MC 2) diện tích 16,8m
2
và nhà vệ sinh (WC) diện tích 2,6m
2
cho
anh T quản lý, sử dụng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T tiếp tục cho gia đình
ông M quản lý, sử dụng đối với phần đất tại thửa số 2, diện tích 92,2m
2
. Sau khi
xét xử sơ thẩm, ông M và các bị đơn khác không kháng cáo, đồng nghĩa với việc
xác định các phần đất trên là thuộc quyền sử dụng của anh T.
[3.2] Đối với quyết định: Ghi nhận sự tự nguyện ông M di dời mái che 1,
trả lại đất tại thửa số 1 sau 05 năm kể từ ngày xét xử 29/9/2025 đến ngày
29/9/2030; phần đất tọa lạc tại ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau. Anh T không đồng ý và
có kháng cáo. Xét thấy, việc Toà án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của ông
M ấn định thời gian di dời phần mái che số 1 sau 05 năm từ ngày 29/9/2025 đến
ngày 29/9/2030 là có ảnh hưởng đến quyền lợi của anh T. Trong trường hợp này
ông M là người có nghĩa vụ, không phải là người có quyền lợi, nên việc ghi
nhận sự tự nguyện của người có nghĩa vụ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của
người có quyền lợi là không phù hợp quy định pháp luật. Mặt khác, phần di dời
là mái che bên hông nhà ông M, không phải là căn nhà chính nên không ảnh
hưởng đến sinh hoạt của gia đình ông M. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo
5
của anh T về việc buộc gia đình ông M có nghĩa vụ di dời phần mái che khi có
đơn yêu cầu thi hành án của anh T để ghi nhận sự tự nguyện của ông M về việc
giao trả phần đất tại thửa số 1 cho anh T là phù hợp.
[4] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau
chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Lê Văn T kháng cáo được chấp nhận
nên không phải chịu án phí. Anh T đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000
đồng theo Biên lai thu số 0001640 ngày 13 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án
dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại.
[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 317/2025/DS-ST ngày 29 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.
Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng
dân sự; Điều 26 Luật Đất đai; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Lê Văn T đối với ông Trần Văn
M, bà Trần Thị Đ, chị Trần Bích T1, anh Trần Văn Đ1 phần diện tích 23,1m
2
,
tại thửa số 1 (sau khi trừ diện tích mái che số 1 (MC 1)).
Buộc bị đơn tháo dỡ, di dời trả lại phần diện tích mái che số 2 (MC 2),
diện tích 16,8m
2
và nhà vệ sinh (WC) diện tích 2,6m
2
cho anh T quản lý, sử
dụng.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của anh Lê Văn T đối với phần đất
mái che 1 (MC 1), có diện tích
33,0m
2
, tại thửa số 1.
3. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Lê Văn T tiếp tục cho gia đình ông M
quản lý, sử dụng đối với phần đất tại thửa số 2, diện tích 92,2m
2
.
4. Ghi nhận sự tự nguyện ông Trần Văn M về việc di dời mái che 1, trả lại
đất tại thửa số 1 cho ông Lê Văn T.
Buộc ông Trần Văn M, bà Trần Thị Đ, chị Trần Bích T1, anh Trần Văn
Đ1 có nghĩa vụ di dời phần mái che số 1 để giao trả phần đất thửa số 1, diện tích
33m
2
cho anh Lê Văn T.
Các phần đất tọa lạc tại ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau.
6
(Kèm theo Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 03/9/2025 của Công ty
TNHH MTV T3)
5. Chí phí tố tụng: Buộc ông Trần Văn M, bà Trần Thị Đ, chị Trần Bích
T1, anh Trần Văn Đ1 cùng có trách nhiệm trả cho anh Lê Văn T số tiền
6.557.500 đồng (sáu triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
của Bộ luật Dân sự 2015.
6. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng. Anh T
đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0005567 ngày
05/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (nay là Phòng thi
hành án dân sự khu vực 3 – Cà Mau), được chuyển thu án phí. Ông Trần Văn M,
bà Trần Thị Đ, chị Trần Bích T1, anh Trần Văn Đ1 cùng phải chịu 300.000
đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Lê Văn T không phải chịu. Anh T đã
nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001640 ngày 13 tháng
10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 3 Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 3- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Thanh Dũng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm