Bản án số 98/2026/DS-PT ngày 06/03/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 98/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 98/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 98/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 98/2026/DS-PT ngày 06/03/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bắc Ninh |
| Số hiệu: | 98/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Y kháng cáo bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo, sử án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 98/2026/DS-PT
Ngày 06 - 3 - 2026
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú
Ông Đỗ Thế Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên
Trong ngày 05 và ngày 06 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh xét xử vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 413/2025/TLPT- DS ngày 20
tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”do Bản án dân sự sơ
thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2
- Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 113/2025/QĐ-PT ngày
26 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 160/2025/QĐ-PT ngày 25
tháng 12 năm 2025; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 10/2026/QĐPT ngày 12
tháng 01 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 34/2026/QĐ-PT ngày
06/02/2026 giữa các đương sự:
- Ông Bùi Ngọc T, sinh năm 1954 (vắng mặt)
- Bà Đào Thị Thanh N, sinh năm 1959 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số A, tổ B, phường H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền của ông T, bà N: Công ty L1, do ông Nguyễn Văn T1
- Giám đốc đại diện theo pháp luật, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc
Ninh (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
* Bị đơn:
- Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1977 (có mặt)
- Chị Dương Thị Y, sinh năm 1978 (có mặt)
2
Đều thường trú: thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh
Đại diện theo uỷ quyền của anh N1, chị Y:
1. Ông Hoàng Ngọc S, sinh năm: 1964 (có mặt)
Nơi thường trú: Số 64, Nguyễn Đăng, Tổ dân phố Suối Hoa 3, phường Kinh
Bắc, tỉnh Bắc Ninh
2. Ông Dương Minh H, sinh năm: 1950 (có mặt)
Nơi thường trú: Số nhà A, ngõ B, phường Y, thành phố Hà Nội
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chị Y: Luật sư Nguyễn Ngọc T2 -
Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
Địa chỉ: Số A, ngõ B, đường Z, tổ E, phường P, tỉnh Thái Nguyên
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chủ tịch UBND xã N, tỉnh Bắc Ninh (là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng của UBND huyện T, tỉnh Bắc Giang và UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc
Giang), do ông Trần Quốc H1 - Công chức phòng Kinh tế xã N đại diện theo ủy
quyền (vắng mặt)
- Văn phòng Đ
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Trung H2 - Phó Giám đốc Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai liên xã T (vắng mặt);
- Ngân hàng TMCP Q
Địa chỉ trụ sở chính: số A L, phường Y, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: ông Phương Văn S1, ông Lê Văn C, bà Đinh Hồng
H3, ông Mai Tiến D (vắng mặt).
- Ngân hàng N4
Địa chỉ trụ sở chính: số B L, phường G, thành phố Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng L - Trưởng phòng khách hàng – Kinh
doanh, Ngân hàng N4 chi nhánh T8 (vắng mặt)
- Anh Đỗ Thế H4, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn Trại Mới, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh;
Nơi ở: thôn Khánh Ninh, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh;
Người đại diện theo ủy quyền của anh H4: chị Hoàng Kim Ngân G, sinh năm
2003, nơi thường trú: 206T2, Nhà C tầng N N, phường G, thành phố Hà Nội; địa
chỉ liên hệ: H L, phường T, thành phố Hà Nội, (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn Trại Mới, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh;
Nơi ở: thôn Khánh Ninh, xã Ngọc Thiện, tỉnh Bắc Ninh;
3
- Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1947 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn K, xã N, tỉnh Bắc Ninh;
- chị Nguyễn Thị Phương O, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh
Đại diện theo uỷ quyền của bà C1, chị O: Bà Cao Thị N2, sinh năm 1976; Nơi
thường trú: Thôn N, xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
- Anh Nguyễn Duy B, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Nơi thường trú: thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh
Người kháng cáo: Bị đơn Bà Dương Thị Y
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh, nội dung vụ án như sau:
*Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N trình bày:
Năm 2009 vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (sau đây
viết tắt là QSDĐ) của vợ chồng anh Đỗ Thế H4, chị Nguyễn Thị D1 tại thửa số 25,
tờ bản đồ số 15, diện tích 3.100 m
2
(trong đó có 360 m
2
đất ở và 2.740 m
2
đất
vườn) địa chỉ thửa đất thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn T, xã N,
tỉnh Bắc Ninh). Khi chuyển nhượng, các bên có lập hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ và có chứng thực tại UBND xã N. Sau khi ký hợp đồng, ông bà đã thanh
toán tiền chuyển nhượng đầy đủ cho vợ chồng anh H4, chị D1 và anh H4, chị D1
đã bàn giao đất trên thực tế cho ông bà. Khi nhận bàn giao đất, ông bà đã tiến hành
xây dựng tường bao trên cạnh tiếp giáp với thửa đất của bà Nguyễn Thị C1, khi
xây dựng ông, bà đã báo với bà C1 cùng vợ chồng anh H4, chị D1 đến để xác định
ranh giới. Tuy nhiên, do ông bà ở xa, chưa sử dụng đến đất, năm 2024 ông bà có
nhu cầu chuyển nhượng thửa đất trên thì phát hiện vợ chồng anh Nguyễn Văn N1,
chị Dương Thị Y xây dựng chuồng trại chăn nuôi lấn vào thửa đất của ông bà. Sau
đó ông bà đã yêu cầu vợ chồng anh N1, chị Y tháo dỡ công trình để trả lại đất cho
ông bà, nhưng anh N1, chị Y cho rằng diện tích đất trên của bà Nguyễn Thị C1 (là
mẹ anh N1) đã tặng cho anh chị nên không đồng ý tháo dỡ. Nay ông bà đề nghị
Tòa án buộc vợ chồng anh N1, chị Y phải tháo dỡ và di dời toàn bộ công trình đã
xây dựng lấm chiếm trên thửa đất số 25, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất thôn T,
xã N, tỉnh Bắc Ninh và buộc vợ chồng anh N1, chị Y phải trả lại cho ông bà toàn
bộ diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 1.300 m
2
.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Văn T1 là đại diện theo ủy quyền của ông
T, bà N, trình bày: Phần diện tích đất đang tranh chấp được ông T, bà N xác lập
hợp pháp từ nhận chuyển nhượng của anh H4, chị D1. Khi anh H4, chị D1 chuyển
nhượng QSDĐ cho ông T, bà N thì anh H4, ông T và bà C1 có xác định ranh giới,
giao đất trên thực địa và có ký vào Tờ trích đo thửa đất ngày 24/11/2009 làm cơ sở
để cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất (sau đây viết
4
tắt là GCNQSDĐ) cho ông T, bà N. Ông T, bà N đã được UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ số AQ 101419 ngày 07/12/2009. Sau khi nhận chuyển nhượng QSDĐ
của anh H4, chị D1, ông T, bà N không chuyển nhượng hay đổi đất cho anh N1,
chị Y. Do ông T, bà N ở xa nên anh N1, chị Y đã tự ý xây dựng công trình chăn
nuôi lấn chiếm một phần thửa đất của ông T, bà N, khi phát hiện sự việc ông T, bà
N đã yêu cầu anh N1, chị Y phá dỡ và di dời công trình để trả lại đất cho mình,
nhưng anh N1, chị Y không thực hiện. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử buộc vợ
chồng anh N1, chị Y và những người có liên quan phải tháo dỡ, di dời toàn bộ
công trình để trả lại cho vợ chồng ông T, bà N toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm
theo kết quả đo vẽ là 1.075,6 m
2
.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn cho rằng, thửa đất số 171, tờ bản đồ số 56,
diện tích 4.107,9 m
2
tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh, đã được UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ số CD 559019 ngày 13/5/2016, do vợ chồng anh N1 được bà C1 tặng
cho năm 2016 và thửa đất số 31, tờ bản đồ số 15, diện tích 3.470m
2
tại thôn T, xã
N, tỉnh Bắc Ninh, đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AP 020765 ngày
04/6/2009, do vợ chồng anh N1 được bà C1 tặng cho năm 2009, nên bị đơn xác
định diện tích đất tranh chấp và diện tích đất còn lại của thửa số 25, tờ bản đồ số
15 mà ông T, bà N đang quản lý, sử dụng thuộc thửa đất số 31 của bị đơn là không
có cơ sở vì thực tế từ ngày 24/12/2001 thì bà C1 đã được cấp gộp hai thửa đất vào
một giấy chứng nhận U900562, số vào sổ 01818, diện tích 4.086m
2
. Theo bản đồ
đo đạc năm 2010 thì được cập nhật tại thửa 24 và thửa 37 cùng tờ bản đồ số 15.
Còn thửa đất số 31, tờ bản đồ số 15 hiện trạng ông N3 đã múc chuyển đổi thành ao
cá, không liên quan đến thửa đất của anh N1 và ông T. Mặt khác, thửa đất ông T,
bà N đang quản lý sử dụng, bao gồm cả diện tích đất ông T, bà N đang yêu cầu anh
N1, chị Y trả lại là thửa đất số 25, tờ bản đồ số 15 (nay là thửa đất số 97, tờ bản đồ
số 56), chứ không phải thửa đất số 31, tờ bản đồ số 15. Do đó anh N1, chị Y yêu
cầu ông T, bà N trả 2.000m
2
thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 15 là không có cơ
sở. Mặt khác, bà C1 tặng cho QSDĐ cho anh N1, chị Y dựa trên GCNQSDĐ tạm
thời được UBND huyện T cấp ngày 15/10/1993, trong khi giấy chứng nhận này đã
được thay thế bởi giấy chứng nhận năm 2001 là không đảm bảo quy định tại khoản
2 Điều 50 Luật đất đai, vi phạm điều cấm của pháp luật, nên hợp đồng tặng cho bị
vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó GCNQSDĐ số
AP 020765 do UBND huyện T cấp ngày 04/6/2009 đứng tên anh N1, chị Y cần bị
thu hồi, huỷ bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 152 Luật đất đai năm 2024,
do cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đủ điều kiện được cấp. Đối với
GCNQSDĐ số CD 559019 vào sổ cấp GCNQSDĐ số CH 00890 do UBND huyện
T cấp ngày 13/5/2016 cho bà Nguyễn Thị C1, ngày 03/6/2016 Chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai huyện T chứng nhận tặng cho anh N1, chị Y nhưng theo hồ
sơ cấp đổi GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị C1 sau đo đạc, có Biên bản kiểm tra
xác minh nguồn gốc, hiện trạng sử dụng thửa đất bà Nguyễn Thị C1 đang sử dụng
tại thôn T, xã N ngày 28/03/2016 thể hiện thành phần tham gia gồm: Ông Bùi
Mạnh T3 - Công chức địa chính xã; ông Dương Văn H5 - Trưởng thôn Trại Mới;
bà Nguyễn Thị C1 - Chủ sử dụng đất; ông Đỗ Thế H4 - Chủ sử dụng đất giáp ranh,
đã thống nhất nhiều nội dung, trong đó có nội dung: “Tại thực địa các thành phần
5
cùng thống nhất dùng thước dây xác định phần diện tích đất hộ bà C1 đang sử
dụng được đo bao vào thửa đất 97 (Hộ ông H4 đang sử dụng) diện tích là 231,6m
2
.
Tại thực địa các thành phần cùng công nhận ranh giới thửa đất của hộ bà C1 xác
định như trên là đúng”. Việc lập biên bản có sự tham gia của anh Đỗ Thế H4 với
nội dung như trên là trái quy định pháp luật, không đúng thành phần, không đúng
chủ sử dụng đất, bởi vợ chồng anh Đỗ Thế H4 đã chuyển nhượng cho vợ chồng
ông T toàn bộ thửa đất số 25 (nay là thửa 97) từ năm 2009, hợp đồng chuyển
nhượng được chứng thực theo quy định, ông T, bà N đã được cấp GCNQSDĐ,
trong khi ông T, bà N không uỷ quyền cho anh H4 tham gia việc xác định ranh giới
thửa đất với bà C1. Mặt khác, ông T, bà N là chủ sử dụng đất giáp ranh với nhà bà
C1 thì lại không được mời để xác định ranh giới. Do đó, việc anh H4 tự ý định
đoạt cho bà C1 đo bao vào thửa đất của ông T, bà N 231,6m
2
và thống nhất để cho
bà C1 được sử dụng toàn bộ 231,6m
2
đất này để cơ quan có thẩm quyền làm căn cứ
chỉnh lý bản đồ địa chính và cấp đổi GCNQSDĐ cho bà C1 được sử dụng diện tích
đất tăng thêm 231,6m
2
là trái quy định pháp luật, tự định đoạt tài sản của người
khác. Do đó, Giấy chứng nhận này cũng cần bị thu hồi, huỷ bỏ theo quy định tại
điểm d khoản 2 Điều 152 Luật đất đai năm 2024, do cấp không đúng diện tích đất,
không đủ điều kiện được cấp. Đối với việc bị đơn có yêu cầu ông T, bà N bồi
thường thiệt hại, gồm: Thiệt hại về tài sản, gồm: hệ thống hầm, bể bioga có diện
tích 200m
2
, thể tích 2.000m
3
cùng đường dẫn khí và các thiết bị phụ trợ, xây dựng
khác, với giá trị thiệt hại là 360 triệu đồng; thiệt hại do không chăn nuôi được từ
tháng 10/2024 đến tháng 7/2025: tính trung bình: 50.000.000đ/tháng x 10 tháng =
500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Mỗi tháng tiếp theo 50.000.000 đồng (năm
mươi triệu đồng), từ tháng 8/2025 cho đến khi Toà tuyên án, yêu cầu này không có
căn cứ, vì quá trình sử dụng đất, ông T, bà N không phá hoặc làm hư hỏng bất kỳ
tài sản nào của bị đơn. Năm 2024 ông T, bà N có tiến hành san lấp khoảng đất
trống trên thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình, khoảng đất trống này
ông T, bà N chưa xây dựng công trình gì và cũng không cho bất kỳ ai thuê, mượn
hoặc xây nhờ công trình trên đất. Phần công trình bị đơn xây lấn sang thửa đất của
ông T, bà N, ông, bà vẫn đang đề nghị Toà án giải quyết, chứ không tự ý phá dỡ.
Ông T, bà N sinh sống ở nơi khác, không sống gần bị đơn và cũng chưa lần nào
cản trở việc bị đơn chăn nuôi, chưa bao giờ được tiếp cận các công trình chăn nuôi
của bị đơn, ông T, bà N cũng không đề nghị Toà án áp dụng biện pháp ngăn chặn
nào khiến bị đơn không chăn nuôi được. Bị đơn cũng không đưa ra được bất kỳ tài
liệu, chứng cứ nào chứng minh ông T, bà N có hành vi xâm phạm tài sản của bị
đơn hoặc cản trở việc bị đơn chăn nuôi. Theo kết quả thẩm định của Toà án ngày
09/4/2025 cũng không xác định được các tài sản của bị đơn bị thiệt hại như bị đơn
đã trình bày. Do đó, yêu cầu bồi thường của bị đơn là không phù hợp với căn cứ
phát sinh trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm
2015.
* Tại đơn yêu cầu phản tố và những lời khai tiếp theo, bị đơn anh Nguyễn Văn N1,
chị Dương Thị Y trình bày:
6
Vợ chồng anh chị đang sử dụng hợp pháp 02 thửa đất có tổng diện tích 7.577,9m
2
được thể hiện tại: Thửa đất thứ nhất là thửa số 171, tờ bản đồ số 56, diện tích
4.107,9 m
2
, địa chỉ tại thôn T, xã N, huyện T, được UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ số CD559019 ngày 13/5/2016, nguồn gốc đất sử dụng ổn định trước
năm 1975 cho đến nay, từ năm 1975 do bố mẹ bà C1 sử dụng, sau đó hộ bà C1 tiếp
tục sử dụng; Ngày 24/12/2001 hộ bà C1 được cấp GCNQSDĐ số U900562, diện
tích 4.086 m
2
, khi cấp không ghi số thửa; Ngày 13/5/2016 bà C1 được cấp đổi
GCNQSDĐ số CD 559019, thửa số 171, tờ bản đồ số 56, diện tích 4.107,9 m
2
;
Ngày 03/6/2016 bà C1 tặng cho anh chị. Thửa đất thứ 2 được UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ số AP 020765 ngày 04/6/2009 là thửa số 31, tờ bản đồ số 15, diện tích
3.470 m
2
, địa chỉ tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, nguồn gốc đất sử dụng
ổn định trước năm 1975 cho đến nay, từ năm 1975 thì do bố mẹ bà C1 sử dụng, sau
đó bà Chuyển tiếp T7 sử dụng, ngày 15/10/1993 bà C1 được cấp GCNQSDĐ, ngày
18/5/2009 bà C1 tặng cho vợ chồng anh chị, ngày 04/6/2009 anh, chị được cấp
GCNQSDĐ đối với thửa đất trên. Sau khi ông T, bà N có đơn khởi kiện thì anh chị
đã tạm đo diện tích của 02 thửa đất trên thì bao gồm cả thửa đất số 25, tờ bản đồ số
15 mà ông T, bà N đang chiếm giữ. Đồng thời, khi cấp GCNQSDĐ số thửa đất có
thay đổi nhưng cơ quan chức năng không thông báo để gia đình anh chị đính chính.
Thực tế GCNQSDĐ được cấp số thửa 31 diện tích bao gồm toàn bộ diện tích thửa
đất số 25. Mặt khác, theo GCNQSDĐ cấp cho ông T, bà N thì là thửa 23, tờ bản đồ
số 15, chứ không phải thửa 25. Như vậy, vợ chồng ông T, bà N đã có hành vi tự ý
lấn chiếm diện tích đất khoảng 2.000 m
2
và tự ý phá dỡ công trình mà vợ chồng
anh chị đã xây dựng. Nay anh chị đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông T,
bà N phải trả lại toàn bộ diện tích đất ông T, bà N đã lấn chiếm; Yêu cầu vợ chồng
ông T, bà N phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do ông T, bà N tự phá dỡ công trình
gồm hệ thống hầm, bể bioga diện tích 200 m
2
, thể tích 2.000 m
3
cùng đường dẫn
khí và các thiết bị phụ trợ, trị giá 360.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ lập ngày 15/12/2003 giữa ông T4 với anh H4 và hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ giữa anh H4 với vợ chồng ông T có nhiều vi phạm, cụ thể: Chữ ký của anh
H4 trong hợp đồng lập ngày 15/12/2003 là giả tạo, GCNQSDĐ số AD 033001 ghi
ngày cấp là 20/9/2005 nhưng GCNQSDĐ gốc số N756046 của ông T4 ghi ngày
chuyển nhượng là 11/5/2007. Vì giao dịch giữa ông T4 với anh H4 là vi phạm nên
giao dịch giữa anh H4 với ông T không có giá trị pháp lý. Ngoài ra GCNQSDĐ
của anh H4 và ông T4 đều ghi số thửa là 23 nhưng lại tự ý đính chính thành 25 trên
GCN cho ông T. Nay anh chị yêu cầu ông T, bà N phải bồi thường thiệt hại do
không chăn nuôi được từ tháng 10/2024 đến tháng 7/2025 số tiền là 500.000.000
đồng, từ tháng 8/2025 đến khi Tòa án tuyên án mỗi tháng phải bồi thường
50.000.000 đồng. Đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ký ngày
15/12/2003 giữa ông T4 với anh H4; hủy GCNQSDĐ số AD 033001; hủy hợp
đồng chuyển nhượng QSDĐ ký ngày 24/11/2009 giữa anh H4 với ông T, hủy
GCNQSDĐ số AQ 101419. Tại phiên tòa sơ thẩm chị Y có mặt và giữ nguyên nội
dung đã trình bày và rút một phần yêu cầu phản tố.
* Luật sư Hoàng A bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tại cấp sơ
thẩm trình bày: Căn cứ hiện trạng, đề nghị HĐXX cân nhắc xem xét đối với thửa
7
đất của ông T, bà N, xác định có việc mua bán thật, trước đây bị đơn có đơn phản
tố vì xác định mình có 2 GCNQSDĐ, nay cơ quan có thẩm quyền khẳng định chỉ
có 01 GCNQSDĐ nên bị đơn mới rút một phần yêu cầu phản tố. Lời khai của anh
H4 và ông V1 mà HĐXX đã công khai là mâu thuẫn nhau. Đối với thửa số 171 của
hộ chị Y, các vấn đề liên quan đến thửa đất này từ nguồn gốc, pháp lý và hiện
trạng gồm hình thể, kích thước, diện tích đều phù hợp. Nguồn gốc đất là do mẹ anh
N1 để lại cho, có giấy tờ sang tên rõ ràng, văn bản của UBND xã, huyện, Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh đều xác định quy trình cấp GCNQSDĐ là đúng, về hình
thể không thay đổi từ truớc đến nay, về kích thước đã đo kiểm tra lại là phù hợp,
nếu tăng thì chỉ tăng mấy chục mét chứ không nhiều. Diện tích đất anh N1, chị Y
đang sử dụng là đủ 4107,9 m
2
. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng, các bên và cơ
quan có thẩm quyền đều công nhận thửa 171. Đề nghị HĐXX xem xét hợp đồng
ủy quyền của nguyên đơn vì nguyên đơn ủy quyền cho ông T1 để giải quyết thửa
đất số 23, nhưng thửa đất trên đã được chỉnh thành thửa 25. Tại phiên tòa người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu hủy GCNQSDĐ việc yêu cầu trên
là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Như vậy, thửa 171 cấp có nguồn gốc rõ
ràng, có hợp đồng pháp lý đầy đủ, hợp đồng tặng cho đầy đủ, hiện tại ý kiến của cơ
quan chức năng có thẩm quyền của xã, huyện, tỉnh đều khẳng định diện tích thửa
đó là 4107,9 m
2
, GCNQSDĐ cấp cho anh N1, chị Y là hợp pháp, đề nghị HĐXX
công nhận chị Y, anh N1 có quyền sử dụng đất chính đáng đối với thửa đất đó và
không lấn chiếm đất của ông T, bà N. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 584 Bộ
luật dân sự, bị đơn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng liên quan
đến hành vi phá hoại chuồng trại và gây thiệt hại kinh tế cho bị đơn. Năm 2020
mới căn cứ Luật chăn nuôi xác định việc chăn nuôi từ 1000 vật nuôi trở lên mới
phải xin phép và được phê duyệt, UBND xã xác định chị Y không có đăng ký kinh
doanh là không khách quan. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Luật sư Nguyễn Ngọc T2 trình bày: để giải quyết được vụ án thì phải yêu cầu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai của UBND tỉnh trả lời các thửa
đất đó là thửa nào, diện tích thửa nào vẫn ở đó, thửa 171 hay 31, hay 118 là đúng.
Đối với thửa đất của nguyên đơn thì thửa 97 hay 25, hay 23 là đúng, phải làm rõ và
có trả lời bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền thì mới có cơ sở giải quyết vụ
án. Đại diện nguyên đơn cho rằng cần thu hồi GCNQSDĐ đã cấp đối với thửa 31
và 171, như vậy là vượt quá phạm vi khởi kiện, đây là quan hệ pháp luật riêng.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ bao gồm nội dung trả đất và di dời tài sản.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Tại văn bản ngày 14/02/2025 của UBND xã N và văn bản ngày 26/3/2025 của
UBND huyện T đều xác định:
Thửa đất số 25, tờ bản đồ số 15, diện tích 3.100 m
2
, địa chỉ thửa đất thôn T,
xã N, huyện T có nguồn gốc là đất thổ cư cũ của ông Trần Công T4 đã được
UBND huyện T cấp GCNQSDĐ, tại Quyết định số 478 ngày 12/12/1998 ghi thửa
số 23, tờ bản đồ số 15, diện tích 3.100 m
2
. Năm 2005 ông Trần Công T4 đã chuyển
nhượng cho anh Đỗ Thế H4 và được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số phát hành
AD 033001, vào sổ cấp GCN 01993 ngày 20/9/2005, ghi thửa đất số 23, tờ bản đồ
8
số 15, diện tích 3.100 m
2
. Năm 2009 anh Đỗ Thế H4, chị Nguyễn Thị D1 chuyển
nhượng QSDĐ cho ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N. Kiểm tra bản đồ năm
1987 cho thấy: thửa đất trên thể hiện tại thửa 25, tờ bản đồ số 15, diện tích 2.950
m
2
(thửa đất có T), thửa đất 23, tờ bản đồ số 15, diện tích 80 m
2
(đất nông nghiệp);
Kiểm tra bản đồ đo đạc năm 2010 thửa đất số 25, tờ bản đồ số 15 được thể hiện tại
thửa 97, tờ bản đồ số 56, diện tích 2.292,9 m
2
, thửa đất số 23, tờ bản đồ số 15 hiện
gia đình anh N1, chị Y chuyển đổi thành ao thả cá. Như vậy, việc cấp GCNQSDĐ
cho ông T4 tại thửa 23 là sai số thửa. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông T bà N đã
làm thủ tục đính chính và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T
đính chính GCNQSDĐ thành thửa 25, tờ bản đồ số 15.
Thửa đất số 31, tờ bản đồ số 15, diện tích 3.470 m
2
, địa chỉ thôn T, xã N,
huyện T có nguồn gốc là đất thổ cư của bà Nguyễn Thị C1 và đất thổ cư cũ của bố
mẹ bà C1 để lại cho bà C1 sử dụng, được thể hiện tại bản đồ năm 1987 là thửa 24,
diện tích 1.590 m
2
và thửa 37, diện tích 2.248 m
2
, cùng tờ bản đồ số 15, tổng diện
tích 02 thửa là 3.838 m
2
. Ngày 15/10/1993 bà C1 được cấp GCNQSDĐ tạm thời
diện tích 5.462 m
2
(bao gồm đất ở và đất nông nghiệp), trong đó có thửa đất 31.
Ngày 24/12/2001, thửa đất thổ cư được cấp đổi GCNQSDĐ số phát hành U
900562, trên GCN không ghi số thửa, tờ bản đồ, chỉ ghi là “Trại Mới”. Kiểm tra
bản đồ năm 1987 cho thấy: khu đất bà C1 sử dụng được thể hiện trên bản đồ là
thửa 24, diện tích 1.590 m
2
và thửa 37, diện tích 2.248 m
2
, cùng tờ bản đồ số 15
(thửa đất có T, thửa đất 31, tờ bản đồ số 15, diện tích 320 m
2
(đất nông nghiệp).
Kiểm tra bản đồ đo đạc năm 2010, thửa 24, 37, cùng tờ bản đồ 15 được thể hiện tại
thửa đất số 118, tờ bản đồ số 56, diện tích 3.876,3 m
2
. Khi làm thủ tục cấp đổi
GCNQSDĐ cho bà C1 thì khu đất đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
đo đạc chỉnh lý, thửa đất thể hiện là thửa số 171, tờ bản đồ số 56 diện tích 4.107,9
m
2
. Thửa đất số 31, tờ bản đồ số 15 hiện trạng gia đình ông N3 đã múc chuyển đổi
thành ao thả cá. Thửa đất này không liên quan đến thửa đất của anh N1, ông T.
Như vậy, thửa đất 31, tờ bản đồ số 15 cấp cho bà C1 năm 1993 và tặng cho vợ
chồng anh N1 năm 2009 là sai số thửa (thửa đúng là thửa 24, diện tích 1.590 m
2
và
thửa 37, diện tích 2.248 m
2
)
Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 56, diện tích 4.107,9 m
2
, địa chỉ thôn T, xã N,
huyện T có nguồn gốc năm 2016 bà C1 tặng cho anh N1. Thửa đất trên bà C1 được
UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số CD 559019, số vào sổ CH 00890, nguồn gốc
cấp đổi sau đo đạc bản đồ địa chính. Trước đây bà C1 được UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ số U 900562, số vào sổ 01818 ngày 24/12/2001, tại thửa đất Trại Mới,
tờ bản đồ Trại Mới, diện tích 4.086 m
2
. Kiểm tra bản đồ năm 1987 cho thấy: Thửa
đất 171, tờ bản đồ 56, diện tích 4.107,9 m
2
được thể hiện trên bản đồ là thửa 24,
diện tích 1.590 m
2
và thửa 37, diện tích 2.248 m
2
cùng tờ bản đồ số 15 (thửa đất có
T). Kiểm tra bản đồ đo đạc năm 2010: Thửa đất 24, 37 cùng tờ bản đồ 15, được thể
hiện tại thửa đất 118, tờ bản đồ 56, diện tích 3.876,3 m
2
. Khi làm thủ tục cấp đổi
GCNQSDĐ cho bà C1 thì khu đất đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
huyện T đo đạc chỉnh lý, thửa đất thể hiện là thửa số 171, tờ bản đồ số 56, diện tích
4.107,9 m
2
. Như vậy, việc bà C1 được cấp đổi GCNQSDĐ năm 2016 tại thửa số
9
171, tờ bản đồ số 56, diện tích 4.107,9 m
2
được thể hiện trên bản đồ năm 1987 là
thửa 24, diện tích 1.590 m
2
và thửa 37, diện tích 2.248 m
2
cùng tờ bản đồ số 15
được thể hiện tại Biên bản kiểm tra xác minh nguồn gốc hiện trạng sử dụng đất bà
C1 đang sử dụng tại thôn T, xã N.
Về trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ cho ông T, bà N năm 2009, cho anh N1,
chị Y năm 2009, cho bà C1 năm 2016:
Ống T, bà N nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ anh H4, chị D1 là
đảm bảo quy định.
Năm 2009 anh N1, chị Y nhận tặng cho từ bà C1 và căn cứ vào GCNQSDĐ
cấp cho bà C1 ngày 15/10/1993, sau đó anh N1 được cấp GCNQSDĐ. Thực tế
GCNQSDĐ của bà C1 cấp ngày 15/10/1993 đã được cấp đổi năm 2001, nên
GCNQSDĐ cấp cho bà C1 ngày 15/10/1993 đối với thửa 31, tờ bản đồ số 15, diện
tích 3.470 m
2
không còn giá trị.
Về cấp đổi GCNQSDĐ của bà C1 năm 2016: căn cứ vào GCNQSDĐ năm
2001 cấp cho bà C1, căn cứ vào đề nghị của bà C1, sau khi có kết quả đo đạc chỉnh
lý của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, Công chức địa chính xã đã
thực hiện lập hồ sơ thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ cho bà C1 với thửa đất 171, tờ bản
đồ số 56 diện tích 4.107,9 m
2
, diện tích đất tăng so với GCN cũ là 21,9 m
2
, diện
tích đất tăng là do sai số đo đạc.
Về hình thể thửa đất trên GCNQSDĐ cấp năm 2009 và cấp năm 2016 tương
đối giống nhau. Việc cấp GCNQSDĐ cho anh N1, chị Y năm 2009 căn cứ vào
GCNQSDĐ cấp cho bà C1 năm 1993 là không đúng quy định của pháp luật, vì
thửa đất 31, tờ bản đồ số 15 trong GCNQSDĐ cấp cho bà C1 năm 1993 đã được
cấp đổi năm 2001, nhưng không thực hiện việc thu hồi GCNQSDĐ cấp cho bà C1
năm 1993.
Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện T, tỉnh Bắc Giang và
UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang cũ, Chủ tịch UBND xã N, tỉnh Bắc Ninh do
ông Trần Quốc H1 đại diện theo ủy quyền trình bày: Diện tích chuồng trại chăn
nuôi mà hộ gia đình anh N1, chị Y đã xây dựng, căn cứ theo kết quả đo đạc hiện
trạng của Công ty TNHH MTV K trong hồ sơ vụ án là 1076,7m
2
. Theo mật độ
chăn nuôi lợn thịt thông thường thì quy mô chuồng trại này có thể chăn nuôi từ 450
- 800 lợn thịt/lứa, thuộc hình thức trang trại quy mô lớn theo quy định tại Điều 21
Nghị định 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi.
Đối với diện tích đất tại các thửa: thửa số 171, tờ bản đồ 56, diện tích 4.107,9m
2
(theo GCNQSDĐ số seri CD 559019 do UBND huyện T cấp ngày 13/5/2016) và
thửa số 31, tờ bản đồ 15, diện tích 3470m
2
, hiện hộ anh N1, chị Y đang sử dụng tại
thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang cũ, nay là thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh; 02
GCNQSDĐ thể hiện loại đất gồm đất ở và đất trồng cây lâu năm, việc hộ chị Y sử
dụng đất để chăn nuôi dưới hình thức trang trại là không đúng mục đích sử dụng
đất theo quy định tại Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 9 Luật đất đai năm
2024, hộ chị Y chưa làm thủ tục đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất. Căn cứ theo
10
quy hoạch hiện hành, 02 thửa đất trên không thuộc quy hoạch vùng chăn nuôi tập
trung.
Tại văn bản ngày 18/7/2025, đại diện Văn phòng Đ trình bày:
Về trình tự cấp đổi GCNQSDĐ số U 900562, số vào sổ 01818 ngày
24/12/2001: Ngày 08/4/2016 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T (sau
đây viết tắt là CNVPĐKĐĐ) tiếp nhận hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ của bà C1, ngày
22/4/2016 CNVPĐKĐĐ xác nhận hồ sơ đủ điều kiện cấp đổi GCNQSDĐ, ngày
10/5/2016 phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T có tờ trình về việc cấp
GCNQSDĐ, ngày 13/5/2016 UBND huyện T ban hành Quyết định số 282/QĐ-
UBND về việc cấp cho bà C1 diện tích đất 4107,9 m
2
.
Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ cho anh N1, chị Y năm 2009: Ngày
18/5/2009 CNVPĐKĐĐ ký xác nhận vào đơn xin cấp GCNQSDĐ nội dung đủ
điều kiện cấp GCNQSDĐ, ngày 28/5/2009 phòng Tài nguyên và Môi trường ký
xác nhận vào đơn xin cấp GCNQSDĐ đủ điều kiện cấp GCN, ngày 04/6/2009 hộ
anh N1, chị Y được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AP 020765, số vào sổ
04865 tại thửa số 31, tờ bản đồ số 15, diện tích 3470 m
2
. Việc UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ cho anh N1, chị Y ngày 04/6/2009 là chưa đúng quy định của pháp
luật.
Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ cho ông T, bà N năm 2009: Ngày
24/11/2009 CNVPĐKĐĐ huyện T tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ giữa
anh H4, chị D1 với ông T, bà N, ngày 30/11/2009 CNVPĐKĐĐ ký xác nhận vào
đơn xin cấp GCNQSDĐ nội dung đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ diện tích 3100 m
2
,
ngày 01/12/2009 phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T ký xác nhận vào đơn
xin cấp GCNQSDĐ đủ điều kiện cấp GCN, ngày 03/12/2009 phòng T có tờ trình
đề nghị UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho ông T, bà N, ngày 07/12/2009 ông T,
bà N được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AQ101419 số vào sổ 05000, tại
thửa 23, tờ bản đồ số 15, diện tích 3100 m
2
.
Tại bản tự khai ngày 06/01/2025, chị Hoàng Kim Ngân G đại diện theo ủy
quyền của anh Đỗ Thế H4 trình bày: Năm 2001 ông Trần Công T4 có chuyển
nhượng cho anh H4 thửa đất diện tích 3.100 m
2
, thể hiện trong GCNQSDĐ số N
756046 là thửa số 23, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất thôn T, xã N do UBND
huyện T cấp ngày 12/12/1998. Từ khi nhận chuyển nhượng đến năm 2009 anh H4
không kiểm tra thông tin thửa đất, vị trí, diện tích thửa đất. Năm 2009, anh H4 có
chuyển nhượng thửa đất trên cho một người giới thiệu ở Hà Nội nhưng không phải
là ông T, bà N. Khi chuyển nhượng, hai bên có thống nhất mua bán nhưng không
ký hợp đồng có công chứng, anh H4 đã nhận đủ tiền. Khi đó các bên không kiểm
tra thông tin số thửa, vị trí và diện tích đất mà chỉ căn cứ vào thông tin trên
GCNQSDĐ. Đến nay anh H4 xác định anh chưa làm hồ sơ, thủ tục để cấp
GCNQSDĐ đối với thửa đất trên, nhưng UBND huyện T lại cấp GCNQSDĐ số
AD 033001 cấp ngày 20/9/2005 ghi tên người sử dụng là anh Đỗ Thế H4, anh H4
không biết ông T, bà N là ai, anh H4 chưa gặp ông T, bà N và cũng không ký hợp
đồng chuyển nhượng với ông T bà N.
11
Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/3/2025, bà Nguyễn Thị C1 trình bày: Bà là
mẹ của anh N1, chị D1 (chị D1 là vợ của anh H4). Thửa đất vợ chồng anh N1, chị
Y đang sử dụng tại thôn T, xã N có nguồn gốc là đất của bố, mẹ bà sử dụng từ
khoảng những năm 1965, bố mẹ bà chia cho bà và vợ chồng ông T4, bà V mỗi
người một bên thửa đất. Khi chia đất, bố mẹ bà không vạch rõ ranh giới giữa hai
bên. Quá trình sử dụng đất, bà có làm nhà ở, công trình phụ, chuồng trại trên đất,
giữa đất của gia đình bà và thửa đất của gia đình ông T4 cũng không có ranh giới
rõ ràng. Bà có 02 người con là anh N1 và chị D1, khi anh N1, chị D1 trưởng thành
lập gia đình thì ban đầu vợ chồng chị D1 ở đất khác còn anh N1 ở cùng bà. Sau đó
do ông T4 chuyển đi nơi khác ở nên có bán lại đất cho anh H4, chị D1 và anh H4,
chị D1 sinh sống trên thửa đất trên được vài năm thì chuyển nhượng cho người
khác. Đối với thửa đất mà anh N1, chị Y đang sử dụng thì bà không biết thửa nào,
tờ bản đồ số bao nhiêu, không biết cấp GCNQSDĐ bao nhiêu lần, loại đất gì, bà
chưa lần nào được ký giáp ranh, đất bố mẹ cho bà thì bà chỉ biết sử dụng còn việc
cấp GCNQSDĐ thì bà giao cho anh N1 đi làm thủ tục. Bà chỉ nhớ trước đây ranh
giới thửa đất gồm một phía giáp đường thôn, một phía giáp đất của hộ ông T4 và
một phía giáp ruộng canh tác. Các lần làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đều do anh N1
thực hiện, bà chỉ ký vào hồ sơ. Bà xác định ngoài thửa đất trên bà không được cấp
GCNQSDĐ đối với thửa đất ở nào khác, khi bà tặng cho anh N1 đất cũng không
chỉ ranh giới.
Tại văn bản ngày 11/8/2025, đại diện Ngân hàng N4 - Chi nhánh T8 trình
bày: Ngày 05/01/2021, anh N1, chị Y có làm hồ sơ vay vốn và hiện vẫn đang thế
chấp tại Ngân hàng quyền sử dụng đất có GCNQSDĐ số CD 559019. Do tài sản
vay vốn trước khi có sự tranh chấp của các bên và tài sản vẫn đang được đảm bảo
cho khoản vay của khách hàng, vì vậy Ngân hàng chưa khởi kiện độc lập. Tại
phiên tòa sơ thẩm, ông Hoàng L đại diện theo ủy quyền trình bày Ngân hàng
không đề nghị giải quyết hợp đồng thế chấp trong vụ án.
Tại văn bản ngày 24/9/2025, đại diện Ngân hàng TMCP Q (MB) trình bày:
Ông Nguyễn Văn N1, bà Dương Thị Y vay vốn tại MB thông qua việc giao kết
Hợp đồng cho vay số 2.24.762.11722827.TD ngày 10/02/2025. Tài sản đảm bảo:
MB nhận thế chấp 03 tài sản bảo đảm, trong đó có tài sản đang tranh chấp: Quyền
sử dụng đất đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 15 tại Thôn T, xã N, T, Bắc Giang
(nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) theo GCNQSDĐ số AP020765 cấp ngày 04/6/2009 cho
hộ anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y. Nay Ngân hàng có ý kiến đối với các
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định
pháp luật. Ngân hàng xác định nhận thế chấp đúng quy định pháp luật, đề nghị Tòa
án bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho MB. Tại phiên tòa sơ thẩm ông Lê Văn C đại
diện theo ủy quyền của ngân hàng M trình bày Ngân hàng M không đề nghị Tòa án
giải quyết hợp đồng thế chấp trên trong vụ án.
Đối với chị Nguyễn Thị Phương O, anh Nguyễn Duy B là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, mặc dù đã được Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản nêu ý kiến, quan điểm đối với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và vắng mặt không
12
có lý do tại các buổi làm việc của Tòa án, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tại phiên toà sơ thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc thẩm định
tại chỗ, đo đạc diện tích đất tranh chấp, định giá tài sản, xác minh tại chính quyền
địa phương.
Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 29/9/2025
của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh đã căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1
Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 34, khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều
157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều
273, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; mục 34 Điều 1 Luật số
85/2025/QH15 của Quốc hội về việc sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 98, 99,
100, 106 Luật đất đai năm 2013; Các Điều 26, 29, 31, 152, 236 Luật đất đai năm
2024; khoản 2, khoản 5 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N.
Xác nhận diện tích đất 1.075,6 m
2
gồm các điểm 19, 20, 2, A5, A6, A7, A8,
A9, A10, A13, A1, địa chỉ đất tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh thuộc quyền sử dụng
của ông Bùi Ngọc T và bà Đào Thị Thanh N.
Buộc anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y và những người có quyền lợi
liên quan cháu Nguyễn Thị Phương O, cháu Nguyễn Duy B phải trả lại cho ông
Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N diện tích đất 1.075,6 m
2
tại thôn T, xã N, tỉnh
Bắc Ninh, gồm các điểm 19, 20, 2, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A13, A1 (trong đó
cạnh 19 - 20 dài 36,66m; cạnh 20 - 2 dài 36,16m; cạnh 2 - A5 dài 1,87m; cạnh A5 -
A6 dài 58,39m; cạnh A6 - A7 dài 2,17m; cạnh A7 - A8 dài 28,62m; cạnh A8 - A9
dài 9,65m; cạnh A9 - A10 dài 7,29m; cạnh A10 - A13 dài 11,57m; cạnh A13 - A1
dài 1,34m; cạnh A1 - 19 dài 9,05m, (có sơ đồ kèm theo).
Buộc anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y và những người có quyền lợi
liên quan cháu Nguyễn Thị Phương O, cháu Nguyễn Duy B phải tháo dỡ các công
trình gắn liền với diện tích đất 1.075,6 m
2
nêu trên, gồm: Một phần chuồng chăn
nuôi số (1) có diện tích 512 m
2
(gồm các điểm B3, B4, B5, B6, A10, B7, B2, trong
đó cạnh B3 - B4 dài 29,17m; cạnh B4 - B5 dài 17,1m; cạnh B5 - B6 dài 29,41m;
cạnh B6 - A10 dài 3,54m; cạnh A10 - B7 dài 4,69m; cạnh B7 - B2 dài 8,19m; cạnh
B2 - B3 dài 3,66m); Một phần chuồng chăn nuôi số (2) có diện tích 214,7 m
2
(gồm
các điểm B9, 21, 22, B10, A7, A8, A9, trong đó cạnh B9 - 21 dài 30,86m; cạnh 21
- 22 dài 2,88m; cạnh 22 - B10 dài 1,2m; cạnh B10 - A7 dài 2,38m; cạnh A7 - A8
dài 28,62m; cạnh A8 - A9 dài 9,65m; cạnh A9 - B9 dài 2,98m); Mái broximăng có
diện tích 17,4 m
2
liền kề phía sau chuồng chăn nuôi số (1) (gồm các điểm B13,
B14, B15, B5, trong đó đoạn B13 - B14 dài 1,05m; đoạn B14 - B15 dài 16,49m;
đoạn B15 - B5 dài 1,06m; đoạn B5 - B13 dài 17,1m); rãnh thoát nước rộng 80 cm,
cao 70 cm phía dưới mái broximăng; Mái broximăng có diện tích 2,8m
2
liền kề
13
phía sau chuồng chăn nuôi số (2) (gồm các điểm B10, B11, B12, A7, trong đó
đoạn B10 - B11 dài 1,2m; đoạn B11 - B12 dài 2,23m; đoạn B12 - A7 dài 1,36m;
đoạn A7 - B12 dài 2,38m); rãnh thoát nước có diện tích 2,8m
2
phía dưới mái
broximăng; Tường giáp đường, ở phần đầu tường có bệ xây (từ điểm A13 đến
điểm 19, dài 9,45m); Mái vẩy lợp broximăng khung sắt có diện tích 41 m
2
(gồm
các điểm B1, B2, B7, B8, trong đó đoạn B1 - B2 dài 6m; đoạn B2 - B7 dài 8,19m;
đoạn B7 - B8 dài 6,26m, đoạn B8 - B1 dài 5,65m); Hệ thống đường đuổi lợn xây
tường cao 01 m phía dưới mái vẩy; Bể chứa chất thải bề rộng 1,3 m
2
; Cống rộng
0,9 m
2
(có sơ đồ kèm theo).
2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 559019 ngày 13/5/2016 do
UBND huyện T, tỉnh Bắc Giang cấp cho bà Nguyễn Thị C1 đối với thửa đất số
171, tờ bản đồ số 56, diện tích 4.107,9 m
2
, địa chỉ thửa đất thôn T, xã N, huyện T,
tỉnh Bắc Giang (nay là thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh), đã được chỉnh lý sang tên anh
Nguyễn Văn N1 và chị Dương Thị Y ngày 03/6/2016.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị
Y về việc buộc ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N phải bồi thường công trình
gồm hệ thống hầm, bể bioga diện tích 200 m
2
, thể tích 2.000 m
3
cùng đường dẫn
khí và các thiết bị phụ trợ, trị giá 360.000.000 đồng và bồi thường số tiền do không
chăn nuôi được từ tháng 10/2024 đến tháng 9/2025 với số tiền 600.000.000 đồng,
tổng số tiền là 960.000.000 đồng.
4. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của anh N1, chị Y về việc buộc vợ
chồng ông T, bà N phải trả diện tích đất khoảng 2.000 m
2
mà ông T bà N đã lấn
chiếm tại thửa 31, tờ bản đồ 15, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
5. Về chi phí tố tụng: Vợ chồng anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y phải
hoàn trả cho vợ chồng ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N số tiền 17.920.000
đồng (mười bẩy triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) chi phí tố tụng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị
Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm và
40.800.000 đồng (bốn mươi triệu tám trăm nghìn đồng) tiền án phí do yêu cầu
phản tố không được chấp nhận, nhưng được khấu trừ vào số tiền 49.600.000 đồng
chị Y đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003581 ngày
10/02/2025 và biên lai số 0002279 ngày 18/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc
Ninh. Hoàn trả anh N1, chị Y số tiền 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn
đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của
đương sự.
14
Ngày 09/10/2025 chị Dương Thị Y có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự
sơ thẩm số 60/2025/DSST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc
Ninh, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm để giải
quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình xét xử phúc thẩm, bị đơn đề nghị Toà án tiến hành thẩm định đo
đạc lại diện tích hai thửa đất và phần đất tranh chấp. Ngày 15/01/2026 Toà án nhân
dân tỉnh Bắc Ninh ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngày 23/01/2026 Toà
án cùng đại diện chính quyền địa phương, cơ quan đo đạc đã thực hiện việc thẩm
định, đo đạc hiện trạng các thửa đất tranh chấp gồm thửa đất số 25, tờ bản đồ số 15
theo GCNQSDĐ cấp cho ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N (hiện là thửa số
97, tờ bản đồ số 56) và thửa đất số 31, tờ bản đồ số 15, theo GCNQSDĐ số
AP020765 cấp ngày 04/6/2009 mang tên ông Nguyễn Văn N1 và bà Dương Thị Y,
sau đo đạc chỉnh lý là thửa đất số 171, tờ bản đồ số 56 cùng ở thôn T, xã N, huyện
T, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh). Cơ quan đo đạc là công ty cổ phần
H7 đã sử dụng máy chuyên dụng, tiến hành đo đạc hiện trạng sử dụng đất, chồng
ghép giữa kết quả đo hiện trạng sử dụng đất với kết quả cấp GCNQSDĐ theo tờ
bản đồ đo đạc năm 2010 của xã N, xử lý bằng phần mềm chuyên dụng. Kết quả
như sau:
Diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất do ông T là nguyên đơn tự xác
định tại thực địa: Căn cứ các ranh giới, mốc giới mà đại diện của ông Nguyễn
Ngọc T5 đã xác định tại thực địa, diện tích đất theo hiện trạng đo đạc của thửa đất
hộ ông T5 là 1.412,8m
2
+ 1.294,3m
2
= 2.707,1m
2
, kí hiệu thửa đất số 2, có DT =
1.412,8m
2
và phần diện tích hộ ông N1, bà Y đã xây dựng chuồng trại số 1, kí hiệu
S1=1.294,3m
2
(kèm theo Sơ đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất), gồm các điểm
GHMN và FGHK, các cạnh cụ thể như sau: GH = 31,8m + 6,5m; HM = 12,5m +
6,9m + 10,3m + 5,3m; MN = 44,1m; NG = 38,3m; Phần ranh giới đất đang có
tranh chấp do đại diện của ông Nguyễn Ngọc T5 xác định tại thực địa đối với thửa
đất hộ ông N1, bà Y đang sử dụng làm chuồng trại chăn nuôi số 1 và số 2, các
điểm mốc là FGHK, kí hiệu S1 = 1.294,3m
2
. Các cạnh cụ thể như sau: FG = 9,7m
+ 6,0m + 17,3m; GH = 31,8m + 6,5m; HK = 22,6m + 3,7m + 2,6m + 4,8m; KF =
51,2m;
Diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất của hộ ông N1, bà Y xác định tại
thực địa: Căn cứ các ranh giới, mốc giới do ông N1 đã xác định tại thực địa, diện
tích đất theo hiện trạng đo đạc của thửa đất hộ ông N1 đang quản lý, kí hiệu thửa
đất số 1, có DT = 7.095,3m
2
(bao gồm cả phần diện tích đất xác định có tranh
chấp S1 = 1.294,3m
2
), gồm các điểm ABCDEFGHK (kèm theo Sơ đồ đo vẽ hiện
trạng sử dụng đất). Các cạnh cụ thể như sau: AB = 3,9m + 6,2m + 11,7m + 12,9m
+ 5,3m + 12,1m + 24,3m + 10,4m; BC = 2,5m + 3,4m + 7,2m + 10,8m + 8,7m +
14,1m; CD = 7,9m + 9,1m + 9,6m + 2,9m; DE = 11,6m + 21,3m + 16,3m; EF =
21,7m; FG = 9,7m + 6,0m + 17,3m; GH = 31,8m + 6,5m; HK = 22,6m + 3,7m +
2,6m + 4,8m; KA = 6,7m + 0,9m + 15,8m + 12,9m.
+ Kết quả chồng, ghép giữa kết quả đo hiện trạng với tờ bản đồ địa chính số
56, xã N (nay là xã N) đo đạc năm 2010.
15
Theo tờ bản đồ số 56, xã N (cũ), nay là xã N, đo đạc năm 2010 có thể hiện các
thửa đất sau:
- Thửa đất số 118, tờ bản đồ số 56, diện tích 3.876,3m
2
(sau đo đạc chỉnh lý là
Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 56, diện tích 4.107,9m
2
) đã được UBND huyện T
cấp đổi GCNQSD đất mang tên bà Nguyễn Thị C1, ngày 13/5/2016. Được Chi
nhánh Văn phòng ĐKĐĐ huyện T điều chỉnh trang 3 GCN mang tên Nguyễn Văn
N1, bà Dương Thị Y ngày 03/6/2016.
- Thửa đất số 97, tờ bản đồ số 56, diện tích 2.292,9m
2
của hộ ông T5, bà N
(hiện thửa đất này chưa được cơ quan cấp có thẩm quyền cấp đổi GCNQSD đất
theo bản đồ đo đạc địa chính năm 2010).
Kết quả chồng ghép giữa kết quả đo đạc hiện trạng với sơ đồ cấp GCNQSDĐ
năm 2016 (thửa 171, diện tích 4.107,9m
2
cho thấy: Hiện trạng hộ ông N1, bà Y đã
xây dựng công trình chăn nuôi số 1, bể thải và một phần bán mái Prô xi măng nằm
ngoài ranh giới, mốc giới được cấp GCNQSDĐ năm 2016 (xác định đó là vị trí
tranh chấp). Cụ thể tại điểm mốc: 4,5,G1,G,H,H2, kí hiệu S2 = 669,7m
2
. Các cạnh
cụ thể như sau: Điểm 4-5 = 35,9m; Điểm 5-G1 = 0,7m; Điểm G1-G =
(3,4m+17,3m); Điểm G-H = 31,8m+6,5m; Điểm H-H2=10,4m; Điểm H2-4 =
11,3m+4,0m (Kèm theo Sơ đồ chồng ghép đo vẽ hiện trạng sử dụng đất với sơ đồ
cấp GCNQSD đất).
Kết quả chồng ghép giữa kết quả đo đạc hiện trạng với tờ bản đồ địa chính số
56, đo đạc năm 2010, xã N, huyện T cho thấy: Hiện trạng hộ ông N1, bà Y đã xây
dựng công trình chăn nuôi số 1 và một phần diện tích của công trình chăn nuôi số
2, bể thải và một phần bán mái Prô xi măng nằm ngoài ranh giới, mốc giới thửa đất
số 118, diện tích 3.876,3m
2
của bà Nguyễn Thị C1, cụ thể điểm mốc
4,5,G1,G,H,H2, ký hiệu S2 = 900,9m
2
. Các cạnh cụ thể như sau: Điểm 4-5 =
9,6m+30,8m; Điểm 5-G1 = 4,1m; Điểm G1-G = 3,4m+17,3m; Điểm G-H =
31,8m+6,5m; Điểm H-H2 = 10,4m; Điểm H2-4 = 11,3+7,3m (kèm theo sơ đồ
chồng ghép đo vẽ hiện trạng sử dụng đất của tờ bản đồ số 56, đo đạc năm 2010).
Đối với nội dung Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh yêu cầu chồng ghép với sơ
đồ cấp GCNQSD đất của hộ ông T5 năm 2009 (theo bản đồ đo vẽ năm 1987) của
xã N (cũ), xin được báo cáo như sau: Sau khi thu thập các tài liệu, chứng cứ có
liên quan đến vụ án nêu trên, Công ty có được UBND xã N cung cấp 01 bản đồ
giấy (bản đồ được đo đạc năm 1987), tại vị trí các thửa đất tranh chấp qua đối
chiếu giữa sơ đồ trên GCNQSD đất cấp năm 2009 với sơ đồ tại bản đồ đo năm
1987 và hiện trạng thửa đất thì có sự sai khác. Ranh giới, mốc giới có nhiều biến
động, một phần do các đương sự đã thay đổi hiện trạng. Do vậy, công ty không có
cơ sở hay căn cứ pháp lý để tiến hành chồng ghép giữa sơ đồ đo vẽ theo hiện trạng
sử dụng đất với sơ đồ theo đo đạc năm 1987.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn
không rút kháng cáo, các đương sự không hoà giải, thoả thuận được việc giải quyết
tranh chấp.
16
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Dương Minh H trình bày, tranh luận:
Bị đơn chị Y kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 60/2025/DSST ngày 29/9/2025
của Toà án nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh, đề nghị huỷ toàn bộ bản án, chuyển hồ
sơ cho Toà án sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định. Căn cứ kháng cáo là cấp
sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự. Cụ thể thửa đất của ông T5, bà N đã chuyển nhượng cho
người tên Nguyễn Văn T6, nhưng cấp sơ thẩm không đưa người này tham gia tố
tụng là vi phạm tố tụng, bản chất pháp lý của thửa đất có thể chưa được xem xét
đầy đủ; Cấp sơ thẩm không thu thập đầy đủ chứng cứ, chỉ căn cứ lời khai của
nguyên đơn để đánh giá, chấp nhận yêu cầu khởi kiện là không có căn cứ, quá trình
giải quyết vụ án không cho đối chất là xâm phạm đến quyền chứng minh, quyền
tranh tụng của bị đơn. Bản án không xác định cụ thể quyết định cấp GCNQSDĐ
năm 2016 vi phạm điều khoản nào của Luật đất đai; không phân tích sai phạm
thuộc bước nào của thủ tục cấp đổi; không kết luận rõ lỗi thuộc về cơ quan nhà
nước hay người sử dụng đất, không chứng minh có hành vi giả mạo, gian dối hoặc
cấp sai thẩm quyền. Ý kiến của các cơ quan chức năng của UBND huyện T đều
cho rằng GCN này cấp đúng pháp luật, đúng đối tượng, đúng nguồn gốc đất, có sai
sót về diện tích. Như vậy, điều kiện để huỷ quyết định hành chính theo điều 34
BLTTDS chưa được chứng minh đầy đủ. Theo điều 106 Luật đất đai thì Nhà nước
thu hồi GCNQSDĐ trong các trường hợp cấp sai thẩm quyền, sai đối tượng, sai
diện tích, kê khai không trung thực, do lỗi của cơ quan nhà nước. Trong vụ án này
bản án sơ thẩm không xác định rõ GCNQSDĐ năm 2016 thuộc bất kỳ trường hợp
nào nêu trên. Nếu có sai lệch ranh giới hoặc chồng lấn diện tích, biện pháp xử lý
phù hợp là Chỉnh lý diện tích, điều chỉnh ranh giới, cập nhật hồ sơ địa chính chứ
không bắt buộc phải huỷ toàn bộ GCNQSDĐ. Việc huỷ GCNQSDĐ gây hậu quả
vượt xa phạm vi tranh chấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tài sản hợp pháp
được pháp luật bảo vệ. Hiện GCNQSDĐ được cấp năm 2016 của anh N1, chị Y
đang được thế chấp tại Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng, việc thế chấp hợp pháp,
nếu huỷ GCNQSDĐ thì tài sản đảm bảo bị ảnh hưởng, phát sinh rùi ro cho Ngân
hàng là bên thứ ba ngay tình. Nguyên đơn không có yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số
CD559019 của ông N1, bà Y, chỉ yêu cầu giải quyết phần diện tích đất tranh chấp,
tuy nhiên bản án tuyên huỷ toàn bộ GCNQSDĐ đã vi phạm nguyên tắc tự định
đoạt của đương sự, vượt quá phạm vi giải quyết yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Đề nghị Toà án căn cứ khoản 3 điều 308, điều 310 BLTTDS huỷ bản án sơ thẩm.
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Hoàng Ngọc S trình bày, tranh luận: Bị
đơn đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và chuyển
hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết vì HĐXX cấp sơ thẩm đã có những vi phạm
nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự. Về thủ tục thu thập tài liệu chứng cứ như việc lấy lời khai của đương sự, người
làm chứng thuộc thẩm quyền của thẩm phán được phân công giải quyết vụ án,
không phải của thư ký, tuy nhiên tại các bút lục số 142, 160, 164, 173, 174, 178,
312, 314, 315, 316, 317, 429, 430 thư ký được phân công tiến hành tố tụng trong
vụ án đã tự ý lấy lời khai của đương sự, người làm chứng mà không có sự chủ trì
của thẩm phán, không ghi thẩm phán vào biên bản, có biên bản ghi nhưng thẩm
17
phán không ký. Như vậy đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, tiến hành tố
tụng thu thập tài liệu, chứng cứ khi pháp luật cho quyền thư ký được tự làm mà
phải có sự chủ trì của thẩm phán. Về phía thẩm phán và HĐXX sơ thẩm đã sử
dụng tài liệu, chứng cứ thu thập không đúng quy định của pháp luật này để xét xử,
ra bản án là trái quy định của pháp luật, vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng. Đối
với việc chấp nhận yêu cầu huỷ GCNQSDĐ cấp cho bà C1, tại phiên toà sơ thẩm
nguyên đơn có yêu cầu huỷ GCNQSDĐ cấp cho bà Nguyễn Thị C1, tuy nhiên
trong phiên toà sơ thẩm UBND xã N, bà C1 đều vắng mặt, nhưng HĐXX không
ngừng phiên toà để thông báo cho UBND xã N và bà C1 biết về yêu cầu huỷ
GCNQSDĐ để có ý kiến về yêu cầu này. Theo quy định tại khoản 3 điều 34 Bộ
luật tố tụng dân sự quy định “Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành
quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của mình về quyết định cá biệt
bị Toà án xem xét huỷ”. Như vậy, HĐXX cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, đề
nghị HĐXX căn cứ khoản 3 điều 308, điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự huỷ bản
án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ
thẩm. Tại phiên toà sơ thẩm anh N1 chị yến đã rút yêu cầu ông T5, bà N phải trả
diện tích đất khoảng 2000m
2
, đến nay bị đơn xin rút toàn bộ yêu cầu phản tố,
trường hợp sau này có đủ chứng cứ sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Luật sư T2 bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho chị Y trình bày, tranh luận: Cấp
sơ thẩm vi phạm về tố tụng trong xem xét, đánh giá chứng cứ, xem xét thẩm định
tại chỗ, định giá tài sản, bản án sơ thẩm chỉ dựa vào ý kiến của nguyên đơn để
đánh giá, áp dụng không đúng pháp luật hành chính, dân sự. Theo xác nhận của
chính quyền địa phương và các bên thì nguồn gốc và hiện trạng sử dụng đất có
nguồn gốc sử dụng từ 1975-1976, ranh giới, mốc giới giữa các thửa đất không rõ
ràng. Tháng 1/2009, bà C1 cho bị đơn, tháng 4/2009 làm thủ tục, tháng 9/2009
được cấp GCNQSDĐ cho bị đơn. Ông H4 nhận chuyển nhượng từ ông T4, không
có giấy tờ mua bán, không làm thủ tục nhưng lại được cấp GCNQSDĐ mang tên
ông H4, lúc đó ông T4 làm chủ tịch UBND xã N. Ông H4 là người bán không biết
người mua T5 là ai. Không có chứng cứ chứng minh ông T5 xây tường rào sau khi
mua đất của ông H4, khi ông H4, ông T5 mua bán không có biên bản xác định ranh
giới mốc giới. Thửa đất số 31 bà C1 được xác định ranh giới, mốc giới năm 2009
có các hộ giáp ranh ký. Cạnh giáp ranh với nhà anh H4 là 68 m, địa chính xác định
chỉ là 59m là có sự mâu thuẫn. Trích lục bản đồ năm 1987 thể hiện ba thửa: thửa
nhà ông T4 là thửa 25 có diện tích hơn 2900 m
2
, thửa 24 có diện tích hơn 1500 m
2
và thửa 37 (sau là thửa 31), năm 2010 ghi lại là 1 thửa khác, năm 2016 chỉnh lý là
một thửa tên khác (thửa 171). UBND các cấp đều xác định cấp GCNQSDĐ năm
2009 và năm 2016 cho bà C1 là đảm bảo đúng quy định pháp luật, việc cấp
GCNQSDĐ cho ông T5 cũng đúng quy định. Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ,
không có thủ tục xác định ranh giới, mốc giới giữa các hộ liền kề trong hồ sơ cấp
GCNQSDĐ, Tòa sơ thẩm không xác minh làm rõ việc lấy lời khai của những hộ
giáp ranh là thiếu sót. Tòa sơ thẩm hủy GCNQSDĐ là quyết định vượt quá thẩm
quyền khi không đương sự nào có yêu cầu. Do đó đề nghị HĐXX phúc thẩm huỷ
bản án sơ thẩm.
18
Chị Y, anh N1 nhất trí với lời trình bày, tranh luận của đại diện theo uỷ quyền
và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm. Đối với
việc thẩm định, đo đạc đất đề nghị xem xét theo kết quả đo tại cấp phúc thẩm.
Bà Cao Thị N2 đại diện theo uỷ quyền của bà C1, chị O nhất trí với quan
điểm của bị đơn, cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, không
thu thập đầy đủ chứng cứ, đánh giá chứng cứ không khách quan, đề nghị huỷ bản
án sơ thẩm.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Ông T5, bà N có quyền sử
dụng đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 15 địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh
Bắc Giang (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh) GCNQSDĐ số AQ101419 ngày
07/12/2009. Phần công trình nhà chăn nuôi, bể chứa nước thải, bán mái lợp Proxi
măng, rãnh thoát nước thải của anh N1, chị Y đã xây dựng trên một phần diện tích
đất thuộc thửa đất nêu trên của ông T5, bà N. Phần diện tích đất bị xây lấn vào đã
được cấp sơ thẩm cho thẩm định, đo đạc, tuy nhiên tại cấp phúc thẩm, anh N1 chị
Y có đề nghị đo đạc, thẩm định lại tài sản, kết quả đo đạc có chênh lệch so với kết
quả đo đạc tại cấp sơ thẩm, ông nhất trí với kết quả đo đạc, thẩm định tại cấp phúc
thẩm. Phần diện tích có công trình của anh N1, chị Y xây lên đất của ông T5, bà N
là 900,9m
2
ngoài ra còn có một rãnh thoát nước thải từ khu công trình chăn nuôi
chạy qua đất ông T5, bà N, nay ông T5, bà N yêu cầu anh N1, chị Y phải tháo dỡ
di rời toàn bộ các công trình xây dựng trên đất lấn chiếm, trả lại diện tích đất
900,9m
2
cho ông T5, bà N. Đối với việc bà Y, ông N1 xin rút yêu cầu phản tố, ông
không có ý kiến gì. Đối với GCNQSDĐ đã cấp cho bà C2, anh N1, chị Y có vi
phạm, ông T5, bà N không yêu cầu huỷ các GCNQSDĐ này, đề nghị HĐXX căn
cứ quy định của pháp luật để xem xét. Đối với chi phí thẩm định tại cấp sơ thẩm,
ông T5 đã nộp, ông T5 xin chịu, đối với chi phí thẩm định tại cấp phúc thẩm chị Y
yêu cầu và đã nộp thì chị Y phải chịu.
Anh Nguyễn Văn T6 có mặt tại phiên toà trình bày: Anh có quan hệ quen biết
với ông T5, bà N, anh không nhận chuyển nhượng đất của ông T5, bà N như ý kiến
bị đơn nêu, do ông T5 ở xa nên có nhờ anh trông nom, quản lý đất giúp. Do đó anh
không liên quan đến tranh chấp.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu
ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên
tòa, HĐXX, thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các
đương sự đã chấp hành, thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Xem xét yêu cầu kháng cáo của chị Y và các tài liệu, chứng cứ đã thu
thập được, đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bắc Ninh đề nghị HĐXX phúc thẩm: áp
dụng khoản 2 Điều 308, điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự, xử: Chấp nhận một phần
kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của
TAND khu vực 3 – Bắc Ninh theo hướng xác định diện tích đất tranh chấp thuộc
quyền sử dụng của nguyên đơn là 900,9m
2
; Đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị
đơn; Đối với các GCNQSDĐ số CD 559019, số AP020765 đều có sai phạm, tuy
nhiên đây là việc cấp đổi, cấp lại GCNQSDĐ do đó khi bản án có hiệu lực pháp
luật các đương sự có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được điều
19
chỉnh, cấp mới GCNQSDĐ theo quy định. Về chi phí thẩm định, định giá nguyên
đơn chịu toàn bộ chi phí ở cấp sơ thẩm, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tại cấp
phúc thẩm. Về án phí sơ thẩm bị đơn phải chịu toàn bộ. Về án phí phúc thẩm bị
đơn không phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
[1]. Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bị đơn chị
Y, anh N1 và người đại diện theo uỷ quyền; đại diện theo uỷ quyền của bà C1, chị
O, luật sư T2 bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chị Y1 có mặt, những người tham
gia tố tụng khác vắng mặt, HĐXX căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử
vụ án theo quy định.
[2]. Chị Dương Thị Y kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm đúng thời hạn, HĐXX chấp nhận xem xét kháng cáo theo quy
định.
[3]. Xét kháng cáo của chị Dương Thị Y và nội dung tranh chấp, HĐXX thấy:
[4]. Ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N xác định thửa đất số 25, tờ bản đồ
số 15, diện tích 3.100,0m
2
(trong đó có 360m
2
đất ở và 2.740m
2
đất vườn), địa chỉ
tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh) thuộc
quyền sử dụng của ông T, bà N theo GCNQSDĐ số AQ101419 do UBND huyện T
cấp ngày 07/12/2009. Nguồn gốc đất là do ông T, bà N đã nhận chuyển nhượng
của vợ chồng anh Đỗ Thế H4 và chị Nguyễn Thị D1 theo Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 24/11/2009. Do anh Nguyễn Văn N1, chị
Dương Thị Y đã xây dựng các công trình bể nước thải, khu chăn nuôi lợn, một số
công trình khác trên một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ số 15
nên ông T, bà N khởi kiện đề nghị Toà án buộc anh N1, chị Y tháo dỡ toàn bộ các
công trình xây dựng trên đất của ông, bà, trả lại cho ông, bà diện tích đất lấn
chiếm. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của ông T xác định phần
diện tích đất có công trình của anh N1, chị Y xây dựng trên thửa đất của ông T, bà
N theo kết quả đo đạc ở cấp sơ thẩm đã được bản án sơ thẩm xác định là
1.075,6m
2
, theo kết quả đo đạc thẩm định ở cấp phúc thẩm xác định phần công
trình anh N1, chị Y xây dựng trên đất của ông T, bà N là 900,9m
2
nên đề nghị Toà
án buộc anh N1, chị Y tháo dỡ, di rời toàn bộ các công trình đã xây dựng trên đất
của ông T, trả diện tích đất lấn chiếm trên.
[5]. Anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y xác định gia đình anh, chị có hai
thửa đất bao gồm: thửa số 171, tờ bản đồ số 56, diện tích 4.107,9 m
2
, địa chỉ tại
thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho anh N1, chị
Y ngày 13/5/2016. Nguồn gốc thửa đất trên là của ông, bà ngoại anh N1 cho bà
Nguyễn Thị C1 là mẹ anh N1. Ngày 24/12/2001 bà C1 được UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ số U900562, diện tích 4.086m
2
, khi cấp không ghi số thửa. Ngày
13/5/2016 bà C1 được cấp đổi GCNQSDĐ số CD 559019, thửa số 171, tờ bản đồ
số 56, diện tích 4.107,9 m
2
, đến ngày 13/6/2016 bà C1 đã tặng cho anh N1, chị Y
20
thửa đất trên; Thửa đất thứ 2 là thửa số 31, tờ bản đồ số 15, diện tích 3.470 m
2
đã
được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AP 020765 ngày 04/6/2009. Thửa đất có
nguồn gốc của ông, bà ngoại anh N1 sử dụng, sau đó chuyển cho bà Nguyễn Thị
Chuyển tiếp T7 sử dụng, ngày 15/10/1993 bà C1 được cấp giấy CNQSDĐ, ngày
18/5/2009 bà C1 tặng cho vợ chồng anh chị, ngày 04/6/2009 anh chị được cấp
GCNQSDĐ số AP 020765 đối với thửa đất trên. Như vậy, vợ chồng anh chị đang
sử dụng hợp pháp 02 thửa đất có tổng diện tích là 7.577,9m
2
. Anh, chị đã xây dựng
các công trình, khu chăn nuôi trên đất của anh, chị, không xây dựng sang đất của
ông T, bà N nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà N.
[6]. Lời khai của bà Nguyễn Thị C1, ông Trần Công T4 và ông T4, vợ chồng
anh H6 và kết quả xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ tại chính quyền địa phương
cho thấy: Thửa đất của ông T, bà N và của anh N1, chị Y được UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ nêu trên đều có nguồn gốc của bố, mẹ bà C1, bà V sử dụng từ khoảng
những năm 1965, sau đó các cụ đã chia cho bà C1 và vợ chồng ông T4, bà V mỗi
người một phần diện tích đất. Quá trình sử dụng đất, bà C1 đã làm nhà ở, công
trình phụ trên phần đất được cho và vợ chồng ông T4, bà V cũng sử dụng phần
diện tích đất được cho, tuy nhiên giữa thửa đất của gia đình bà C1 với thửa đất của
gia đình ông T4 không xây tường hay làm hàng rào để xác định ranh giới rõ ràng.
Sau đó, phần diện tích đất của ông T4, bà V sử dụng đã chuyển nhượng cho anh
H4, chị D1 và anh H4, chị D1 đã chuyển nhượng cho ông T, bà N, còn thửa đất của
bà C1 sử dụng đã tặng cho anh N1, chị Y. Bản thân bà C1 xác định ngoài thửa đất
tặng cho anh N1, chị Y hiện anh, chị sử dụng nêu trên, bà C1 không có thửa đất
nào khác tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
[7]. Theo UBND xã N và UBND huyện T đều xác định Thửa đất số 31, tờ bản
đồ số 15, diện tích 3.470 m
2
tại thôn T, xã N, huyện T có nguồn gốc là đất thổ cư
thổ cư cũ của bố mẹ bà Nguyễn Thị C1 sử dụng và để lại cho bà C1, được thể hiện
tại bản đồ năm 1987 là thửa 24, diện tích 1.590 m
2
và thửa 37, tờ bản đồ số 15,
diện tích 2.248 m
2
, tổng diện tích của 02 thửa là 3.838 m
2
. Ngày 15/10/1993 bà
Nguyễn Thị C1 được cấp GCNQSDĐ tạm thời diện tích 5.462 m
2
(gồm đất ở và
đất nông nghiệp), trong đó có thửa đất số 31. Ngày 24/12/2001, thửa đất thổ cư
được cấp đổi GCNQSDĐ số phát hành U 900562, số vào sổ 01818, trên giấy
không ghi số thửa, tờ bản đồ, chỉ ghi là “Trại Mới”. Kiểm tra bản đồ năm 1987 cho
thấy khu đất bà C1 sử dụng được thể hiện trên bản đồ là thửa số 24, diện tích
1590m
2
và thửa 37, diện tích 2248m
2
cùng tờ bản đồ số 15. Kiểm tra bản đồ đo đạc
năm 2010, thửa đất 24, 37, cùng tờ bản đồ 15 được thể hiện tại thửa 118, tờ bản đồ
số 56, diện tích 3876,3m
2
, khi làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ cho bà C1 thì khu
đất đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo đạc, chỉnh lý, thửa đất thể
hiện tại thửa 171, tờ bản đồ số 56, diện tích 4.107,9m
2
. Thửa đất số 31, tờ bản đồ
15 hiện trạng gia đình ông N3 đã múc thành ao thả cá.
[8]. Như vậy, thửa đất số 31, tờ bản đồ số 15 cấp cho bà C1 năm 1993 và
được bà C1 tặng cho anh N1, chị Y năm 2009 là thửa 24, diện tích 1590m
2
và thửa
số 37, diện tích 2248m
2
. Ngày 15/10/1993 bà C1 được cấp GCNQSDĐ tạm thời
đối với diện tích đất thổ cư thửa số 31, tờ bản đồ 15 chính là thửa đất số 24 và 37
21
nêu trên. Năm 2001 bà C1 đã được UBND huyện T cấp đổi GCNQSDĐ đối với
diện tích đất thổ cư (tại GCNQSDĐ số U900562, số vào sổ 01818 ngày
24/12/2001), do đó GCNQSDĐ cấp cho bà C1 ngày 15/10/1993 đối với diện tích
đất thổ cư trên không còn giá trị, ngày 18/5/2009 bà C1 lại lập hợp đồng tặng cho
anh N1, chị Y thửa đất thổ cư trên theo GCNQSDĐ cấp năm 1993 và ngày
04/6/2009 anh N1, chị Y được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ số AP 020765
là trùng với thửa đất đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho bà C1 năm
2001 và được cấp đổi GCNQSDĐ năm 2016 cho bà C1 để ngày 13/6/2016 bà C1
tặng cho anh N1, chị Y. Do đó, có cơ sở xác định cùng một thửa đất anh N1, chị Y
có hai GCNQSDĐ chứ không có việc bà C1 có hai thửa đất và được UBND huyện
T cấp GCNQSDĐ như anh N1, chị Y khai. Đối với thửa đất của ông T, bà N được
chính quyền địa phương xác định là thửa số 25, tờ bản đồ số 15, có nguồn gốc của
bà V, ông T4 được bố, mẹ bà V chia cho. Ngày 12/12/1998 vợ chồng ông T4 đã
được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ, năm 2005 vợ chồng ông T4 chuyển nhượng
cho Đỗ Thế H4 và anh H4 đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số
AD033001, vào sổ cấp GCN số 01993 ngày 20/9/2005. Năm 2009 anh H4, chị D1
đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông T, bà N và ông T, bà N đã được UBND
huyện T cấp GCNQSDĐ số AQ101419 ngày 07/12/2009. Như vậy, thửa đất của
ông T, bà N không phải là thửa đất của bà C1 tặng cho vợ chồng anh N1, chị Y
hoặc nằm trong thửa đất của bà C1 tặng cho anh N1, chị Y. Việc anh N1, chị Y xác
định có quyền sử dụng hợp pháp đối với 02 thửa đất có tổng diện tích là 7.577,9
m
2
, trong đó có thửa đất số 25, tờ bản đồ số 15 mà ông T, bà N nhận chuyển
nhượng của anh H4 chị D1 là không có căn cứ.
[9]. Về ranh giới giữa hai thửa đất, diện tích đất tranh chấp: Bà Nguyễn Thị
C1 cho rằng khi bố mẹ chia đất cho bà và cho vợ chồng ông T4, bà V thì không
xác định rõ ranh giới. Ông T4 cũng xác định khoảng năm 1998 ông được cấp giấy
CNQSDĐ, khi cấp cũng không đo đạc hiện trạng. Ông T xác định anh N1, chị Y
đã phá bức tường do ông bà xây dựng làm ranh giới giữa hai thửa đất khi ông, bà
nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng anh H4. Anh N1, chị Y xác định toàn bộ
công trình chăn nuôi anh, chị xây dựng trên đất của anh, chị đã được cấp
GCNQSDĐ, không xây chồng lấn lên đất của ông T, bà N. Căn cứ tài liệu có trong
hồ sơ vụ án thì thấy theo Giấy GCNQSDĐ cấp cho bà C1 năm 1993 và năm 2001
đều không thể hiện hình thể, sơ đồ thửa đất trên GCNQSDĐ và đến thời điểm này
xã N không có bản đồ địa chính chính quy để kiểm tra, đối chiếu, xác định ranh
giới đất. Năm 2009 khi bà C1 làm thủ tục tặng cho anh N1, chị Y thửa đất số 31 thì
có tiến hành đo hiện trạng thửa đất để xác định độ dài các cạnh và ranh giới thửa
đất, bà C1, anh N1 đồng ý với hiện trạng đo vẽ này và kết quả đo đạc được thể
hiện rõ trên GCNQSDĐ do UBND huyện T cấp cho anh N1, chị Y số AP 020765
ngày 04/6/2009. Cùng năm 2009, khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho ông T, bà N
theo hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa anh H4, chị D1 với ông T, bà N thì có
đo hiện trạng thửa đất và khi đo có xác định độ dài các cạnh và ranh giới thửa đất.
Tại biên bản trích đo thửa đất lập ngày 24/11/2009, anh H4 là chủ sử dụng thửa đất
có ký tên vào biên bản và bà C1 có ký tên xác định hộ giáp ranh, ngoài ra còn có
chữ ký của cán bộ địa chính, trưởng thôn. Ông Hoàng Văn V1 là cán bộ địa chính
22
xã N cũng xác định khi làm thủ tục để cấp GCNQSDĐ cho anh N1, chị Y năm
2009 theo hợp đồng tặng cho giữa bà C1 với anh N1, chị Y và làm thủ tục cấp
GCNQSDĐ cho ông T, bà N theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa anh H4 với ông T, bà N thì địa chính xã có về thực địa để đo hiện trạng, có
mặt trưởng thôn và các hộ giáp ranh, khi tiến hành đo hiện trạng thì bà C1, anh H4
thống nhất chỉ ranh giới để tiến hành đo. Tại khoản 1 Điều 265 BLDS 2005 Bộ luật
dân sự quy định“Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa
thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã
tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp”. Như vậy, có thể thấy ranh giới
giữa thửa đất của bà Nguyễn Thị C1 tặng cho vợ chồng anh Nguyễn Văn N1, chị
Dương Thị Y và thửa đất của anh Đỗ Thế H4 chuyển nhượng cho vợ chồng ông
Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N đã được các bên và chính quyền địa phương xác
định từ năm 2009 (theo sơ đồ trên GCNQSDĐ). Đồng thời, các thửa đất trên cũng
đã được đo đạc thể hiện tại bản đồ địa chính chính quy năm 2010, xem xét hình
thể, sơ đồ hai thửa đất theo bản đồ năm 2010 cho thấy có sự tương đồng với sơ đồ
đo đạc được ghi trên giấy CNQSDĐ đã cấp cho các chủ thể trên năm 2009. HĐXX
thấy Toà án cấp sơ thẩm căn cứ bản đồ địa chính xã N đo đạc năm 2010 để làm căn
cứ xác định ranh giới thửa đất, diện tích đất mỗi chủ thể được quyền sử dụng để
giải quyết vụ án là có cơ sở.
[10]. Đối với thửa đất anh N1, chị Y đang quản lý sử dụng đã được cấp
GCNQSDĐ số CD559019 ngày 13/5/2026 cho bà Nguyễn Thị C1 và ngày
3/6/2026 được xác nhận tặng cho anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y HĐXX
thấy sơ sơ đồ thửa đất thể hiện trong GCNQSDĐ có khác với sơ đồ đo đạc và cấp
GCNQSDĐ năm 2009 và khác bản đồ địa chính của xã N năm 2010. Xem xét hồ
sơ cấp GCNQSDĐ cho bà C1 thì thấy, trong hồ sơ có biên bản kiểm tra xác minh
lập ngày 28/3/2016 trong đó có thành phần gồm ông Bùi Mạnh T3 - công chức địa
chính, ông Dương Văn H5 - trưởng thôn T, bà Nguyễn Thị C1, anh Đỗ Thế H6 lập
biên bản xác định về nguồn gốc, quá trình sử dụng và hiện trạng đất của bà C1 sử
dụng, có thể hiện nội dung các ông, bà cùng thống nhất xác định phần diện tích
231,6m
2
thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ 15 theo GCNQSDĐ do UBND huyện T
cấp cho ông H6 năm 2005 và cho ông T năm 2009 là đất của bà C1. Tuy nhiên, khi
lập biên bản này ông T, bà N mới là người có quyền sử dụng đất, anh H6 không
còn là chủ sử dụng hợp pháp, do đó việc anh H6 cùng bà C1 xác định ranh giới,
phần diện tích trên là đất của bà C1 là không đúng. Trước thời điểm trên thì anh
N1, chị Y, bà C1 không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh được diện tích
đất 231,6m
2
thuộc quyền sử dụng của bà C1 kể từ khi bà C1 được bố, mẹ tặng cho
quyền sử dụng đất, được cấp GCNQSDĐ lần đầu năm 1993, cấp đổi năm 2001. Do
đó việc bà C1 được cấp GCNQSDĐ số CD559019, số vào sổ CH00890, thửa đất
171, tờ bản đồ số 56, diện tích 4.107,9m
2
trong đó có diện tích 213,6m
2
thuộc
quyền sử dụng đất của ông T bà N là không đúng pháp luật. Vì vậy, sơ đồ thửa đất,
diện tích đất theo GCNQSDĐ năm 2016 không phải là căn cứ để xác định anh N1,
chị Y có quyền sử dụng đối với phần diện tích 213,6m
2
này, cũng không phải là cơ
sở để đối chiếu làm căn cứ xác định ranh giới, mốc giới thửa đất.
23
[11]. Theo kết quả trích đo và báo cáo kết quả trích đo các thửa đất đang tranh
chấp của Công ty TNHH một thành viên K1 tại cấp sơ thẩm đã xác định: Do thửa
đất đã thay đổi hiện trạng so với bản đồ cấp giấy CNQSDĐ năm 2009, một phần
thửa đất của hộ anh N1 đã múc thành ao nên việc xác định tranh chấp được tiến
hành đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất và các hộ xác định vị trí tranh chấp chồng
áp lên bản đồ địa chính xã N được đo đạc năm 2009 và nghiệm thu năm 2010, thể
hiện: Diện tích thửa đất 97 của hộ ông T quản lý sử dụng, hiện trạng còn lại do chủ
hộ xác định là 1917,5 m
2
, được xác định bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 22, 21, 20, 19;
chồng ghép bản đồ năm 2010 thì hiện trạng quản lý, sử dụng còn lại của hộ ông T
là 1.189,1 m
2
gồm các điểm 19, 20, A5, A2 và diện tích đất mà vợ chồng anh N1,
chị Y đã xây dựng công trình gồm các điểm 19, 20, 2, A5, A6, A7, A8, A9, A10,
A13, A1 diện tích 1.075,6 m
2
, tổng diện tích theo bản đồ năm 2010 thì hộ ông T
được sử dụng là 2292,9 m; Diện tích hiện trạng thửa đất số 118 do hộ ông N1 xác
định phần còn lại đã trừ phần diện tích tranh chấp là 2148,0m
2
, được xác định bởi
các điểm 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17; chồng ghép bản đồ năm 2010 thì
một phần diện tích đất của hộ anh N1, chị Y đã chuyển đổi thành ao nên không xác
định được vị trí, tổng diện tích theo bản đồ năm 2010 hộ anh N1, chị Y được sử
dụng là 3876,3 m
2
. (trong đó có 1 phần diện tích đất anh N1 chị Y đã chuyển đổi
thành ao). Trên cơ sở đo đạc hiện trạng sử dụng đất, lấy bản đồ địa chính năm
2010 làm cơ sở để chồng ghép, xác định ranh giới đất, cấp sơ thẩm xác định phần
diện tích đất vợ chồng anh N1, chị Y đã xây dựng công trình lấn sang đất của ông
T, bà N là 1.075,6m
2
và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà N buộc anh
N1, chị Y phải tháo dỡ công trình để trả lại diện tích đất nêu trên cho ông T, bà N
là có căn cứ.
[11]. Quá trình xét xử phúc thẩm bị đơn đề nghị xem xét, đo đạc lại hiện trạng
các thửa đất tranh chấp, nguyên đơn đồng ý với kết quả thẩm định, đo đạc lại các
thửa đất do Công ty Cổ phần H7 thực hiện. Theo kết quả đo hiện trạng hiện trạng
đối với thửa đất 97, tờ bản đồ 56 (do đại diện cho ông T xác định) thì thửa đất của
ông T, bà N có quyền sử dụng đo được diện tích là 3085,5m
2
, trong đó có
1294,3m
2
hiện anh N1, chị Y đã xây dựng các công trình chăn nuôi, chuồng trại.
Theo kết quả đo hiện trạng đối với thửa đất anh N1, chị Y đang quản lý, sử dụng
(do anh N1, chị Y xác định) thì diện tích đo được là 7095,3m
2
, trong đó bao gồm
cả phần diện tích 1294,3m
2
mà đại diện của ông T, bà N xác định thuộc quyền sử
dụng của ông T, bà N. Công ty Cổ phần H7 đã thực hiện việc chồng ghép giữa kết
quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất với sơ đồ cấp GCNQSDĐ và tờ bản đồ địa chính
số 56, xã N đo đạc năm 2010. Kết quả chồng ghép giữa hiện trạng hộ anh N1, chị
Y sử dụng với sơ đồ cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị C1 ngày 13/5/2016 và
ngày 03/6/2016 được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận tặng
cho anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y (thửa đất số 118, tờ bản đồ 56, sau đo
đạc, chỉnh lý là thửa đất số 171, tờ bản đồ 56) cho thấy hiện trạng hộ anh N1, chị Y
đã xây dựng công trình chăn nuôi số 1, bể thải và một phần mái prôximăng nằm
ngoài ranh giới, mốc giới được cấp GCNQSDĐ năm 2016, diện tích là 669,7m
2
,
(theo sơ đồ ký hiệu S2 là hình được xác định bởi các điểm mốc: 4,5,G1,G,H,H2 có
các cạnh: Điểm 4-5 = 35,9m; Điểm 5-G1=0,7m; Điểm G1-G = 3,4m+17,3m; Điểm
24
G-H = 31,8m+6,5m; Điểm H-H2 = 10,4m; Điểm H2 – 4 = 11,3m + 4,0m). Kết quả
chồng ghép hiện trạng sử dụng đất của hộ anh N1, chị Y với tờ bản đồ địa chính số
56, đo đạc năm 2010 cho thấy anh N1, chị Y đã xây dựng công trình chăn nuôi số
1 và một phần diện tích của công trình chăn nuôi số 2, bể thải và một phần bán mái
Prôximăng nằm ngoài ranh giới, mốc giới thửa đất số 118, tờ bản đồ số 56, diện
tích là 900,9m
2
(theo sơ đồ là hình ký hiệu S2 được xác định bởi các điểm mốc:
4,5,G1,G,H,H2, các cạnh như sau: Điểm 4-5 = (9,6m+30,8m); Điểm 5-G1 = 4,1 m;
Điểm G1-G = (3,4m+17,3m); Điểm G-H = (31,8m+6,5m); Điểm H - H2=10,4m;
Điểm H2-4 = (11,3m+4,0m) (Kèm theo Sơ đồ chồng ghép đo vẽ hiện trạng sử dụng
đất với sơ đồ cấp giấy CNQSDĐ).
[12]. Với kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất, chồng ghép với bản đồ địa
chính và GCNQSDĐ đã cấp cho anh N1, chị Y năm 2016 cho thấy có một phần
diện tích là 669,7m
2
nằm ngoài GCNQSDĐ của anh N1, chị Y trên đất này anh
N1, chị Y đã xây dựng chuồng trại chăn nuôi, bể thải, rãnh thoát nước, lợp mái
Prôximăng. Diện tích đất này thuộc thửa đất của anh H4 đã sử dụng sau đó chuyển
nhượng cho ông T, bà N đã được cấp GCNQSDĐ năm 2009. Chị Y cho rằng công
trình chị xây trên diện tích đất này từ tháng 1 năm 2009, trước thời điểm ông T
nhận chuyển nhượng đất của anh H4 và thuộc quyền sử dụng đất của gia đình chị,
nhưng không đưa ra được tài liệu chứng minh. Do đó có cơ sở xác định chị Y, anh
N1 đã xây dựng công trình trên phần diện tích đất 669,7m
2
của ông T, bà N. Đối
chiếu phần diện tích đo theo hiện trạng với GCNQSDĐ ông T được cấp năm 2009
và bản đồ địa chính năm 2010 còn thấy ngoài diện tích đất trên còn có một phần
diện tích đất 218,6m
2
trên có một công trình chăn nuôi do anh N1, chị Y xây dựng
là thuộc quyền sử dụng đất của ông T, bà N, nhưng phần diện tích đất này cũng đã
được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho bà C1 năm 2016. Như đánh giá ở mục
[11] việc chính quyền địa phương và bà C1, anh H4 có văn bản xác định đo một
phần đất của ông T, bà N (đã được cấp GCNQSDĐ cho ông T, bà N) vào thửa đất
của bà C1 và cấp GCNQSDĐ cho bà C1 cả phần diện tích đất này là không đúng,
không có căn cứ, nên có cơ sở xác định anh N1, chị Y đã xây dựng công trình
chuồng trại chăn nuôi trên diện tích đất 218,6m
2
thuộc quyền sử dụng đất của ông
T, bà N. Như vậy, có căn cứ xác định tổng diện tích đất anh N1, chị Y đã xây dựng
công trình chồng lấn lên đất ông T, bà N là 900,9m
2
thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ
số 15 của vợ chồng ông T, bà N đã được cấp GCNQSDĐ. Ngoài ra, căn cứ kết quả
thẩm định tài sản và lời khai của anh N1, chị Y cho thấy anh N1, chị Y còn xây
một đường thoát nước thải dẫn từ khu công trình chăn nuôi ra ngoài và đi qua khu
đât thuộc quyền sử dụng của ông T, anh N1, chị Y cho rằng xây trên đất của mình,
nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Tại phiên toà, đại diện theo uỷ
quyền của nguyên đơn yêu cầu anh N1, chị Y và gia đình phá dỡ toàn bộ các công
trình trên diện tích đất lấn chiếm theo kết quả đo đạc tại cấp phúc thẩm và trả cho
ông T, bà N diện tích đất trên. Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm về diện tích đất theo
kết quả đo mới, việc sửa nội dung này HĐXX xác định cấp sơ thẩm không có lỗi.
Đối với công trình xây dựng trên đất tranh chấp, như ý kiến của UBND xã N thì
công trình hộ gia đình anh N1, chị Y xây dựng để làm trang trại chăn nuôi là không
đúng mục đích sử dụng đất và 02 thửa đất đang tranh chấp không thuộc quy hoạch
25
vùng chăn nuôi tập trung. Mặt khác, khi hộ gia đình anh N1, chị Y xây dựng công
trình ông T, bà N không biết, cũng không đồng ý cho hộ gia đình anh N1, chị Y
xây dựng công trình trên phần đất của mình, ông T, bà N yêu cầu gia đình anh N1,
chị Y phải phá dỡ công trình để trả lại QSDĐ cho ông, bà là có căn cứ nên được
chấp nhận.
[13]. Anh N1, chị Y có yêu cầu phản tố đề nghị Toà án xem xét buộc vợ
chồng ông T, bà N phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do ông T, bà N tự phá dỡ công
trình gồm hệ thống hầm, bể bioga diện tích 200m
2
, thể tích 2.000m
3
, đường dẫn
khí và các thiết bị phụ trợ, trị giá 360.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại do không
chăn nuôi được từ tháng 10/2024 đến tháng 9/2025 số tiền là 600.000.000 đồng.
Xét thấy, các tài sản trên được xây dựng trên thửa đất của vợ chồng ông T bà N,
khi vợ chồng anh N1, chị Y xây dựng không được sự đồng ý của vợ chồng ông T
bà N. Đồng thời, anh N1, chị Y không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc
ông T, bà N hủy hoại công trình trên hoặc có hành vi ngăn cản anh N1, chị Y chăn
nuôi. Do đó cấp sơ không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ. Tuy
nhiên, tại phiên toà phúc thẩm anh N1, chị Y xin rút toàn bộ yêu cầu phản tố này,
xét việc rút đơn phản tố của anh N1, chị Y là hoàn toàn tự nguyện, do đó HĐXX
căn cứ điều 244 BLTTDS, chấp nhận ý kiến của anh N1, chị Y đình chỉ giải quyết
đối với yêu cầu phản tố này của anh N1, chị Y. Đối với yêu cầu phản tố anh N1,
chị Y đã rút tại cấp sơ thẩm và HĐXX cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết yêu cầu
này, nay anh N1, chị Y không có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét.
[14]. Đối với hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng TMCP Q với vợ chồng anh
N1, chị Y và hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng N4 với vợ chồng anh N1, chị Y,
các đương sự đều không đề nghị xem xét giải quyết trong vụ án này.
[15]. Về các GCNQSDĐ đã được cấp: Đối với GCNQSDĐ số AP 020765 do
UBND huyện T cấp cho anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y ngày 14/6/2009.
Việc cấp GCNQSDĐ này dưa trên cơ sở GCNQSDĐ mà UBND huyện T đã cấp
cho bà Nguyễn Thị C1 ngày 15/10/1993, nhưng GCNQSDĐ của bà C1 năm 1993
đã được cấp đổi năm 2001 nên GCNQSDĐ cấp năm 1993 không còn giá trị. Do đó
việc cấp GCNQSDĐ cho hộ anh N1 chị Y năm 2009 là không đảm bảo, không
đúng quy định, nhưng do đây là GCNQSDĐ được cấp lại dựa trên hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất giữa bà C1 với anh N1 chị Y. Việc cấp GCNQSDĐ cho hộ
anh N1 chị Y năm 2009 là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang
tính chất của quyết định hành chính cá biệt, nên không cần phải hủy GCNQSDĐ
đã cấp cho hộ anh N1 chị Y năm 2009, Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
việc thu hồi, huỷ GCNQSDĐ số AP 020765 ngày 14/6/2009 theo quy định của luật
đất đai. Đối với GCNQSDĐ số CD 559019 số vào sổ CH 00890 QĐ 282/QĐ-
UBND do UBND huyện T cấp cho bà Nguyễn Thị C1 ngày 13/5/2016, khi bà C1
làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ có tiến hành kiểm tra xác minh hiện trạng thửa đất
và xác định ranh giới, nhưng khi xác định ranh giới đã đo một phần diện tích
231,6m
2
thuộc quyền sử dụng đất của ông T, bà N đã được cấp GCNQSDĐ cho bà
C1 sử dụng. Như vậy, việc cấp GCNQSDĐ trên đã chồng lấn sang thửa đất của hộ
ông T bà N, đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông T bà N và không
26
đúng trình tự, thủ tục. Theo Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự thì cần hủy
GCNQSDĐ số CD 559019 số vào sổ CH 00890 QĐ 282/QĐ-UBND ngày
13/5/2016 do UBND huyện T cấp ngày 13/5/2016, mang tên bà Nguyễn Thị C1, đã
được chỉnh lý sang tên anh Nguyễn Văn N1 và chị Dương Thị Y ngày 03/6/2016.
Tuy nhiên, xét thực tế sử dụng đất, thửa đất hiện đang được thế chấp tại Ngân hàng
và việc cấp GCNQSDĐ số CD 559019 số vào sổ CH 00890 QĐ 282/QĐ-UBND
do UBND huyện T cấp cho bà Nguyễn Thị C1 ngày 13/5/2016 cũng chỉ là cấp đổi
GCNQSDĐ, do đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ kết quả giải quyết về
tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông T, bà N và ông N1, bà Y, căn cứ điều 133,
136, 152 Luật đất đai năm 2024 và các quy định của pháp luật về đất đai hiện hành
thực hiện việc thu hồi, chỉnh lý biến động, huỷ GCNQSĐ, cấp lại GCNQSDĐ cho
anh N1, chị Y đối với diện tích đất của gia đình anh N1, chị Y có quyền sử dụng.
Các đương sự có quyền sử dụng đất có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh, huỷ các biến động về quyền sử dụng đất và
đăng ký lại quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai. Đối với giấy
CNQSDĐ cấp cho ông T, bà N năm 2009, HĐXX thấy việc cấp GCNQSDĐ đúng
quy định của pháp luật, phù hợp với hiện trạng đất tại thời điểm chuyển nhượng và
bản đồ địa chính chính quy đo đạc năm 2010 nên không có căn cứ huỷ như ý kiến
của chị Y, anh N1.
[16]. Đối với việc đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Dương Minh H
cho rằng thửa đất của ông T, bà N đã chuyển nhượng cho người tên Nguyễn Văn
T6, Toà án cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng nên yêu cầu huỷ bản án
sơ thẩm. HĐXX thấy ngoài lời trình bày trên thì chị Y, anh N1 và đại diện theo uỷ
quyền không cung cấp được tài liệu, chứng cứ có căn cứ và hợp pháp xác định việc
ông T, bà N đã chuyển nhượng đất cho người khác và đại diện theo uỷ quyền của
ông T, bà N vẫn xác định ông T, bà N là chủ sử dụng đất, UBND có thẩm quyền
cũng xác định thửa đất ông T, bà N được cấp GCNQSDĐ hiện chưa cấp lại
GCNQSDĐ đất. Tại phiên toà phúc thẩm anh Nguyễn Văn T6 có mặt và xác định
anh là người quen của ông T, được ông T nhờ trông nom đất giúp, anh không nhận
chuyển nhượng đất của ông T, bà N, không có tranh chấp đất với ông T, bà N nên
không liên quan đến vụ việc. Do đó HĐXX thấy ông H, chị Y xác định cấp sơ
thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng là không có căn cứ.
[17]. Đối với việc đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có ý kiến việc thư ký đã
lấy lời khai của đương sự là vi phạm thủ tục tụng, nên đề nghị huỷ bản án sơ thẩm.
HĐXX thấy có một số lời khai do thư ký thực hiện mà không có sự chứng kiến,
xác nhận của thẩm phán như đại diện uỷ quyền của bị đơn đã nêu là có vi phạm,
tuy nhiên khi thư ký ghi lời khai đều có sự chứng kiến của đại diện chính quyền
địa phương, việc ghi lời khai hoàn toàn khách quan hơn nữa quá trình tố tụng sau
đó một số đương sự đã có đại diện uỷ quyền và tham gia tố tụng tại phiên toà sơ
thẩm, phúc thẩm, do đó không làm thay đổi bản chất của vụ án, không phải là căn
cứ để huỷ bản án sơ thẩm, nên HĐXX không chấp nhận đề nghị này.
[18]. Từ những phâ tích, đánh giá trên, HĐXX phúc thẩm nhất trí ý kiến của
đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tại phiên toà, không chấp nhận
27
kháng cáo của chị Dương Thị Y về việc huỷ bản án sơ thẩm. Tuy nhiên do tại cấp
phúc thẩm các đương sự có yêu cầu đo đạc lại hiện trạng sử dụng đất và đề nghị
căn cứ kết quả đo đạc này để giải quyết vụ án, nên HĐXX sửa một phần Bản án
dân sự sơ thẩm số 60/2025/DSST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 -
Bắc Ninh để phù hợp với kết quả đo đạc mới. Quá trình giải quyết vụ án, HĐXX
phúc thẩm thấy cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật, thực hiện đúng,
đầy đủ thủ tục tố tụng, đưa đầy đủ người tham gia tố tụng.
[19]. Về chi phí tố tụng: Tại cấp sơ thẩm đã tiến hành đo đạc, thẩm dịnh, định
giá tài sản hết số tiền 17.920.000 đồng do nguyên đơn nộp, tại cấp phúc thẩm đã
tiến hành đo đạc, thẩm định chi phí hết 16.300.000 đồng do bị đơn nộp. Do yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ điều 157, 165 BLTTDS
anh N1, chị Y phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc
thẩm, đại diện nguyên đơn đồng ý chịu toàn bộ chi phí tố tụng đo đạc, định giá,
thẩm định tại cấp sơ thẩm mà nguyên đơn đã nộp, do đó, chị Y, anh N1 không phải
hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này. Xác nhận các bên đã nộp đủ.
[20] Về án phí: Căn cứ Điều 147; Điều 148 BLTTDS; khoản 1,khoản 2,
khoản 5 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-
UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh N1, chị Y
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, bà N được
chấp nhận và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố không được
chấp nhận. Đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, diện tích đất tranh
chấp là 900,9m
2
, HĐXX thấy thửa đất của ông T, bà N có 360m
2
đất ở còn lại là
đất trồng cây lâu năm, tuy nhiên không xác định rõ vị trí đất ở, đất trồng cây lâu
năm. Phần diện tích đất lấn chiếm, anh N1, chị Y xây dựng khu công trình phụ
chăn nuôi nên HĐXX tính theo giá đất trồng cây lâu năm đã được định giá là
550.000đ/01m
2
x 900,9m
2
= 495.495.000 đồng, án phí anh N1, chị Y phải chịu là
23.819.800 đồng. Đối với yêu cầu phản tố của chị Y, anh N1 không được Toà án
cấp sơ thẩm chấp nhận, án phí anh N1, chị Y phải chịu là 40.800.000 đồng, mặc dù
chị Y, anh N1 đã rút yêu cầu phản tố này tại cấp phúc thẩm, nhưng vẫn phải chịu
toàn bộ số tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do đó tổng số tiền án phí chị Y, anh N1 phải
chịu là 64.619.000 đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm: chị Y không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 313; Điều 147; Điều 148; Điều
157; Điều 158; Điều 165; Khoản 2 Điều 244; Điều 289 BLTTDS; Điều 164; Điều
166; Điều 175; Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 105 Luật đất đai năm
2003; Các Điều: 98, 99, 100, 106 Luật đất đai năm 2013; Các Điều: 26, 29, 31,
133, 135, 152, 236 của Luật đất đai năm 2024; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 26;
Điểm b khoản 2 Điều 27; Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày
28
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Không chấp nhận kháng cáo của chị Dương Thị Y về việc huỷ bản án sơ
thẩm.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N.
+ Xác định diện tích đất 900,9m
2
(theo sơ đồ đo đạc là hình ký hiệu S2, được
giới hạn bởi các điểm 4,5,G1,G,H,H2, có các cạnh: Điểm 4-5 = (9,6m+30,8m);
Điểm 5-G1 = 4,1 m; Điểm G1-G = (3,4m+17,3m); Điểm G-H = (31,8m+6,5m);
Điểm H - H2=10,4m; Điểm H2-4 = (11,3m+7,3m) thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ
số 15 (theo bản đồ địa chính năm 2010 là thửa đất số 97) tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc
Ninh thuộc quyền sử dụng của ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N (có sơ đồ
kèm theo Bản án).
+ Buộc anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Phương O, anh Nguyễn Duy B phải tháo dỡ
(phá dỡ), di dời toàn bộ các công trình gồm chuồng trại chăn nuôi số 1, một phần
chuồng trại chăn nuôi số 2, bể nước thải, bán mái lợp Prôximăng, tường xây, hệ
thống đường đuổi lợn, đường cống thoát nước thải xây dựng trên diện tích lấn
chiếm 900,9m
2
và các công trình khác đã xây dựng trên thửa đất số 25, tờ bản đồ
15 (theo bản đồ địa chính năm 2010 là thửa đất số 97) tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc
Ninh thuộc quyền sử dụng của ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N (có sơ đồ
kèm theo Bản án)
+ Buộc anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Phương O, anh Nguyễn Duy B phải trả lại
cho ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N diện tích đất 900,9m
2
(theo sơ đồ đo đạc
là hình ký hiệu S2, được giới hạn bởi các điểm 4,5,G1,G,H,H2, có các cạnh: Điểm
4-5 = (9,6m+30,8m); Điểm 5-G1 = 4,1m; Điểm G1-G = (3,4m+17,3m); Điểm G-H
= (31,8m+6,5m); Điểm H - H2=10,4m; Điểm H2-4 = (11,3m+7,3m) thuộc thửa
đất số 25, tờ bản đồ số 15 (theo bản đồ địa chính năm 2010 là thửa đất số 97) tại
thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh thuộc quyền sử dụng của ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị
Thanh N (có sơ đồ kèm theo Bản án).
+ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ kết quả giải quyết của Toà án thực
hiện việc thu hồi, chỉnh lý biến động, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CD 559019 do UBND huyện T cấp ngày 13/5/2016, đã được chỉnh lý sang tên anh
Nguyễn Văn N1 và chị Dương Thị Y ngày 03/6/2016 và Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AP 020765 do UBND huyện T cấp ngày 14/6/2009 cho anh Nguyễn
Văn N1, chị Dương Thị Y và cấp lại GCNQSDDĐ cho anh N1, chị Y theo quy
định của Luật đất đai.
29
Các đương sự có quyền sử dụng đất có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh, huỷ các biến động về quyền sử dụng đất và
đăng ký lại quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai
+ Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Văn N1, chị
Dương Thị Y về việc buộc ông Bùi Ngọc T, bà Đào Thị Thanh N phải bồi thường
công trình gồm hệ thống hầm, bể bioga diện tích 200 m
2
, thể tích 2.000 m
3
cùng
đường dẫn khí và các thiết bị phụ trợ, trị giá 360.000.000 đồng và bồi thường số
tiền do không chăn nuôi được từ tháng 10/2024 đến tháng 9/2025 với số tiền
600.000.000 đồng, tổng số tiền là 960.000.000 đồng.
+ Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của anh N1, chị Y về việc buộc
vợ chồng ông T, bà N phải trả diện tích đất khoảng 2.000 m
2
ông T bà N đã lấn
chiếm tại thửa 31, tờ bản đồ 15, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
+ Về chi phí tố tụng: Anh N1, chị Y phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng tại cấp
phúc thẩm là 16.300.000 đồng. Ông T, bà N chịu số tiền chi phí thẩm định, định
giá tài sản tại cấp sơ thẩm 17.920.000 đồng. Xác nhận các đương sự đã nộp đủ.
+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng anh Nguyễn Văn N1, chị Dương Thị Y
phải chịu số tiền án phí là 64.619.000 đồng và được trừ vào số tiền chị Y đã nộp
tạm ứng án phí 49.600.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003581
ngày 10/02/2025 và biên lai số 0002279 ngày 18/7/2025 tại Thi hành án dân sự
tỉnh Bắc Ninh. Anh N1, chị Y còn phải nộp tiếp số tiền án phí là 15.019.000 đồng.
+ Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Dương Thị Y không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000385 ngày
25/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN
Phạm Văn Tú Đỗ Thế Bình
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hằng

30
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Ninh
- TAND khu vực 2 - Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

31
- Lưu HS; VP.
Nguyễn Thị Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm