Bản án số 138/2026/DS-PT ngày 06/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 138/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 138/2026/DS-PT ngày 06/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 138/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Thạch Thị Sa K - Lâm T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 138/2026/DS-PT
Ngày: 09/3/2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất,
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài
sản bị xâm phạm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải.
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Ngọt Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2026 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm
2026 về Tranh chấp quyền sử dụng đất bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
do tài sản bị xâm phạm”. Do bản án dân sự thẩm s62/2025/DS-ST ngày 19
tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 40/2026/QĐ-PT ngày
21 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Thạch Thị Sa K, sinh năm 1950.
Địa chỉ: Số G, đường T, phường S, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số F, đường L, phường P, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Ông Lâm T1, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Số F, đường T, phường S, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Hoàng A,
sinh năm 1960.
Địa chỉ: Số I, đường V, phường M, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Bà Lâm Thị H, sinh năm 1956;
Địa chỉ: Số F, đường T, phường S, thành phố Cần Thơ.
3.2. Bà Lâm Thị Bích H1, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Số F, đường T, phường S, thành phố Cần Thơ.
3.3. Bà Lâm Thị Ngọc H2, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
3.4. Bà Lâm Thu H3, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số F, đường T, phường S, thành phố Cần Thơ.
3.5. Bà Lâm Thu H4, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Số F, đường T, phường S, thành phố Cần Thơ.
3.6. Bà Lâm Thu H5, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Số F, đườ ng T, phường S, thành phố Cần Thơ.
3.7. Bà Lâm Thu H6, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Số E, đường N, phường P, thành phố Cần Thơ.
3.8. Bà Lâm Thùy T2, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số F, đường T, phường S, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Thạch Thị Sa K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2024 của nguyên đơn Thạch
Thị Sa K, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện theo
ủy quyền nguyên đơn Nguyễn Thị Thu T trình bày: Thạch Thị Sa K
phần đất diện tích khoảng 1250m
2
tọa lạc tại đường C, Khóm C, Phường E,
thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Phần đất tứ cận: cạnh mặt tiền giáp lộ Chông
Chác, cạnh mặt hậu giáp đất ông Lâm T1, Cạnh hai bên giáp đất của Thạch N,
giáp đất Cao Thị D, Đào Văn Q. Nguồn gốc đất của mẹ K khai phá cho
K từ năm 1975. K đã sử dụng n định, liên tục phần đất này để trồng cây
ăn trái từ trước năm 1975 vẫn chưa đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Do điều kiện sức khỏe nên K đã giao cho chồng K ông Cao
H7 trồng chuối trên đất trực tiếp quản phần đất tnăm 2008. Vừa qua,
chồng K bệnh chết vào tháng 4 năm 2023, sau khi chồng K chết, K
đến xem đất thì mới phát hiện toàn bộ cây trồng của K đã bị chặt mất gồm
120 cây chuối (loại chuối Xiêm), qua tìm hiểu thì biết được ông Lâm T1 đã chặt
bỏ 120 cây chuối của K chiếm đất của bà K cải tạo trồng lúa. Những vấn
đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:
+ Buộc ông Lâm T1 trả lại phần đất đã chiếm diện tích 1.250,0m
2
thuộc
thửa đất s181, tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại đường C, Khóm C, Phường E, thành
3
phố S, tỉnh Sóc Trăng. Phần đất tứ cận: Cạnh mặt tiền giáp lộ Chông Chác,
cạnh mặt hậu giáp đất ông Lâm T1, cạnh hai bên giáp đất của Thạch N, giáp đất
Cao Thị D, Đào Văn Q.
+ Buộc ông Lâm T1 bồi thường thiệt hại số lượng 120 cây chuối đã bị ông
Lâm T1 chặt bỏ với giá 100.000 đồng/cây chuối. Tổng số tiền yêu cầu ông Lâm
T1 bồi thường là 12.000.000 đồng.
- Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, b đơn ông Lâm T1
trình bày: Trước năm 1975, gia đình ông Lâm T1 có phần đất gốc tại thửa đất số
181, tbản đồ số 11, diện tích 24.576,9m
2
đất tọa lạc tại đường C, Khóm C,
Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Đến năm 1979 giao cho Tập đoàn Q1.
Đến năm 1991 thì gia đình ông được tập đoàn giao trả lại phần đất này. Đến
ngày 23/4/2003 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình ông
quản lý, sử dụng phần đất này từ năm 1991 đến nay, dùng để trồng lúa, không
ai tranh chấp. Khi tập đoàn giao trả lại phần đất cho gia đình ông thì chỉ đo
bằng thủ công, nay Tòa án trưng cầu đo lại bằng máy thì sự chênh lệch về
diện tích, chứ toàn bộ phần đất theo kết quả đo đạc là của gia đình ông. Bà Sa K
không bất cứ phần đất nào giáp ranh với đất của ông. Nay bị đơn không
đồng ý với yêu cầu khởi kIện của nguyên đơn.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm ThH, Lâm ThBích
H1, Lâm Thị Ngọc H2, bà Lâm Thu H3, bà Lâm Thu H4, bà Lâm Thu H5,
Lâm Thu H6, Lâm Thùy T2 cùng trình bày: Thống nhất theo ý kiến của bị
đơn đã trình bày.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Toà án nhân dân khu vực 5 -
Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử, tại bản án thẩm số: 62/2025/DS-ST ngày 19
tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ đã tuyên như sau:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:
- Yêu cầu bị đơn ông Lâm T1 trả lại phần đất đã chiếm có diện tích 1250m
2
thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại đường C, Khóm C, Phường E,
thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay phường S, thành phố Cần Thơ). Phần đất
tứ cận: Cạnh mặt tiền giáp lộ Chông Chác, cạnh mặt hậu giáp đất ông Lâm T1,
cạnh hai bên giáp đất của Thạch N, giáp đất Cao Thị D, Đào Văn Q.
- Yêu cầu bị đơn ông Lâm T1 bồi thường thiệt hại số tiền 12.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng
cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án thẩm, nguyên đơn đơn kháng cáo đối với
bản án sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
4
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Bị đơn yêu cầu bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn Luật
Hoàng A trình bày: Theo các chứng cứ trong hồ vụ án đã thể hiện,
nguyên đơn người đi kiện nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để
chứng minh nguyên đơn phần đất diện tích khoảng 1250m
2
tọa lạc tại đường
C, Khóm C, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Phần đất tứ cận: cạnh
mặt tiền giáp lộ Chông Chác, cạnh mặt hậu giáp đất ông Lâm T1, Cạnh hai bên
giáp đất của Thạch N, giáp đất Cao Thị D, Đào Văn Q. Theo kết quả đo đạc,
thẩm định xác minh của Tòa án cũng thể hiện nguyên đơn Sa K không
bất cứ phần đất nào giáp ranh thửa đất của ông T1. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét
xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Hội đồng xét x
đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ đến
khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn
kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem hợp lệ về mặt
hình thức.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hcũng
như lời khai tại phiên tòa của các đương sự cho thấy cấp sơ thẩm đã xem xét đầy
đủ toàn diện ý kiến cũng như chứng cứ các bên cung cấp trình bày. Tại phiên
tòa phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Do đó, Đề nghị Hội đồng
t xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chng c đã được thm tra ti tòa phúc thẩm; Căn cứ vào
kết qu tranh luận trên sở xem xét đầy đ toàn din ý kiến ca Kim sát viên
và những người tham gia t tng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần
đất tranh chấp và bồi thường thiệt hại vì nguyên đơn cho rằng bị đơn đã chặt cây
trồng của nguyên đơn trên thửa đất tranh chấp, phía bị đơn không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, cấp thẩm xác định quan hệ pháp
luật Tranh chấp quyền sử dụng đất bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do
5
tài sản bị xâm phạm” là phù hợp.
[2] Sau khi xét xử thẩm, phía nguyên đơn đơn kháng cáo trong thời
hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thu H6, Lâm Thu H5, Lâm
Thu H4, lâm Thu H3, Lâm Thị Ngọc H2 và bà Lâm Thùy T2 có đơn đề nghị xét
xử vắng mặt. vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố
tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[4] Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc
thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lâm T1 trả lại
phần đất đã chiếm diện tích 1.250m
2
thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ số 11
tọa lạc đường C, Khóm C, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay
phường S, thành phố Cần Thơ). Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội
đồng xét xử nhận thấy:
Thứ nhất: Nguyên đơn cho rằng vào năm 1975 mẹ của nguyên đơn khai
phá phần đất đang tranh chấp diện ch 1.250m
2
, tọa lạc đường C, Khóm C,
Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay phường S, thành phố Cần Thơ).
Phần đất tứ cận: Cạnh mặt tiền giáp lộ Chông Chác, cạnh mặt hậu giáp đất
ông Lâm T1, cạnh hai bên giáp đất của Thạch N, giáp đất Cao Thị D, Đào Văn
Q. Nguyên đơn chồng ông Cao H7 đã sử dụng ổn định, liên tục phần đất
này để trồng cây ăn trái từ trước năm 1975 đến tháng 7 năm 2023 nhưng chưa
đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. vậy, nguyên đơn cho rằng
đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Xét thấy, phần đất đang
tranh chấp trong vụ án được các bên đương sxác định thửa đất số 181,
diện ch 1.250m
2
, tờ bản đồ số 11 tọa lạc đường C, Khóm C, Phường E, thành
phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay phường S, thành phố Cần Thơ), tại Biên bản xác
minh ranh giới, mốc giới, nguồn gốc thửa đất ngày 18/04/2001 của cơ quan quản
đất đai (Bút lục số 32) thể hiện thửa đất số 181, tờ bản đồ số 11 vị trí tứ
cận phía đông giáp Trần Thị Thu N1, phía tây giáp Thạch Thị R, phía nam
giáp Thạch Thị P, phía bắc giáp lộ Chông Chác. Như vậy, đối với thửa đất đang
tranh chấp, nguyên đơn cho rằng thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn có vị
trí tứ cận khác so với vtrí tứ cận thửa đất đang tranh chấp, nhưng phía nguyên
đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện gia đình nguyên đơn khai
phá và sử dụng phần đất tại vị trí đang tranh chấp nên không có cơ sở xem xét.
Thứ hai: Tại Biên bản về việc hòa giải tranh chấp đất đai ngày 19/01/2024
tại U, thành phố S (Bút lục 25) Ủy ban nhân dân Phường U xác định “Về bản đồ
quản của phường tkhông thấy phần đất của Thạch Thị Sa K nằm vị trí
6
này”.
Thứ ba: Nguyên đơn cho rằng theo hồ xin cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của bị đơn thì diện tích của bị đơn được cấp nhiều hơn diện tích bị
đơn khai nhận. Thấy rằng, thửa đất bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất các hộ tứ cận giáp ranh thửa đất đã được chính quyền địa
phương xác nhận thửa đất không tranh chấp, trên sở đó đã tiến hành đo
đạc diện tích đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn. Ngoài
ra, việc xác định đất của bị đơn do tập đoàn trả lại được thể hiện tại Biên bản
xác định ranh giới đất ngày 18/4/2001, chính quyền địa phương xác nhận vị trí,
nguồn đất đất bị đơn khai được tập đoàn trả lại là đúng. Vì vậy, việc nguyên đơn
đề cập do cấp thẩm chưa làm diện ch tăng thêm để yêu cầu hủy án
không có cơ sở chấp nhận.
Thứ tư: Vấn đề bồi thường thiệt hại, phía nguyên đơn kháng cáo nhưng
nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh bị đơn đã
chặt 120 cây chuối tại phần đất tranh chấp nên Hội đồng xét xkhông có căn cứ
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét
xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên
nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, do nguyên đơn bà K là
người cao tuổi và đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn nộp
tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lphí Tòa
án.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội.
* Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
Thạch Thị Sa K.
1. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 62/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: miễn án phí cho nguyên đơn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
7
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 9 Luật
thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 5 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 5 – Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Tuyết Mai
Tải về
Bản án số 138/2026/DS-PT Bản án số 138/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 138/2026/DS-PT Bản án số 138/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất