Bản án số 189/2026/DS-PT ngày 06/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 189/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 189/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 189/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 189/2026/DS-PT ngày 06/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 189/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp QSD đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 189/2026/DS-PT
Ngày 06 - 3 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Nguyệt
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Ông Bùi Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê
Thị Màu - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 642/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 12
năm 2025 về việc “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 315/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cbị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 65/2026/QĐ-PT ngày 09
tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thuý H, sinh năm 1970; CCCD số:
09617000****, cấp ngày 05/10/2022; Địa chỉ: Khóm 7, xã S, tỉnh C; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm 1967;
địa chỉ: Khóm 7, xã T, tỉnh C; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền
ngày 09 tháng 8 năm 2024, có mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; CCCD số: 096182015***; Địa chỉ:
Khóm 7, xã S, tỉnh C (có mặt).
2. Ông Trương Hớn Đ, sinh năm 1981; CCCD số: 096082002***; Địa chỉ:
Khóm 7, xã S, tỉnh C (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Tấn A, Luật sư
của Văn phòng Luật sư H, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2
1. Bà Trương Anh T, sinh năm 2004; Địa chỉ: Khóm 7, xã S, tỉnh C (vắng
mặt).
2. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam; Địa chỉ: Tháp BIDV
số 35 Hàng Vôi, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng: Ông Tô Thanh Liêm – Là Giám
đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Cà Mau – Phòng
giao dịch Sông Đốc; địa chỉ: Khóm 10, xã S, tỉnh C; là người đại diện theo ủy
quyền (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thúy H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 9 năm 2024, lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thuý H; người đại diện theo
uỷ quyền ông Trần Văn Vẹn thống nhất trình bày:
Nguồn gốc phần đất của bà Nguyễn Thúy Hlà của ông Nguyễn Quốc Anh.
Ngày 16/11/2017, ông Nguyễn Quốc Anh tặng cho bà Nguyễn Thị Kim Mỹ. Ngày
06/02/2018, bà Mỹ tặng cho bà Nguyễn Thúy Hằng. Bà Nguyễn Thúy Hđược Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời điều chỉnh chỉnh lý biến
động ngày 06/02/2018 đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 432712,
thuộc thửa số 26, tờ bản đồ số 05, diện tích 59,8 m
2
loại đất ở đô thị, đất tọa lạc tại
khóm 7, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (nay là ấp 7, xã S,
tỉnh C) đứng tên Nguyễn Quốc Anh sang cho bà Nguyễn Thúy Hằng. Diện tích đất
bà H được cấp quyền sử dụng đúng với vị trí, số thửa, diện tích đất mà ông Anh đã
được cấp giấy chứng nhận trước đó. Năm 2012, bà H xây dựng nhà trên phần đất
này nhưng có chừa lại phần đất tiếp giáp bị đơn có chiều ngang 0,15m, chiều dài
theo chiều dài đất là 12,7m để làm không gian cho đường thoát nước nhà bà H. Sau
khi xây dựng nhà xong, gia đình bà H ở ổn định. Năm 2024, ông Trương Hớn Đ,
bà Nguyễn Thị L nhận chuyển nhượng đất của ông Huỳnh Công Lập, bà Trần Kim
Quí phần đất nằm tiếp giáp đất bà H. Quá trình đo đạt cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Đ, bà L thì bà H có chỉ ranh giới trên thực địa đúng với vị trí
phần đất bà còn chừa lại nêu trên, thống nhất ký tên biên bản đo vẽ đối với hộ giáp
ranh. Trong quá trình sử dụng đất, bà H phát hiện phía ông Đ, bà L xây dựng nhà
lấn sang phần đất mà bà H đã chừa ra làm đường thoát nước này chiều ngang
0,15m x chiều dài 12,7m. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, bà H xác định diện tích
tranh chấp được thể hiện trong kết quả đo vẽ tương ứng với vị trí xây dựng bức
tường nhà của bị đơn với diện tích xác định thực tế là 0,8m
2
, bà H có yêu cầu vợ
chồng ông Đ, bà L tháo dở bức tường xây lấn để trả lại phần đất ranh đã lấn chiếm
này nhưng bị đơn không đồng ý. Vụ việc đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Sông
Đốc tiến hành hòa giải nhưng không thành. Nay bà H yêu cầu vợ chồng ông Đ, bà
L có trách nhiệm tháo dỡ công trình xây dựng là bức tường nhà của bị đơn trả lại
cho bà H phần đất lấn chiếm theo đo vẽ thực tế là 0,8m
2
.

3
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị
đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Năm 2024, vợ chồng bà L, ông Đ có nhận chuyển
nhượng của ông Huỳnh Công Lập, bà Trần Kim Quí phần đất thuộc thửa số 307, tờ
bản đồ số 39 diện tích 68,2m
2
, ông bà được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
huyện Trần Văn Thời cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO693182 ngày
19 tháng 6 năm 2024 toạ lạc khóm 7, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh
Cà Mau nay là ấp 7, xã S, tỉnh C đứng tên Trương Hớn Đ, Nguyễn Thị L. Sau khi
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vợ chồng bà tiến hành xây dựng nhà cơ bản
đúng với diện tích được cấp giấy chứng nhận, nhà đã xây xong. Nay bị đơn không
đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thống nhất với kết quả đo vẽ, định
giá đã được thực hiện.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 315/2025/DS-ST ngày 29
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cđã quyết định:
Không chấp nhận phần yêu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thuý H về
việc buộc ông Trương Hớn Đ, bà Nguyễn Thị L trả diện tích đất 0,8 m² toạ lạc tại
ấp 7, xã S, tỉnh C (tại vị trí M8-M9-M16-M17 trên Mảnh trích đo chỉnh lý thửa đất
ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Công ty TNHH MTV Tài nguyên – Môi trường
Dâng Phong).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi
hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 10 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thuý H kháng cáo,
yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ
nguyên nội dung kháng cáo.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Đề nghị cấp
phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ y bản án sơ
thẩm.
Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn,
giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 315/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

4
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi
nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thuý H khởi kiện ông Trương Hớn
Đ, bà Nguyễn Thị L đòi trả lại phần đất giáp ranh giữa hai bên nhưng ông Đ, bà L
không đồng ý; ông Đ, bà L cư trú tại xã S, tỉnh C, đối tượng tranh chấp là phần đất
tọa lạc tại xã S, tỉnh C nên Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cthụ lý, giải quyết vụ án
“tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” là đúng quan hệ tranh chấp và
đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35;
điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét đơn kháng cáo của
nguyên đơn nộp trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên Tòa
án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù
hợp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thúy Hvới bị đơn bà
Nguyễn Thị L, ông Trương Hớn Đ là ranh giới giữa các bất động sản liền kề của bà
H với bà L, ông Đ, theo đo đạc thực tế đất tranh chấp có diện tích 0,8m
2
, tọa lạc tại
ấp 7, xã S, tỉnh C, có tứ cận:
- Hướng Bắc giáp phần đất của ông Nguyễn Văn Liệt từ điểm
M8M9M10M11M12M13M14M3;
- Hướng Nam giáp phần đất của ông Đặng Hoàng Lực từ điểm
M7M20M19M18M17M16M15M3;
- Hướng Đông giáp phần đất của ông Trần Minh Mọi tại điểm M3;
- Hướng Tây giáp Kênh 4 Thước từ điểm M7M8.
Hiện nay trên phần đất tranh chấp là bức tường nhà của bà L, ông Đ.
Nguyên đơn cho rằng toàn bộ phần đất 0,8m
2
tranh chấp thuộc quyền sử dụng của
nguyên đơn đã bị bà L, ông Đ lấn chiếm nên yêu cầu ông Đ, bà L có trách nhiệm
tháo dỡ công trình xây dựng là bức tường nhà của ông Đ, bà L trả lại cho bà H
phần đất lấn chiếm theo đo vẽ thực tế là 0,8m
2
; ông Đ, bà L khẳng định nhận
chuyển nhượng và đã được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất nhận chuyển
nhượng hợp pháp, xây dựng nhà đúng với diện tích đất được quyền sử dụng, không
lấn chiếm đất của bà H nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2] Xét nguồn gốc phần đất của hai bên đương sự, phần đất của bà H có
nguồn gốc từ việc nhận tặng cho của bà Nguyễn Thị Kim Mỹ đối với thửa đất số
26, tờ bản đồ số 05, diện tích 59,8 m
2
loại đất ở đô thị, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BB 432712, ngày 06/02/2018 bà H được Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện Trần Văn Thời điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nêu trên sang cho bà H, về vị trí, diện tích phần đất cấp quyền sử dụng cho bà H
không có biến động thay đổi so với vị trí, diện tích phần đất cấp quyền sử dụng cho

5
bà Nguyễn Thị Kim Mỹ. Nguồn gốc phần đất của ông Đ, bà L có nguồn gốc từ
việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Huỳnh Công Lập, bà Trần
Kim Quí, đến ngày 19/6/2024 ông Đ, bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa sổ 307, tờ bản đồ số 39, diện tích 68,2m
2
giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số DO 693182, về vị trí, diện tích phần đất cấp quyền sử dụng cho ông Đ,
bà L cũng không có biến động thay đổi so với vị trí, diện tích phần đất cấp quyền
sử dụng cho ông Lập, bà Quí. Do đó, đủ căn cứ xác định đất của bà H và đất của
ông Đ, bà L đều đã được công nhận quyền sử dụng hợp pháp. Đây là các tình tiết,
sự kiện được các bên đương sự thống nhất thừa nhận, phù hợp với thực tế khách
quan nên không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2.3] Xét thấy, tuy các đương sự đều cho rằng các phần đất đều được nhận
tặng cho hoặc chuyển nhượng hợp pháp và sử dụng đất đúng với diện tích, kích
thước của chủ sử dụng đất trước đây nhưng căn cứ kết quả đo đạt thực tế được thể
hiện trong Mãnh đo đạc chỉnh lý thửa đất của cơ quan chuyên môn cho thấy, phần
đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 432712, thuộc thửa số 26, tờ
bản đồ số 05, diện tích 59,8 m
2
hiện do bà H đứng tên giấy chứng nhận có vị trí toạ
độ không nằm ở vị trí đất đang tranh chấp, trong khi phần đất thuộc thửa số 307, tờ
bản đồ số 39 diện tích 68,2m
2
, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO693182
ngày 19 tháng 6 năm 2024 cấp cho vợ chồng ông Đ, bà L có vị trí nằm trùng lập
0,5m
2
với vị trí đất tranh chấp, phần diện tích 0,3m
2
còn lại xác định không nằm
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các đương sự và chưa được cấp giấy
chứng nhận. Như vậy, do các bên đương sự đều thống nhất thừa nhận việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng cho các bên đều hợp pháp, đúng trình tự và không có
khiếu nại gì về việc cấp giấy chứng nhận nêu trên nên cấp sơ thẩm căn cứ diện tích
phần đất được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mỗi bên để
làm cơ sở xem xét giải quyết và xác định phần diện tích 0,5m
2
trong tổng diện tích
0,8m
2
tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn do đã được công nhận
quyền sử dụng đất là có căn cứ.
[2.4] Thực tế, sau khi ông Đ, bà L xây dựng nhà thì bà H, ông Đ, bà L đã
quản lý, sử dụng các bất động sản (các căn nhà) liên tục, ổn định đến nay, phần
diện tích đất tranh chấp 0,8m
2
không làm ảnh hưởng đến công năng sử dụng bất
động sản (nhà) của bà H.
[3] Xét kháng cáo của bà H yêu cầu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà: Xét
thấy, bà H cho rằng phần đất tranh chấp nằm ngoài bức tường nhà của bà H là do
khi xây dựng nhà bà có chủ động chừa lại phần đất nằm tiếp giáp với bị đơn. Tại
cấp phúc thẩm bà H cung cấp xác nhận của ông Huỳnh Công Lập cho rằng ông
Lập đã tư vấn cho bà H chừa 01 phần đất khi xây dựng nhà đúng theo ý kiến của
bà H. Tuy nhiên, việc ông Huỳnh Công Lập xác nhận nội dung này không làm thay
đổi bản chất vụ việc, bởi lẽ, như đã phân tích tại mục [2.3] của bản án, vị trí phần

6
đất tranh chấp không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H nên
bà H không có quyền sử dụng hợp pháp, căn nhà bà H xây dựng hiện tại đã đúng
với vị trí tọa độ thửa đất bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài
ra, nguyên đơn bà H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng
minh bị đơn ông Đ, bà L có hành vi lấn chiếm quyền sử dụng đất của bà H. Do đó,
cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn khởi kiện không có căn cứ, không chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn là đúng quy định, đã xem xét đánh giá chứng cứ đầy đủ, khách
quan, toàn diện và áp dụng đúng các quy định pháp luật, không có căn cứ chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn.
[4] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 315/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau, như đã phân tích trên, đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
[5] Án phí phúc thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H
phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thuý H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
315/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà
Mau.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 235, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự;
Căn cứ các điều 175, 176 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 166 Luật Đất đai năm 2014;
Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận phần yêu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thuý H
về việc buộc ông Trương Hớn Đ, bà Nguyễn Thị L trả diện tích đất 0,8 m² toạ lạc
tại ấp 7, xã S, tỉnh C (tại vị trí M8-M9-M16-M17 trên Mảnh trích đo chỉnh lý thửa

7
đất ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Công ty TNHH MTV Tài nguyên – Môi trường
Dâng Phong).
2. Về chi phí tố tụng:
Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thuý H phải chịu số tiền 11.737.000 (mười
một triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn) đồng. Bà H đã nộp xong.
Buộc bị đơn ông Trương Hớn Đ, bà Nguyễn Thị L phải chịu số tiền
31.960.000 đồng (ba mươi mốt triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng. Ông Đ bà L
đã nộp xong.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thuý H phải chịu 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí mà
bà đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005616 ngày 02
tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (nay là
Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Cà Mau).
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Nguyễn Thuý H phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 10/10/2025, bà Nguyễn
Thuý H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo
biên lai thu số 0001428 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển
thu án phí toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa PT TATC tại Tp. HCM (01 bản); THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Cà Mau (02 bản);
- TAND Khu vực 3 – Cà Mau (01 bản);
- Phòng THADS Khu vực 3 – Cà Mau (01 bản);
- Các đương sự;
- Lưu HS, Tổ HCTP (01 bản).
Châu Minh Nguyệt

8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Hải Hà Bùi Anh Tuấn Châu Minh Nguyệt
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm