Bản án số 133/2026/DS-PT ngày 13/03/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 133/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 133/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 133/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 133/2026/DS-PT ngày 13/03/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 133/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 133/2026/DS-PT
Ngày: 13 - 3 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Vũ Trí - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 65/2025/TLPT-DS ngày 13-5-2025
về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 24-3-2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng) bị
kháng cáo.
Theo định đưa vụ án ra xét xử số 556/2025/QĐ-PT ngày 11-11-2025; Quyết
định hoãn phiên toà số 702/2025/QĐ-PT ngày 26-11-2025; Thông báo mở lại
phiên toà số 15/TB-PT ngày 20-01-2026 và số 11/TB-PT ngày 23-02-2026 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Phạm Văn T, sinh năm 1967; bà Trịnh Thị T1, sinh năm
1968; địa chỉ: số H Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Huỳnh T2,
Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư tỉnh L; địa chỉ: số C H, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Tâm
Bà Lê Thị Vân
Ông Đặng Ngọc Bình
2
2. Bị đơn: cụ Hoàng Văn Q, sinh năm 1942 (chết ngày 13-12-2022); cụ Đỗ
Thị N, sinh năm 1943 (chết tháng 4-2020).
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Q và cụ N:
Ông Hoàng Đức N1, sinh năm 1966; ông Hoàng Đức T3, sinh năm 1968;
ông Hoàng Đức T4, sinh năm 1970; bà Hoàng Thị Bích N2, sinh năm 1975; cùng
địa chỉ: số H (số M) Nguyễn Công T5, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng;
Bà Hoàng O, sinh năm 1973; địa chỉ: hẻm E Thôn G, phường X - Đ, tỉnh
Lâm Đồng;
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Huỳnh Tấn N3, bà Hoàng O; địa chỉ: hẻm S đường T, phường X -
Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3.2 Ông Hoàng Đức T4, sinh năm 1970; địa chỉ: số H (số M) Nguyễn Công
T5, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3.3 Bà Thái Thị L, sinh năm 1984; địa chỉ: số E hẻm T, phường X - Đ, tỉnh
Lâm Đồng
3.4 Ông Lê Trọng N4, sinh năm 1955; địa chỉ: số A N, phường X - Đ, tỉnh
Lâm Đồng.
4. Người kháng cáo: nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1.
Ông T, bà T1, ông T2, ông N1, ông T1, bà N2, bà O, ông N3 có mặt. Các
đương sự khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 trình bày: Ngày 23-12-2001,
ông bà nhận chuyển nhượng của cụ Q, cụ N lô đất tại hẻm E đường T, Phường B,
thành phố Đ (nay là phường X - Đ) có chiều ngang 05m, chiều dài từ mặt đường
đến giáp vỉa hè nhà ông N4 (tại thời điểm chuyển nhượng) nhưng hiện ông N4
xây hết vỉa hè nên giáp tường nhà ông N4 với giá 28.000.000 đồng. Do đất chưa
có giấy tờ nên không lập hợp đồng công chứng mà cụ Q viết giấy thỏa thuận sang
nhượng đất thổ cư (mỗi bên giữ một bản). Sau đó, ông bà phát hiện trong giấy
thỏa thuận chuyển nhượng đất ghi ngang 05m, dài 09m nên ông bà yêu cầu cụ Q
sửa lại nhưng cụ Q nói có họa đồ rồi được bao nhiêu thì tính bấy nhiêu, đồng thời
cụ Q ghi số 1 vào trước số 09 thành 19m. Song khi ông bà tiến hành làm thủ tục
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ Q, cụ N cho rằng chỉ chuyển nhượng
ngang 05m, dài 09m, phần đất còn lại cụ Q, cụ N đặt mương thoát nước. Do khi
3
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có đường ống thoát nước, ông bà thanh
toán tiền và tại mặt sau của giấy thỏa thuận sang nhượng đất thổ cư có bản vẽ tay
thể hiện phần đất chuyển nhượng giáp với nhà đất ông N4. Ngày 03-10-2017, ông
bà khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất và được thụ lý vào ngày 12-10-2017,
đến ngày 06-02-2020 ông bà thay đổi yêu cầu khởi kiện từ tranh chấp quyền sử
dụng đất sang tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất yêu cầu
tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích
68,14m
2
tại hẻm E Thôn G, Phường B, thành phố Đ (nay là phường X - Đ) theo
họa đồ đo vẽ. Đồng thời ngày 27-5-2021, ông bà yêu cầu ông Q, ông T3, ông T1,
bà N2, bà O thanh toán 386.353.800 đồng là tiền phải nộp nghĩa vụ cho Nhà nước
khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất ở theo giấy thỏa thuận sang nhượng
đất thổ cư ngày 23-12-2001.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông bà và cụ Q, cụ N đối với diện tích đất đang tranh
chấp, ông bà không đồng ý.
Ông Hoàng Đức T4 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Q, cụ
N và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: do quen biết nên năm
2001, bố mẹ ông là cụ Hoàng Văn Q và cụ Đỗ Thị N có thỏa thuận chuyển nhượng
cho ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 diện tích đất 45m
2
(chiều rộng 05m, chiều
dài 09m) với giá 28.000.000 đồng; cụ Q, cụ N nhận đủ số tiền 28.000.000 đồng
và bàn giao diện tích đất trên cho ông T, bà T1. Khi chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, cụ Q, cụ N để lại một phần đất có diện tích 20m
2
(05m x 04m) thẳng
ngang với taluy nhà ông tiếp giáp với nhà ông N4 làm hố ga thoát nước thải. Sau
đó, ông T cho rằng diện tích đất nhận chuyển nhượng không đủ để làm giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nên nhờ cụ Q, cụ N viết và ký vào giấy thỏa thuận sang
nhượng đất thổ cư với nội dung chuyển nhượng 05m x 19m song cụ Q, cụ N
không đồng ý. Đối với giấy thỏa thuận sang nhượng đất thổ cư do ông T, bà T1
xuất trình ghi dài 19m nhìn bằng mắt thường có ghi thêm và sửa chữa vào số 1
trước số I, đây không phải là chữ viết của cụ Q. Còn bản vẽ bằng tay sau giấy thỏa
thuận sang nhượng đất thổ cư thể hiện đất chuyển nhượng giáp với đất ông N4 là
không chính xác vì cụ Q chỉ vẽ ước lượng tương đối, thực tế phần đất 05m x 04m
thẳng ngang với taluy nhà ông và giáp với nhà ông N4 có đường ống nước thải từ
các nhà: 1/cụ Quý, cụ N đặt ống nước thải và sử dụng từ năm 1997, hiện cụ Q, cụ
N tặng cho ông nhà đất này; 2/vợ chồng bà O, ông N3; 3/bà Lưu.
Do cụ Q, cụ N chỉ chuyển nhượng lô đất có chiều ngang 05m, dài 09m nên
4
ông không đồng ý yêu cầu của ông T, bà T1 về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng với diện tích 68,14m
2
. Đồng thời, vì diện tích đất chuyển nhượng
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không đủ diện tích đất để tách
thửa nên cụ Q yêu cầu phản tố đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa cụ Q, cụ N và ông T, bà T1, đồng ý thanh toán lại số tiền đã nhận và thiệt
hại hợp đồng theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu của ông T, bà T1 về việc
yêu cầu thanh toán tiền nộp nghĩa vụ cho Nhà nước khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp
sang đất ở với số tiền 386.353.800 đồng ông không đồng ý vì khi lập hợp đồng viết
tay ông T, bà T1 đều biết đất chưa có giấy tờ, hơn nữa ông yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Q, cụ N và ông T, bà T1.
Bà Thái Thị L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: trước đây
bà có xin cụ Q cho đặt nhờ đường ống thoát nước thải trên phần đất nhà cụ Q (sát
tường nhà ông N4). Bà không có ý kiến gì và đề nghị giải quyết vụ án theo quy
định của pháp luật.
Vợ chồng ông Huỳnh Tấn N3, bà Hoàng O là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trình bày: ông bà đang đặt nhờ đường ống thoát nước thải trên phần đất
nhà cụ Q (sát tường nhà ông N4). Ông bà đề nghị giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Ông Hoàng Đức N1, ông Hoàng Đức T3 bà Hoàng Thị Bích N2, bà Hoàng
O là những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Q, cụ N trình bày: các
ông bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Q, cụ N
và ông T, bà T1; đồng ý thanh toán lại số tiền đã nhận và thiệt hại hợp đồng theo
quy định của pháp luật.
Ông Võ Trọng N5 trình bày: ông có đặt nhờ đường ống nước thải trên phần
đất nhà cụ Q (sát tường nhà ông N5). Ông đề nghị giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 24-3-2025 của Toà án nhân
dân thành phố Đà Lạt (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng) đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị
T1 về yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng theo giấy thỏa thuận sang nhượng đất
thổ cư ngày 23-12-2001 giữa cụ Hoàng Văn Q và bà Trịnh Thị T1.
2. Đình chỉ yêu cầu và khởi kiện của ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 về yêu
cầu thanh toán số tiền 386.353.800 đồng chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất ở.
5
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn cụ Hoàng Văn Q về việc hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
3.1 Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Hoàng
Văn Q, cụ Đỗ Thị N và ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 đối với diện tích đất
thuộc 1 phần thửa 49, tờ bản đồ 01, hẻm E Thôn G, Phường B, thành phố Đ theo
giấy thỏa thuận sang nhượng đất thổ cư ngày 23-12-2001 giữa cụ Hoàng Văn Q
và bà Trịnh Thị T1 có chiều rộng 05m, chiều dài 19m và giấy thỏa thuận sang
nhượng đất thổ cư ngày 23-12-2001 giữa cụ Hoàng Văn Q và bà Trịnh Thị T1 có
chiều rộng 05m, chiều dài 09m là vô hiệu.
3.2 Buộc ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 hoàn trả cho ông Hoàng Đức
N1, ông Hoàng Đức T3, ông Hoàng Đức T4, bà Hoàng Thị Bích N2, bà Hoàng O
lô đất có diện tích 68,14m
2
thuộc 1 phần thửa 49, tờ bản đồ 01 hẻm E Thôn G,
Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (đây là tài sản của cụ Q, cụ N chưa chia).
3.3 Buộc ông Hoàng Đức N1, ông Hoàng Đức T3, ông Hoàng Đức T4, bà
Hoàng Thị Bích N2, bà Hoàng O liên đới thanh toán cho vợ chồng ông Phạm Văn
T, bà Trịnh Thị T1 số tiền 559.120.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi
hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 01-4-2025, nguyên đơn kháng cáo không đồng ý toàn bộ nội dung bản
án sơ thẩm, đề nghị Toà án xem xét lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà hôm nay,
Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đồng
ý tuyên hợp đồng vô hiệu như Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm xem xét yếu tố lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu, vì sau khi nhận chuyển nhượng
nguyên đơn đã tác động đến phần diện tích đất này, tiến hành đóng góp sửa chữa
đường, đổ đá xây bờ taluy.
Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị đơn đồng ý với yêu cầu của nguyên
đơn việc tuyên hợp đồng vô hiệu và đề nghị xác định lỗi như Tòa án cấp sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực
hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị
6
T1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: tuyên vô hiệu đối với hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 23-12-2001; Xác định lỗi thuộc về bị đơn buộc
những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị đơn thanh toán cho nguyên đơn
toàn bộ giá trị tài sản theo chứng thư thẩm định tại giai đoạn phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ông T3, bà L và ông N5 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng
vắng mặt, tuy nhiên bà L và ông N5 đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều
296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng
mặt theo thủ tục chung.
[1.2] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định
đúng pháp luật. Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định, thủ
tục kháng cáo được thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét
giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2.] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1:
[2.1] Nguyên đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ
Q, cụ N đều thừa nhận ngày 23-12-2001 giữa cụ Q và cụ N có lập giấy sang
nhượng viết tay chuyển nhượng diện tích đất có chiều rộng 05m, chiều dài 09m,
phía Bắc giáp đường N, phía Đông giáp nhà ông H cho ông Phạm Văn T, bà Trịnh
Thị T1, xác nhận chữ ký trong giấy thỏa thuận sang nhượng đất thổ cư chính là
chữ ký của cụ Q, cụ N. Do các bên có tranh chấp liên quan đến việc phần diện
tích có chiều dài là 19m và 09m nên phát sinh tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đều thống nhất tuyên hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 23-12-2001 giữa cụ Q, cụ N lập giấy sang nhượng
viết tay chuyển nhượng diện tích đất với ông T, bà T1 là vô hiệu và đề nghị giải
quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Hội đồng xét xử ghi nhận các tình tiết được
các bên thừa nhận và tuyên hợp đồng nói trên vô hiệu như Tòa án cấp sơ thẩm
nhận định là có căn cứ.
[2.2] Xét lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu: Tại thời điểm ký kết hợp đồng trên
vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Theo quy định tại Điều 146 của Bộ
luật Dân sự năm 1995 và các bên tranh chấp sau năm 2015 khi giao dịch dân sự
vô hiệu các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã
nhận, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Do cụ Q, cụ N đã chết nên những
7
người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Q, cụ N gồm các ông bà: Hoàng Đức N1,
Hoàng Đức T3, Hoàng Đức T4, Hoàng Thị Bích N2, Hoàng O có nghĩa vụ trả lại
số tiền đã nhận của ông T, bà T4 là 28.000.000 đồng. Ông T, bà T4 có nghĩa vụ
trả lại phần diện tích đất theo đúng hiện trạng tại giấy sang nhượng viết tay ngày
23-12-2001 và diện tích đo đạc thực tế là 68,14m
2
cho các ông bà: Hoàng Đức
N1, Hoàng Đức T3, Hoàng Đức T4, Hoàng Thị Bích N2, Hoàng O như Tòa án
cấp sơ thẩm là có căn cứ.
Xét nguyên nhân dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô
hiệu do lỗi của cả hai bên. Tuy nhiên, xem xét các tình tiết có trong hồ sơ vụ án
cũng như lời trình bày của các bên và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của nguyên đơn thể hiện: sau khi sang nhượng đất nguyên đơn đã trả đủ tiền
chuyển nhượng, bị đơn đã giao đất, sau đó ông T, bà T4 đã tác động đến phần
diện tích đất này bằng hình thức đóng góp tiền để hình thành nên con đường tiếp
giáp với đường T, vấn đề này bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng của bị đơn cho rằng không biết nhưng trên thực tế là có việc nguyên đơn
đóng góp để sửa chữa đường, đổ đá xây bờ taluy. Như vậy, cần xem xét yếu tố lỗi
như phân tích trên và tính theo mức độ lỗi là nguyên đơn cũng có lỗi trong quá
trình nhận chuyển nhượng đất khi đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và bị đơn cụ Q, cụ N xác định phần diện tích đất chuyển nhượng chưa
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng nhận toàn bộ số tiền của nguyên
đơn theo tỷ lệ lỗi 4/6 (nguyên đơn 4 phần; bị đơn 6 phần) là phù hợp.
Theo kết quả chứng thư thẩm định giá của Công ty thẩm định giá Năm Thành
Viên ngày 19-12-2025 được các bên thống nhất giá trị lô đất nông nghiệp là
2.544.716.000 đồng. Cụ thể: 2.544.716.000 đồng - 28.000.000 đồng (tiền chuyển
nhượng đã thanh toán) = 2.516.716.000 đồng theo tỷ lệ 4/6 và buộc những người
kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn gồm các ông, bà: Hoàng Đức N1, Hoàng
Đức T3, Hoàng Đức T4, Hoàng Thị Bích N2, Hoàng O phải trả lại cho ông T, bà
T4 số tiền 1.510.029.600 đồng (số tiền lỗi theo tỷ lệ 6/4) + 28.000.000 đồng (tiền
chuyển nhượng đất đã thanh toán) = 1.538.029.600 đồng.
[2.3] Từ những phân tích trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên
đơn ông T, bà T4. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định.
[3] Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về chi phí tố tụng:
8
Tổng chi phí tố tụng 44.776.100 đồng (trong đó chi phí thẩm định giá tại giai
đoạn phúc thẩm 31.200.000 đồng + chi phí tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm
13.576.100 đồng). Do xác định lỗi dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất vô hiệu nên mỗi bên chịu ½ chi phí tố tụng là phù hợp. Do vậy cần buộc
các ông bà: Hoàng Đức N1, Hoàng Đức T3, Hoàng Đức T4, Hoàng Thị Bích N2,
Hoàng O có trách nhiệm liên đới trả lại cho ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1
22.388.050 đồng.
[5] Về án phí:
Do kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí do tuyên hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của
bị đơn gồm các ông bà: Hoàng Đức N1, Hoàng Đức T3, Hoàng Đức T4, Hoàng
Thị Bích N2, Hoàng O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền thanh
toán là 58.140.888 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ 2 Điều 308 của Bộ luật tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban vụ
Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Trịnh
Thị T1.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 24-3-2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng).
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị
T1 về yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng theo giấy thỏa thuận sang nhượng đất
thổ cư ngày 23-12-2001 giữa cụ Hoàng Văn Q và bà Trịnh Thị T1.
2. Đình chỉ yêu cầu và khởi kiện của ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 về yêu
cầu thanh toán số tiền chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất ở 386.353.800 đồng.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn cụ Hoàng Văn Q về việc tuyên hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
9
3.1 Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Hoàng
Văn Q, cụ Đỗ Thị N và ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 đối với diện tích đất
thuộc 1 phần thửa 49, tờ bản đồ 01 có diện tích đo đạc cụ thể kèm theo là vô hiệu
bao gồm giấy thỏa thuận sang nhượng đất thổ cư ngày 23-12-2001 giữa cụ Hoàng
Văn Q và bà Trịnh Thị T1 có chiều rộng 05m, chiều dài 19m và giấy thỏa thuận
sang nhượng đất thổ cư ngày 23-12-2001 giữa cụ Hoàng Văn Q và bà Trịnh Thị
T1 có chiều rộng 05m, chiều dài 09m.
3.2 Giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu:
Buộc ông Hoàng Đức N1, ông Hoàng Đức T3, ông Hoàng Đức T4, bà Hoàng
Thị Bích N2, bà Hoàng O là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn
cụ Hoàng Văn Q, cụ Đỗ Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phạm Văn T, bà
Trịnh Thị T1 số tiền 1.538.029.600 đồng (trong đó tiền chuyển nhượng
28.000.000 đồng và tiền bồi thường theo tỷ lệ lỗi 1.510.029.600 đồng).
Buộc ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 trả lại cho ông Hoàng Đức N1, ông
Hoàng Đức T3, ông Hoàng Đức T4, bà Hoàng Thị Bích N2, bà Hoàng O là những
người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Hoàng Văn Q, cụ Đỗ Thị N lô đất có diện
tích 68,14m
2
thuộc 1 phần thửa 49, tờ bản đồ 01 đây là tài sản của cụ Hoàng Văn
Q, cụ Đỗ Thị N chưa chia.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Hoàng Đức N1, ông Hoàng Đức T3, ông Hoàng Đức T4, bà Hoàng
Thị Bích N2, bà Hoàng O là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Hoàng
Văn Q, cụ Đỗ Thị N liên đới trả cho ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 số tiền
22.388.050 đồng.
5. Về án phí:
Buộc ông Phạm Văn T, bà Trịnh Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân
sự sơ thẩm được trừ vào 3.250.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số
AA/2016/0001759 ngày 12-10-2017; 9.659.000 đồng theo biên lai thu số 0003928
ngày 01-6-2021; 600.000 đồng theo các biên lai thu số 0001985 và số 0001986
ngày 08-4-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ (nay là Phòng Thi
10
hành án dân sự khu vực 1 - Lâm Đồng). Hoàn trả cho ông Phạm Văn T, bà Trịnh
Thị T1 số tiền 13.209.000 đồng án phí còn thừa.
Buộc ông Hoàng Đức N1, ông Hoàng Đức T3, ông Hoàng Đức T4, bà Hoàng
Thị Bích N2, bà Hoàng O mỗi người phải chịu 11.628.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật
Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng TTr, KT & THA;
- TAND khu vực 1 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 1 - Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu án văn, hồ sơ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thành Tâm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm