Bản án số 28/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 28/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 28/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 28/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 28/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Trị |
| Số hiệu: | 28/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | hủy bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 28/2026/DS-PT
Ngày 11 - 3 - 2026
Về việc T/c quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Thương.
Các Thẩm phán: Ông Phan Hồng Phước;
Ông Trần Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Huệ- Thư k Ta án nhân dân tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Ta án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số: 98/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 11
năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Ta án nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị, bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2026/QĐ-PT ngày 07 tháng 01
năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Võ Thị D, sinh năm 1950; nơi cư trú: khu phố A,
phường Đ, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: bà Trần Thị Hoàng M-
Luật sư thuộc Văn phng L2; địa chỉ: số D đường T, phường N, tỉnh Quảng Trị;
có mặt.
2. Bị đơn: ông Hoàng Hữu C, sinh năm 1950; nơi cư trú: Khu phố A,
phường Đ, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: bà Nguyễn Thị L- Luật sư thuộc
Văn phng L3; địa chỉ: số C đường L, phường N, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1950; nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ,
tỉnh Quảng Trị; có đơn xin vắng mặt.
2
+ Bà Hoàng Thị D1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Khu phố B, phường N,
tỉnh Quảng Trị; có đơn xin vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Ông Hoàng Hữu C là bị đơn.
5. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn b Võ Thị D trình bày:
Năm 1999, bà Võ Thị D và ông Trần Lâm N chuyển nhượng quyền sử
dụng đất của bà Hoàng Thị Q. Ngày 09/01/2004, bà D và ông L1 được Ủy ban
nhân dân (UBND) thị xã Đ, tỉnh Quảng Trị cấp Giấy chng nhận quyền sử dụng
đất số Y 637361 với diện tích 350m
2
, thửa đất số 239, tờ bản đồ số 40, địa chỉ
thửa đất: khu phố A, phường Đ thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là khu phố A,
phường Đ, tỉnh Quảng Trị). Ngày 25/02/2004, bà D chuyển nhượng cho con trai
Trần Văn T diện tích 170m
2
và ngày 02/4/2004 được UBND thị xã Đ cấp lại
Giấy chng nhận quyền sử dụng đất số Đ 441321, diện tích 180m
2
, thửa đất số
239, tờ bản đồ số 40, tên người sử dụng đất là hộ Võ Thị D và Trần Lâm . Ngày
24/5/2021, Chi nhánh Văn phng đăng k đất đai thành phố Đ chỉnh l nội dung
tên người sử dụng đất để thừa kế cho bà Võ Thị D.
Quá trình sử dụng đất, khi mới đến ở, gia đình bà D làm chuồng trại phía
sau để nuôi lợn, gà nhưng không có kinh nghiệm nên chăn nuôi bị lỗ và không
nuôi nữa. Ông C thấy đất để trống nên sử dụng, ban đầu bà D không đồng
nhưng do chưa sử dụng nên để cho ông C nuôi, sau đó ông sửa sang, đổ bê tông
và chiếm đoạt cho đến nay. Hiện tại ông C đã tháo dỡ, bà D yêu cầu ông trả đất
nhưng ông C không trả.
Ông Hoàng Hữu C là hộ đất liền kề sử dụng lấn chiếm vào quyền sử dụng
đất của bà D với diện tích khoảng 31,7m
2
, ở vị trí phía Đông Bắc thửa đất của bà
D. Ông C đổ bê tông lên diện tích trên khi không được sự đồng của bà D. Bà
D nhiều lần yêu cầu ông C trả lại diện tích đất nhưng ông C không thực hiện.
Bà D khởi kiện yêu cầu: Buộc ông Hoàng Hữu C trả lại diện tích đất lấn
chiếm là 31,7m
2
(từ điểm 10, 11, 12 và 13), vị trí Đông Bắc của thửa đất theo
Phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất ngày 08/9/2025 của Chi nhánh Văn phng Đ, tỉnh
Quảng Trị; buộc ông Hoàng Hữu C phải tháo dỡ công trình là 01 bể phốt, sàn bê
tông và xà bần đã đổ trên diện tích đang lấn chiếm trên (theo Biên bản xem xét
thẩm định tại chỗ ngày 20/8/2025).
* Ý kiến bà Võ Thị D đối với yêu cầu phản tố của ông Hoàng Hữu C:
không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn với các lý do sau:
3
Bà Võ Thị D là người không biết chữ nên bà không k vào Bản cam kết
đề ngày 12/11/2003 mà phía bị đơn cung cấp, bản cam kết lập ngày 12/11/2003
nhưng UBND xác nhận ngày 14/11/2003. Thực tế bà D cũng không thỏa thuận
về việc chuyển nhượng gì đối với ông Hoàng Hữu C. Nội dung cũng cha nội
dung không thể thực hiện được như: các bên không thỏa thuận diện tích, kích
thước, ranh giới chuyển nhượng cũng như giá cả chuyển nhượng là bao nhiêu.
Phía bị đơn cho rằng giá chuyển nhượng không đồng là không có căn c và
hoàn toàn vô l. Mặt khác, trong nội dung văn bản có nói là “làm thẻ đỏ xong,
gia đình tôi phải chuyển nhượng”. Giấy chng nhận quyền sử dụng đất của bà
Võ Thị D được cấp năm 2004, đến nay đã hơn 21 năm nhưng gia đình ông C
chưa bao giờ đề cập đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Như vậy, thời
hiệu để yêu cầu giải quyết cũng không cn. Từ những l do đó có thể thấy rằng
bản cam kết mà bị đơn cung cấp là không có giá trị pháp l, vô hiệu. Do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử căn c Điều 149, khoản 3, Điều 150, Điều 429 Bộ luật
Dân sự 2015; Điều 184, Điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS ra Quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu phản tố.
Bị đơn ông Hong Hữu C trình bày:
Năm 1999, gia đình bà Võ Thị D và ông Trần L1 có mua lại phần đất của
bà Hoàng Thị Q tại phường Đ (nay là phường Đ), diện tích 270m². Bà D thỏa
thuận “để lại” cho ông Hoàng Hữu C diện tích khoảng 40m² trong diện tích đất
270m² nhận chuyển nhượng của bà Q. Thửa đất liền kề với thửa đất của gia đình
ông C (thửa số 225, tờ bản đồ số 40, trên thửa đất này, ông C đã làm nhà ở từ
năm 1999, trước ngày hai bên thỏa thuận và cam kết vào 12/11/2003).
Do điều kiện thời điểm đó việc tách thửa và xin cấp Giấy chng nhận
quyền sử dụng đất khó khăn và người dân cũng không biết thủ tục hành chính
như thế nào nên nhân tiện Nhà nước tiến hành đo đạc cấp Giấy chng nhận cho
toàn phường thì ông C với bà D thỏa thuận lập Bản cam kết ngày 12/11/2003,
được UBND phường Đ xác nhận, với nội dung:
- Ông Hoàng Hữu C hỗ trợ thủ tục (k hộ liền kề) để bà D được cấp giấy
chng nhận quyền sử dụng đất 270m².
- Bà D đng tên kê khai, làm thủ tục xin cấp Giấy chng nhận chung
(gồm cả thửa đất 40m² đang có nhà ở của ông Hoàng Hữu C), sau đó tách,
chuyển lại cho ông Hoàng Hữu C.
- Bà D chịu toàn bộ chi phí thủ tục cắt đất, tiền chuyển nhượng là không
đồng.
Thực hiện cam kết này, từ năm 2003 đến nay ông C đã quản l, sử dụng
ổn định, xây dựng nhà kiên cố trên phần đất khoảng 40m², không ai tranh chấp.
4
Năm 2004, bà D được UBND thị xã Đ cấp giấy chng nhận quyền sử
dụng đất 270m², trong đó có cả 40m² đất của ông Hoàng Hữu C. Theo cam kết,
bà D phải thực hiện thủ tục trả lại cho ông C, nhưng đến nay bà D không thực
hiện, ngược lại khởi kiện đi ông C trả lại diện tích 40m².
Do đó, bị đơn đề nghị Ta án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Đồng thời đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn: Công
nhận Bản cam kết lập ngày 12 tháng 11 năm 2003 giữa ông Hoàng Hữu C và bà
Võ Thị D có chng thực của UBND phường Đ là hợp pháp. Buộc bà Võ Thị D
thực hiện nội dung Bản cam kết ngày 12/11/2003 chuyển nhượng lại phần đất có
diện tích 31,7m² (theo Phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất ngày 08/9/2025 của Chi
nhánh Văn phng đăng k đất đai khu vực XI, tỉnh Quảng Trị), có vị trí Đông
Bắc thửa đất 270, tại thửa đất số 239, tờ bản đồ số 40) có giá trị không đồng cho
ông Hoàng Hữu C.
Yêu cầu chỉnh l một phần Giấy chng nhận quyền sử dụng đất số Y
637361 (cấp ngày 09/01/2004, sau khi tách thửa chuyển nhượng cho con đã
được cấp lại GCN số Đ 441321 mang tên bà Võ Thị D) đối với diện tích 31,7m²
nêu trên.
Tại phiên tòa sơ thẩm: bị đơn thay đổi kiến đề nghị bà Võ Thị D trả lại
phần diện tích đang tranh chấp cho gia đình ông C. Yêu cầu hủy một phần Giấy
chng nhận quyền sử dụng đất số Y 637361 (cấp ngày 09/01/2004, sau khi tách
thửa chuyển nhượng cho con đã được cấp lại GCN số Đ 441321 mang tên bà Võ
Thị D) đối với diện tích 31,7m² nêu trên và đề nghị Ta án tạm ngưng phiên ta
để định giá tài sản để xử l hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bổ sung thêm người
làm chng.
Người có Quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P và bà Hoàng
Thị D1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị P và bà Hoàng Thị D1 không đồng với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn; đồng với trình bày và yêu cầu phản tố của ông Hoàng Hữu C,
cụ thể:
Buộc bà Võ Thị D thực hiện nội dung Bản cam kết ngày 12/11/2003
chuyển nhượng lại phần đất có diện tích 31,7m² (theo Phiếu đo đạc chỉnh l thửa
đất ngày 08/9/2025 của Chi nhánh Văn phng đăng k đất đai khu vực XI, tỉnh
Quảng Trị), có vị trí Đông Bắc thửa đất 270, tại thửa đất số 239, tờ bản đồ số
40) có giá trị không đồng cho ông Hoàng Hữu C.
Yêu cầu chỉnh l một phần Giấy chng nhận quyền sử dụng đất số Y
637361 (cấp ngày 09/01/2004, sau khi tách thửa chuyển nhượng cho con đãđược
cấp lại GCN số Đ 441321 mang tên bà Võ Thị D) đối với diện tích 31,7m² nêu
trên.
5
Với những nội dung trên;
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Ta án nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị đã quyết định:
Căn c vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1
Điều 39; 147; Điều 157; 158; khoản 2 Điều 184; điểm e khoản 1 Điều 217; Điều
227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn c các Điều 690, 691, 692, 603, 604, 695 và 708 của Bộ luật dân sự
năm 1995;
Căn c các Điều 149,408, 429, 501, 502, 503 và 688 của Bộ luật dân sự
năm 2015;
Căn c Điều 26; 236 Luật đất đai 2024;
Căn c điểm f Điều 12 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Ta án của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị D, xác định
phần diện tích đang tranh chấp 31.7m
2
(từ điểm 10, 11, 12 và 13), vị trí phía Bắc
của thửa đất theo Phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất ngày 08/9/2025 của Chi nhánh
Văn phng đăng k đất đai khu vực XI, tỉnh Quảng Trị thuộc quyền sử dụng đất
hợp pháp của bà Võ Thị D (các vị trí khác không tranh chấp được thực hiện theo
giấy chng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp).
Buộc ông Hoàng Hữu C phải tự tháo dỡ 01 móng nhà sâu 0,5m, 01 bể phốt
(bể vệ sinh) âm dưới mặt đất, sàn nhà xây xi măng lát gạch và vửa xây dựng trên
diện tích 31.7m
2
(từ điểm 10, 11, 12 và 13), vị trí phía Bắc của thửa đất theo
Phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất ngày 08/9/2025 của Chi nhánh Văn phng đăng
k đất đai khu vực XI, tỉnh Quảng Trị được xác định là của bà Võ Thị D.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Hữu C về việc
hủy một phần Giấy chng nhận quyền sử dụng đất số Y 637361 (cấp ngày
09/01/2004, sau khi tách thửa chuyển nhượng cho con đã được cấp lại giấy
chng nhận quyền sử dụng đất số Đ 441321 mang tên bà Võ Thị D) đối với diện
tích 31.7m² đang tranh chấp.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc bà Võ
Thị D thực hiện Cam kết ngày 12/11/2003, chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đối với diện tích 31.7m
2
(từ điểm 10, 11, 12 và 13), vị trí phía Bắc của thửa đất
theo Phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất ngày 08/9/2025 của Chi nhánh Văn phng
đăng k đất đai khu vực XI, tỉnh Quảng Trị do hết thời hiệu khởi kiện.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm cn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác,
quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
6
- Ngày 01/10/2025, bị đơn ông Hoàng Hữu C kháng cáo đề nghị Toà án
cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của bà Võ Thị D.
- Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 126/QĐ-VKS-DS ngày 29/10/2025
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị: Đề nghị hủy toàn bộ
Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 5- Quảng Trị; giao hồ sơ vụ án cho Ta án nhân dân khu vực 5- Quảng
Trị giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên ta phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn không rút kháng cáo, Viện kiểm sát không rút kháng nghị; các đương sự
không thỏa thuận được với nhau về việc tranh chấp và yêu cầu Ta án giải quyết
vụ án theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên ta,
Thẩm phán, Thư k, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng theo trình tự thủ tục do
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn c khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy
toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 5; giao hồ sơ vụ án cho Ta án nhân dân khu vực 5 giải quyết
lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Án phí dân sự sơ thẩm
và chi phí tố tụng sẽ được xác định lại khi giải quyết lại vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên ta và căn c vào kết quả tranh luận tại phiên ta, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Bà Võ Thị D khởi kiện yêu cầu ông Hoàng
Hữu C trả lại 31,7m
2
diện tích đất lấn chiếm. Tại phiên ta sơ thẩm, bị đơn ông
Hoàng Hữu C thay đổi yêu cầu phản tố buộc nguyên đơn trả lại phần diện tích
đang tranh chấp cho gia đình ông C và yêu cầu hủy một phần Giấy chng nhận
quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Ta án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh
chấp chưa chính xác mà phải xác định “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
7
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Đối tượng tranh chấp là bất động sản tại
phường Đ, tỉnh Quảng Trị, căn c Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố
tụng dân sự, Ta án nhân dân khu vực 5- Quảng Trị thụ l, giải quyết là đúng
thẩm quyền.
[1.3] Vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
được Ta án triệu tập hợp lệ đến phiên ta lần th hai và có đơn xin vắng mặt,
căn c khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Ta án xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:
[2.1] Bị đơn ông Hoàng Hữu C yêu cầu hủy một phần Giấy chng nhận
quyền sử dụng đất số Y 637361 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng
Trị cấp ngày 09/01/2004 mang tên Võ Thị D và ông Trần L1, cấp đổi ngày
02/4/2004 theo Giấy chng nhận quyền sử dụng đất số Đ 441321 mang tên Võ
Thị D và ông Trần L1. Ta án cấp sơ thẩm đã giải quyết và không chấp nhận
yêu cầu của ông Hoàng Hữu C nhưng không đưa Ủy ban nhân dân thành phố Đ
(sau này người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân
phường Đ), tỉnh Quảng Trị vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, vi phạm này, cấp
phúc thẩm không thể khắc phục được.
[2.2] Ngày 17/10/1999, bà Hoàng Thị Q lập Đơn xin chuyển nhượng đất
thổ cư cho ông Trần L1, diện tích chuyển nhượng 18m x 15m = 270m
2
tại thôn
A, phường Đ, thị xã Đ (nay phường Đ), tỉnh Quảng Trị. Đơn có Trưởng ban cán
sự thôn A và Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ xác nhận, đồng thời xác nhận
diện tích vườn + đường vào của thửa đất chuyển nhượng thành 300m
2
, đúng quy
hoạch, không có tranh chấp.
Tháng 6/2021, UBND phường Đ tiến hành khảo sát xác nhận ranh giới
thửa đất thì có diện tích 350,2m
2
thuộc thửa số 239, tờ bản đồ số 40.
Ngày 20/10/2003, bà Võ Thị D có Đơn xin đăng k quyền sử dụng đất,
diện tích 350m
2
.
Ngày 12/11/2003, bà Võ Thị D làm bản cam kết, ông Hoàng Hữu C ký và
thỏa thuận, có UBND phường Đ xác nhận, nội dung cam kết: “ Năm 1999, gia
đình tôi có mua đất của bà Hoàng Thị Q, tổng diện tích 270m
2
(chưa tính đường
vào). Tôi thỏa thuận để lại một phần đất cho ông Hoàng Hữu C, hiện nay anh C
đã làm nhà. Năm 2001, khi có chủ trương đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, Nhà nước đã đo phần đất của anh C nằm trong sơ đồ của gia đình
tôi. Sau khi bàn bạc thỏa thuận hai gia đình, anh C đồng ý ký hộ liền kề để cho
gia đình tôi làm thẻ đỏ. Sau khi làm thẻ đỏ xong, gia đình tôi phải chuyển
nhượng phần đất nêu trên cho anh C để làm nhà ở. Tôi xin hứa mọi khoản chi
phí cắt đất cho anh C tôi chịu hoàn toàn”.
8
Ngày 09/01/2004, Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cấp Giấy
chng nhận quyền sử dụng đất số Y 637361 mang tên bà Võ Thị D và ông Trần
L1 với diện tích 350m
2
.
Như vậy, thửa đất ban đầu bà D nhận chuyển nhượng của bà Hoàng Thị Q
diện tích 270m
2
, được đo đạc thêm phần đất làm đường đi vào nên diện tích lên
300m
2
nhưng bà D được cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất diện tích lên
đến 350m
2
. Diện tích 50m
2
tăng thêm trong hồ sơ cấp đất chưa có giải trình biến
động. Trong hồ sơ vụ án chưa xác minh, làm rõ phần đất này có liên quan đến
cam kết giữa bà D với ông C hay không, hay diện tích đất được cam kết nằm
trong 270m
2
chuyển nhượng. Theo nội dung cam kết và nội dung thể hiện tại các
phiên ha giải ở địa phương thì phần diện tích tranh chấp tại thời điểm bà D
nhận chuyển nhượng ông C đang sử dụng làm nhà, theo kết quả thẩm định tại
chỗ tài sản được mô tả thì thấy hiện nay ông C vẫn đang sử dụng.
[2.3] Căn c vào tài liệu, chng c có trong hồ sơ, đối chiếu lời khai
đương sự, thấy rằng phía bị đơn yêu cầu hủy giấy chng nhận đã cấp cho
nguyên đơn, Ta án cấp sơ thẩm xem xét nội dung này nhưng không đưa Chủ
tịch UBND phường Đ, tỉnh Quảng Trị vào tham gia tố tụng với tư cách người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Mặt khác,
bản cam kết của bà Võ Thị D, bà cho rằng bà không biết và không k cũng chưa
được làm rõ, l do vì sao ông C sử dụng thửa đất tranh chấp từ năm 1999 đến
nay. Ta án cấp phúc thẩm thống nhất quan điểm với Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Quảng Trị về bản cam kết lập ngày 12/11/2003, bà D tự cam kết, kèm theo
các điều kiện để ông C k ranh giới liền kề cho bà D làm giấy chng nhận quyền
sử dụng đất, không phải là thỏa thuận chuyển nhượng mà cấp sơ thẩm xem như
giao dịch dân sự, bản chất là chng c để chng minh quyền sử dụng đất. Mặt
khác, bà Hoàng Thị Q (chị ông C) là người chuyển nhượng thửa đất, vị trí
chuyển nhượng và thực tế sử dụng không rõ ràng, do đó Viện kiểm sát cho rằng
cần đưa bà Hoàng Thị Q vào tham gia tố tụng để làm rõ phần đất tranh chấp là
cần thiết.
Các nội dung này, tại giai đoạn phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung
được theo quy định tại khoản 1 Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên cần
thiết phải hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Ta án cấp sơ thẩm bổ
sung người tham gia tố tụng, thu thập tài liệu, chng c để giải quyết lại vụ án
theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Đối với nội dung kháng cáo của ông Hoàng Hữu C do bản án bị hủy
theo kháng nghị của Viện kiểm sát, nên không xem xét.
9
[4] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận
kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, chấp nhận kháng nghị
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, hủy bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng: Bị đơn không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản
án được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn c khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố
tụng dân sự, xử:
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị; hủy Bản án
dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Ta án nhân
dân khu vực 5- Quảng Trị. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 5-
Quảng Trị giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: Ông Hoàng Hữu C không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng được xác định khi
giải quyết lại vụ án.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND khu vực 5 - Quảng Trị;
- THADS tỉnh Quảng Trị;
- Đương sự;
- Phòng KTNV;
- Lưu: Hồ sơ; Ta DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Thị Kim Thương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm