Bản án số 176/2026/DS-PT ngày 20/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 176/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 176/2026/DS-PT ngày 20/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 176/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo bị đơnY án sơ thẩmChấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 176/2026/DS-PT
Ngày: 20 - 03 - 2026
“V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Quang
Bà Nguyễn Thị My My
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Duyên - Thư viên Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trương Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 607/2025/TLPT-DS ngày
17/12/2025, về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự
thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk
bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 88/2026/QĐ-PT ngày
19/01/2026, Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 140/2026/QĐ-PT ngày
10/02/2026 Thông báo về việc chuyển lịch phiên toà số 08/2026/TB-TA ngày
09/3/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lương Công T, sinh năm 1991; đa ch: T dân ph F,
xã K, tỉnh Đắk Lk, có mt;
Người đại din theo u quyn của nguyên đơn: Ông Lương Công Q, sinh
năm 1993; địa ch: C N, t dân ph F, xã K, tỉnh Đắk Lk, có mt;
2. B đơn:
2.1. Bà Lê Th Hà G, sinh năm 1999; địa ch: Xóm B, thôn F, xã K, tỉnh Đắk
Lk, vng mt;
2.2. Ông Anh N, sinh năm 1969; địa ch: Thôn F, K, tỉnh Đắk Lk,
vng mt;
Người đại din theo u quyn ca b đơn G, ông N: Ông Lâm Trn K,
sinh năm 1992; địa ch: A H, phường B, tỉnh Đắk Lk, có mt;
2
3. Người có quyn lợi, nghĩa v liên quan:
3.1. Th Thúy H, sinh năm 1963; đa ch: C N, t dân ph F, K,
tỉnh Đắk Lk, vng mt;
3.2. Th M L, sinh năm 1989; đa ch: T dân ph A, K, tỉnh Đắk
Lk, vng mt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn Lê Thị Hà G và ông Lê Anh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kin và quá trình gii quyết v án, nguyên đơn và người đại
din theo u quyn của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 09/02/2023 ông Anh N vay của ông Lương Công T số tiền
700.000.000 đồng, việc vay mượn lập giấy tờ viết tay với nhau hẹn tới ngày
19/02/2023 sẽ trả, lãi suất theo quy định của pháp luật. Trước khi cho ông N vay
tiền thì mông T (bà H) điện thoại cho ông T hỏi thì ông T đồng ý. Sáng ngày
09/02/2023 trong lúc vay tiền và ghi giấy nợ ông T đang trên phòng và tắm, sau đó
ông T mang số tiền 700.000.000 đồng đưa cho m(bà H) để H đưa cho ông N
rồi vội đi công việc nên ký sau. Tính đến nay mặc đã quá hạn trả nợ đã lâu
nhưng ông Lê Anh N vẫn chưa trả được khoản nợ gốc và lãi nào.
Sau đó gần trưa 13/02/2023 bà Thị G vay ông Lương Công T số
tiền 750.000.000 đồng, khi vay viết giấy tờ. Hai bên thỏa thuận đến ngày
28/02/2023 bà G sẽ trả số tiền trên, lãi suất theo quy định của pháp luật. Trước khi
G vay thì mông T (bà H) cũng điện thoại cho ông T hỏi thì ông T đồng ý.
lúc đó ông T đang có việc bên ngoài nên nhờ bà H lên phòng lấy tiền mặt và ở nhà
để viết giấy cho G sau đó ông T về sau. Tính đến nay mặc đã quá hạn trả
nợ đã lâu nhưng bà Lê Thị Hà G vẫn chưa trả được khoản nợ gốc và lãi nào.
Việc cho ông N, bà G vay tiền là do ông T tin tưởng vì bà H (mẹ ông T) điện
thoại trước cho ông T nói chỗ quen biết nên ông T tin tưởng cho vay. Khi cho ông
N, G vay thì H người trực tiếp đưa tiền, ông T uỷ quyền bằng miệng cho
H đưa tiền cho ông N, G. Ông T không uỷ quyền cho H lấy tiền, trừ khi
nào ông T đi vắng hoặc công việc không nhà thì H nhận hộ nhưng người
vay tiền phải gọi cho ông T hoặc tới nhà đưa tiền mặt rồi ông T giấy ghi nợ
nhưng hiện tại vẫn chưa trả H không liên quan đến việc ông Anh N
hoặc bà Thị G vay tiền ông T, bà H chỉ người đưa tiền giùm. Ông T xác
định số tiền cho ông N, bà G vay là tiền cá nhân của ông T.
Nay ông T yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Lê Anh N phải trả cho ông T
số tiền 700.000.000 đồng Lê Thị G phải trả số tiền 750.000.000 đồng nợ
gốc lãi suất phát sinh theo quy định pháp luật (từ ngày vay đến khi xét x
thẩm (lãi 10%/ năm) lãi suất khi thi hành án (lãi suất tiếp theo tính từ ngày
nguyên đơn có yêu cầu thi hành án).
3
* Qtrình gii quyết v án người đại din theo u quyn ca b đơn
Th Hương G1, ông Lê Anh N là ông Lâm Trn K trình bày:
Thứ nhất, vào ngày 09/02/2023 ông Anh N không vay số tiền
700.000.000 đồng từ ông Lương Công T tại đơn khởi kiện ông T cho rằng
mối quan hệ quen biết với ông N, nên ngày 09/02/2023 cho ông N vay tiền
không đúng, vì từ trước đến nay ông N chưa bao giờ quen biết, làm ăn gì với ông T
và cũng không biết ông Lương Công Tai.
Thứ hai, ngày 09/02/2023, ông N có gặp bà H giấy vay tiền mang tên ông
Lương Công T do H thay mặt ông T làm việc với ông N. Sau khi giấy
H đại diện ông T cho ông N vay số tiền: 02 lần cụ thể như sau: Lần 1 số tiền
700.000.000 đồng; Lần 2 số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền này của bà Võ Thị Thúy
H chuyển khoản 02 lần cho ông N. Tổng cộng 750.000.000 đồng để lấy Giấy
CNQSD đất số CL 156788, số vào số CS 01904, cấp ngày 19/10/2017, do Sở
TN&MT tỉnh Đ cấp (thay đổi sở pháp lý ngày 29/7/2020 mang tên ông Anh
N), thửa đất số 504, tờ bản đồ số 4, diện tích 117m
2
, địa chỉ thửa đất tại: Thị trấn P,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk (có sao kèm theo) tại Ngân hàng TMCP Á - Chi nhánh
Đ - Phòng giao dịch huyện K. H cam kết sau khi ông N trả lại số tiền vay H
sẽ hủy giấy vay mà ông N đã ký mang tên ông T, do ông T và H mcon nên
hai người như là một.
Thứ ba, bà Võ Thị Thúy H là người hỗ trợ cùng với bà G1, ông N đi làm thủ
tục Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Anh N ThG
tại Văn phòng C, tại đường G, thị trấn P, huyện K đối với Giấy CNQSD đất số CI
156788, số vào sổ CS 101904, cấp ngày 19/10/2017, do Sở TN&MT tỉnh Đ cấp
(thay đổi sở pháp ngày 29/7/2020 mang tên ông Lê Anh N), thửa đất số 504,
tờ bản đồ số 4, diện tích 117m
2
, địa chỉ thửa đất tại: Thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk.
Sau khi ký Hợp đồng tặng cho quyền sdụng đất giữa ông N G xong
thì G ủy quyền cho H đi đăng biến động đất sang tên quyền sử dụng đất
cho G tại Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện K, đồng thời lúc này
ngày 13/02/2023 Thị Thúy H yêu cầu G lập giấy nhận nợ s tiền
750.000.000 đồng của ông N vay của H giấy vay đứng tên ông T ông N đã
ký, vì bà H cho rằng đất đã được sang tên bà Lê Thị Hà G nên ông N không còn tài
sản nữa, nên yêu cầu bà G viết giấy nhận nợ sang cho bà G (không nhận tiền từ
H) viết giấy nhận nợ thay ông N tại cổng Văn phòng đăng đất đai huyện K
cho bà H bằng giấy vay mà bà G đã ký mang tên ông T. Bà G có yêu cầu bà H đưa
lại giấy ông N viết ngày 09/02/2023 cho bà H để huỷ nhưng bà H nói giấy để ở nhà
không mang theo để về bà H tự hủy đi.
Thứ tư, đối với giấy vay tiền lập ngày 09/02/2023, do Thị Thúy H
đưa cho ông Anh N o, thời điểm vào giấy phần chữ người cho
4
vay vẫn để trống, ông N chỉ biết là vay tiền của bà H theo giấy vay mang tên ông T
ông N đã ký, còn ông T ông nào thì ông N không biết. Chữ chữ viết tại
mục người vay tiền trong giấy vay tiền là do ông Lê Anh N ký và viết ra.
Thứ năm, sau khi sang tên cho Lê Thị G đứng tên trên giấy CNQSD
đất, thì H trực tiếp mang bìa đỏ đi đến Ngân hàng ACB phòng giao dịch huyện
K (gặp trực tiếp ông Nguyễn Viết T1 CB tín dụng của ngân hàng để vay tiền), sau
khi ngân hàng cho bà G vay tiền thì bà G có nghĩa vụ trả tiền thay ông N cho H
đến ngày 02/3/2023 thì ngân hàng chỉ cho bà G vay số tiền 520.000.000 đồng, do
đó cùng ngày G chuyển khoản trả cho Thị Thúy H số tiền 500.000.000
đồng (có sao ngân ng kèm theo và công văn số 4189/CV-TT.25 ngày
31/03/2025 của ngân hàng TMCP Á xác nhận nội dung này. Xác nhận rằng ngày
bà G đã trả số tiền cho bà H là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Do đó việc ông ơng Công T khởi kiện ông Anh N phải trả cho ông T
số tiền 700.000.000 đồng Lê Thị G phải trả số tiền 750.000.000 đồng nợ
gốc lãi suất phát sinh theo quy định pháp luật (từ ngày vay đến khi xét x
thẩm (lãi 10%/ năm) lãi suất khi thi hành án (lãi suất tiếp theo tính từ ngày
nguyên đơn có yêu cầu thi hành án) thì phía bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu,
số nợ này được G nhận nợ thay toàn bộ G đã trả được 500.000.000
đồng hiện tại chỉ còn nợ lại 250.000.000 đồng, đề nghị Tòa án giải quyết theo
quy định.
* Qtrình gii quyết v án người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan
Th Thúy H trình bày:
mẹ của ông ơng Công T, đối với Thị Mỹ L là chỗ quen biết
làm ăn với bà H từ lâu. Còn ông Lê Anh N (bố L), bà Lê Thị Hà G (em gái L) bà H
biết là do L giới thiệu khoảng năm 2022. Trong năm 2022 bà H cũng đã từng cho
ông N vay tiền số tiền 1,3 tỷ và ông N cũng đã trả số tiền này.
Vào sáng ngày 09/02/2023 con i ông N Thị Mỹ L điện thoại hỏi
H 700.000.000 đồng không cho ông N vay? Bà H trả lờikhông có. Sau đó
L nhờ H mượn giùm thì H đồng ý. H điện thoại hỏi con trai
Lương Công T thì T đồng ý. Khoảng hơn 08 giờ ng ngày 09/02/2023 thì bà L,
ông N tới nH rồi các bên viết giấy vay. Khi viết giấy vay thì T mang số tiền
700.000.000 đồng đưa bà H để H đưa cho ông N rồi T đi công việc nên sau.
H xác nhận, buổi ng ngày 09/02/2023 T ủy quyền giao tiền cho bà H đ
giao tiền cho ông Lê Anh N vay 700.000.000 đồng bằng tiền mặt.
Đối với việc cùng ngày 09/02/2023 bà H có chuyển khoản 02 lần cho ông
Anh N số tiền 700.000.000 đồng 50.000.000 đồng. Ý kiến của H như sau:
Sau khi mượn tiền xong thì bà L, ông N chuẩn bị về thì bà H được người khác điện
thoại hẹn trả tiền, do thời gian đã lâu, một ngày H giao dịch rất nhiều tiền nên
không nhớ ai. Sau khi ông N, L nhận tiền vay xong ra về, khoảng 01 đến 02
5
tiếng sau thì L điện thoại hỏi mượn thêm 700.000.000 đồng, lúc này bà H
tiền nên đồng ý cho ợn. Sau đó H ra gặp L, ông N ngoài đường, H
đưa giấy vay tiền thì L nói ông N vay thêm và ông N giấy vay của H
700.000.000 đồng, bà H chuyển khoản vào tài khoản cho ông N số tiền trên. Cùng
ngày, khi bà H đang ở nhà thì L lại điện thoại tiếp cho bà H mượn thêm 50.000.000
đồng cho ông N, H hỏi lại là sao không ợn một lần mượn lắt nhắt, thì
L trả lời mượn để ông N trả nợ, H đồng ý và tiếp tục chuyển số tiền
50.000.000 đồng cho ông N, stiền này không viết giấy. Khoảng 02 ngày sau thì
ông Anh N trả lại cho H số tiền 750.000.000 đồng trên, trả bằng tiền mặt
H xé giấy vay giữa H và ông N. Do đó, H khẳng định khoản vay
700.000.000 đồng ông N vay của Lương Công T (vay tiền mặt) không liên
quan gì đến khoản vay 750.000.000 đồng mà ông N vay của bà H (chuyển khoản).
Tiếp đó, gần trưa ngày 13/02/2023 L điện thoại cho H hỏi ợn tiền,
thì H hỏi mượn cho ai (vì lúc đó H thấy L không còn tài sản), thì L nói
G (em của L) mượn 750.000.000 đồng, H biết G tài sản nên H nói T
còn tiền ở nhà đó”. Tại nhà H có H, L, G thì H điện thoại cho T
T đồng ý cho mượn dặn H lấy tiền trong phòng của T để đưa cho G
mượn số tiền 750.000.000 đồng (bảy trăm năm ơi triệu đồng). Khi cho ợn
thì các bên có viết giấy, bà G ký trước rồi T về sau, bà H người giao tiền mặt
số tiền 750.000.000 đồng cho bà G, bà L. Như vậy, bà H xác định ngày 13/02/2023
H là người giao số tiền 750.000.000 đồng bằng tiền mặt cho bà G vay, đây là số
tiền T cho bà G vay chứ không phải là tiền của bà H.
Đối với việc, ngày 02/3/2023 G chuyển khoản cho H số tiền
500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), G cho rằng đây tiền G chuyển
trả nmột phần trong số tiền 750.000.000 đồng thì H hoàn toàn không đồng ý.
Bởi vì, thông qua bà L (người làm ăn với bà H từ lâu), bà G có vay mượn của bà H
nhiều lần, các lần vay đều có giấy tờ, mỗi lần trả xong nợ thì đều giấy vay tiền.
Do đó, ngày 02/3/2023 G có chuyển khoản cho H số tiền 500.000.000 đồng
(Năm trăm triệu đồng) thì đây tiền G nợ riêng H không liên quan gì đến
khoản tiền bà G nợ ông T.
* Quá trình gii quyết v án người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan
Th M L trình bày:
Ngày 09/02/2023 L (con gái ông Anh N) nhận được cuộc gọi của cán
bộ tín dụng A là ông Nguyễn Viết T1 về khoản vay GCNQSD đất thuộc thửa đất
số 504, tờ bản đồ số 04, diện tích 117m
2
; địa chỉ: thị trấn P, huyện K không đáo
hạn được khoản vay trên, buộc phải rút tất toán sang tên tặng cho lại em gái L
(ThG) mới thể tiếp tục vay tiền, sau khi L nói chuyện bàn bạc với
cán bộ tín dụng thì L được cán bộ n dụng A giới thiệu Võ Thị Thúy H m
dịch vụ cho vay đáo hạn Ngân hàng làm bìa theo yêu cầu, nên L đã người
6
trực tiếp gọi điện cho bà H và trao đổi với bà về món vay của ông N, tại Ngân hàng
A. Sau đó bà H gọi xác minh lại tín dụng ACB một lần nữa thì bà H gọi lại cho
L đồng ý cho ông N vay để rút bìa sang tên dịch vụ làm (bao gồm cho ông N
mượn tiền và sang tên bìa để vay lại).
Sau đó H gọi hẹn L ông N ra viết giấy mượn tiền tại quán G2, thị
trấn P lúc khoảng 14h chiều ngày 09/02/2023. Trong quá trình ông N viết giấy vay
mượn tiền số tiền 700.000.000 đồng, L phát hiện người cho vay không phải tên
Thị Thúy H giấy vay tiền mang tên Lương Công T (bà L hỏi tại sao
người cho vay tiền không phải tên H mà lại tên khác thì H nói rằng H
con trai là một). Nên ông N cũng tin tưởng đã ký giấy vay tiền, sau khi viết giấy nợ
xong H chuyển khoản o tài khoản ông Anh N số tiền 700.000.000 đồng,
khoảng sau 20 phút chuyển tiền L lại tiếp tục nhận cuộc gọi của tín dụng A
báo 700.000.000 đồng không đủ tất toán bìa số này thiếu 50.000.000 đồng, nên bà
L gọi H vay tiền 50.000.000 đồng (không viết giấy), H đồng ý chuyển
khoản o tài khoản ông Anh N thêm số tiền 50.000.000 đồng, sau khi đủ số
tiền bà H chuyển khoản 02 lần 750.000.000 đồng, (thì tất toán bìa số 4, thửa số 504
L người cầm bìa giao lại cho H đi xóa thế chấp), việc này chuyển
khoản cho bà H 2.000.000 đồng để xoá thế chấp và công chứng Hợp đồng tặng cho
QSD đất, đến ngày 14/02/2023 chuyển tiếp cho H tiền để đi làm Giấy CNQSD
đất sang tên cho bà G là 3.000.000 đồng.
Trong quá trình trên bà H L không hề vay hay mượn không quen
biết mặt, thậm chí cũng không giao dịch qua lại với anh Lương ng T này. L
người giao bìa xong thì H người nhận làm bìa soạn hồ công chứng tặng
cho bìa s4, thửa số 504 cho em gái bà L ThHà G tại phòng C1. Sau khi
công chứng xong H đưa bìa đến CN VPĐKĐ đai huyện K thì bà hẹn bà L và bà
G ngay cổng Phòng Tài Nguyên yêu cầu bà Thị G nhận lại món vay
750.000.000 đồng, phần tích sau khi công chứng xong ba con (ông N) hết
đứng tên bìa nghĩa là tài sản thuộc về con nên con phải nhận nợ thay ba” và em
G đã viết giấy vay nhận nợ tại Phòng Tài Nguyên Môi trường số tiền
750.000.000 đồng cũng 1 dấu hiệu người cho vay không phải H, mà con
trai Lương Công T. L cũng nói lại H thì bà H trả lời con và một,
nên bà G viết và ký giấy (Nội dung vay đáo hạn ngân hàng làm bìa).
Trong quá trình viết nhận nợ xong L xin lại giấy nợ của ông N vay
ngày 09/2/2023, nhưng bà H nói đã quên ở nhà về bà sẽ tự hủy. Tiếp quá trình làm
bìa xong thì L vẫn người trực tiếp lấy bìa đưa cho tín dụng A Nguyễn Viết
T1 làm hồ vay lại (lúc này bìa mang tên Lê Thị G). Số tiền vay lại được
520.000.000 đồng, vào lúc 14h10 phút ngày 02/3/2023 thì H gọi đòi tiền
gửi số TK A 170669739 cho L L đưa số TK này cho G chuyển tiền trả
cho H số tiền 500.000.000 đồng. Hiện tại G đứng tên bìa và chỉ nợ lại
7
250.000.000 đồng. Trong quá trình giao dịch bà L, ông N, bà G không hề quen biết
Lương Công T, chỉ làm việc trực tiếp với H. Ông N không còn nợ ông T
H bất kỳ khoản tiền nào. Do đó, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Lương Công T.
Tại Bản án dân sự thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 18/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk đã quyết định:
Áp dụng Điều 3, Điều 117, Điều 134, Điều 138, Điều 141, Điều 357, Điều
370, Điều 385, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban
Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Công
T.
1. Buộc ông Anh N nghĩa vụ trả cho ông Lương Công T tổng stiền
882.583.000 đồng (T2 trăm m mươi hai triệu, năm trăm tám mươi ba nghìn
đồng), trong đó: 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) nợ gốc 182.583.000
đồng (Một trăm tám mươi hai triệu, năm trăm tám ơi ba nghìn đồng) nợ lãi tính
đến ngày 18/9/2025.
2. Buộc bà Thị Hà G nghĩa vụ trả cho ông Lương Công T tổng số tiền
944.791.000 đồng (Chín trăm bốn mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi mốt nghìn
đồng), trong đó: 750.000.000 đồng (Bảy trăm m mươi triệu đồng) nợ gốc
194.791.000 đồng (Một trăm chín mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi mốt nghìn
đồng) nợ lãi tính đến ngày 18/9/2025.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
Ông Lê Anh N phải chịu 38.477.500 đồng (Ba mươi tám triệu, bốn trăm bảy
mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Thị G phải chịu 40.343.500 đồng (Bốn mươi triệu, ba trăm bốn
mươi ba nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Hoàn trả cho ông Lương Công T 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng)
tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0005801 ngày 29 tháng 5
năm 2024 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu số AA/2023/0006169 ngày 25 tháng 10 năm 2024 đều của Chi
8
cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực
4 Đắk Lắk).
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên quyền kháng cáo quyn yêu cầu thi
hành án dân sự cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Về kháng cáo:
Ngày 29/9/2025, b đơn Th G ông Anh N đều kháng o
toàn b bn án dân s thẩm, đề ngh Tòa án cp phúc thm hu toàn b bn án
dân s thẩm nêu trên đ xét x li Giy vay tin lp ngày 09/02/2023 gia
ông N vi ông T và Giy vay tin lp ngày 13/02/2023 gia G vi ông T ch
mt.
* Ti phiên toà phúc thm:
Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Anh N
và bà Lê Thị Hà G giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và các bên đương sự đưa ra
ý kiến, lập luận như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án Toà án cấp
thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa ý kiến
như sau:
- Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư Tòa án cũng như các đương sự đã tuân thđúng quy định của Bluật tố
tụng dân sự.
- Về nội dung: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Anh N bà Thị G
không căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn
kháng cáo của ông N, G giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự thẩm
số 31/2025/DS-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các i liệu trong hồ vụ án được xem xét tại phiên
tòa căn cứ o kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự,
quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc
thẩm trong thời hạn luật định kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục
phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lê Anh N Lê Thị G, thì
thấy:
[2.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, bên phía nguyên đơn phía bị đơn
đều xác định vào ngày 09/02/2023 bị đơn ông Lê Anh N có ký “Giấy vay tiền” của
ông Lương Công T, cụ thông N vay số tiền của ông T 700.000.000 đồng, mục
đích vay để đáo hạn Ngân hàng, thời hạn vay từ ngày 09/02/2023 (dương lịch)
9
đến ngày 19/02/2023 (dương lịch) tiếp đến vào ngày 13/02/2023 bị đơn
Thị G Giấy vay tiền” của ông Lương Công T với số tiền G vay của
ông T là 750.000.000 đồng, mục đích vay (đáo hạn làm bìa) trả tiền Ngân hàng,
thời hạn vay từ ngày 13/02/2023 (dương lịch) đến ngày 28/02/2023 (dương lịch).
Bị đơn ông N, G đều thừa nhận chữ tại mục Người vay tiền” trong “Giấy
vay tiền’ nêu trên là của ông N (theo Giấy vay tiền ghi ngày 09/02/2023) và của bà
G (theo Giấy vay tiền ghi ngày 13/02/2023). Như vậy, Toà án cấp thẩm xác
định hai “Giấy vay tiền” nêu trên là tình tiết khách quan của vụ án, có giá trị chứng
minh theo Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.
[2.2] Bị đơn ông N và bà G đều cho rằng để tiền đáo hạn Ngân hàng nên
ngày 09/02/2023 ông N vay của bà Thị Thúy H tổng số tiền 750.000.000 đồng,
theo hình thức chuyển khoản (lần 01 chuyển 700.000.000 đồng, lần 02 chuyển
50.000.000 đồng) nhưng H lại yêu cầu ông N vào “Giấy vay tiền” do ông
ơng Công T (con trai của bà H) đứng tên người cho vay, vì tin tưởng lời nói của
bà H là bà với con trai của bà là một nên ông N đã ký vào “Giấy vay tiền” nêu trên.
Sau đó, không thể đáo hạn Ngân ng n theo lời H thì ông N đã tất toán
khoản vay thực hiện thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho G (con gái ông
N) đối với thửa đất số 504, tờ bản đồ số 4, diện tích 117m
2
(theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất sCI 156788 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày
19/10/2017). Sau khi G được tặng cho quyền sử dụng đất thì G lại
“Giấy vay tiền” vào ngày 13/02/2023 (Theo G trình bày thì việc lại “Giấy
vay tiền” nhằm mục đích nhận lại khoản vay của ông N với H vào ngày
09/02/2023 nên “Giấy vay tiền” ghi ngày 09/02/2023 không còn giá trị), sau đó
G đã chuyển khoản trả nợ cho H số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 02/3/2023
nên bà G chỉ còn nợ lại số tiền 250.000.000 đồng.
[2.3] Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Thị Thúy H không
thừa nhận khoản tiền mà H chuyển khoản cho ông N vay số tiền 750.000.000
đồng khoản tiền đã được ghi trong “Giấy vay tiềnvay của ông ơng Công T
vào ngày 09/02/2023, mà số tiền 750.000.000 đồng này là khoản tiền vay riêng biệt
giữa ông N với bà H và bà H xác định số tiền 750.000.000 đồng này thì khoảng 02
ngày sau ông N đã trả lại cho H bằng tiền mặt nên H xé giấy vay giữa H
ông N. Đồng thời ông T cũng không thừa nhận lời trình bày của bên phía bị
đơn.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, tại thời điểm viết và ký Giấy vay tiền”
giữa ông T với ông N vào ngày 09/02/2023 với G vào ngày 13/02/2023 thì
ông N, bà G đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ông bà đều biết rõ “Giấy vay tiền”
thể hiện bên người cho vay là ông T chứ không phải là bà H (mẹ của ông T) nhưng
ông N, G vẫn đồng ý vào Giấy vay tiền”, đồng thời H không thừa nhận
lời trình bày của ông N, bà G mà H xác định tại thời điểm xác lập “Giấy vay
10
tiền” thì ông T không có mặt nhưng số tiền bà H đưa trực tiếp cho ông N, bà G vào
các ngày 09/02/2023, 13/02/2023 là số tiền của ông T.
Mặt khác, tại Công văn số 4189/CV-TT.25 ngày 31/3/2025 của Ngân hàng
TMCP Á xác định: Ông Nam tất toán khoản vay vào ngày 13/02/2023, stiền tại
thời điểm tất toán 360.000.000 đồng tiền gốc 69.266.356 đồng tiền lãi. Như
vậy, ông N cho rằng số tiền 750.000.000 đồng ông vay của H để trả nợ đáo
hạn Ngân hàng không phù hợp, hơn nữa đối với tổng số tiền 750.000.000 đồng
H chuyển khoản cho ông N vay vào ngày 09/02/2023 thì H xác định số
tiền này là số tiền ông N vay riêng của ông N đã thanh toán đầy đủ tiền cho
bà. Đồng thời ông N cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh về số tiền
mà bà H chuyển khoản cho ông N và số tiền ông T khởi kiện là một. Ngoài ra, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 156788 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đ cấp ngày 19/10/2017, thì đến ngày 22/02/2023 thửa đất này được Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai huyện K chỉnh lý biến động người sử dụng đất cho
Thị G (bà G được tặng cho quyền sử dụng đất). Tuy nhiên, tại thời điểm
G được công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 504, tờ bản đồ số 4 tại thị
trấn P thì được phát sinh sau khi G ký “Giấy vay tiền” của ông T (ngày
13/02/2023); đồng thời, tại “Giấy vay tiền xác lập vào ngày 13/02/2023 giữa ông T
với Gkhông thể hiện nội dung nào được xác định G nhận nợ thay cho
ông N hoặc “Giấy vay tiền ngày 13/02/2023” được thay thế cho “Giấy vay tiền
ngày 09/02/2023” tại 02 Giấy vay tiền” đều sự khác nhau vsố tiền vay
(ông N vay 700.000.000 đồng, còn bà G vay 750.000.000 đồng) thời hạn trả nợ
(ngày 19/02/2023 và 28/02/2023). Như vậy, bị đơn ông N, bà G không chứng minh
được việc đã chuyển giao nghĩa vụ đối với khoản vay ngày 09/02/2023 cho nên
không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của ông N, bà G.
[3]. Đối với số tiền 500.000.000 đồng, bị đơn G cho rằng đã chuyển
khoản cho H để trả một phần khoản vay 750.000.000 đồng vào ngày
09/02/2023. Tuy nhiên, H không thừa nhận việc nhận số tiền 500.000.000 đồng
để trả nợ cho ông T đây khoản vay riêng giữa H với bà G. Đồng thời,
ông T cũng khẳng định ông N, G chưa trả khoản tiền nào cũng không uỷ
quyền cho H được nhận tiền thay. Mặt khác, bđơn ông N, G cũng không
cung cấp được n bản o chứng minh cho việc ông T uỷ quyền cho H nhận
tiền thay để cấn trừ vào khoản tiền vay của ông T. Do đó, không có căn cứ để khấu
trừ số tiền 500.000.000 đồng vào khoản vay 750.000.000 đồng này, trường hợp
giữa bà G với bà H xảy ra tranh chấp đối với số tiền mà bà G chuyển khoản cho bà
H thì bà G hoặc H được quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
[4]. Vlãi suất: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên Bản án thẩm đã
căn cứ khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự để buộc bị đơn ông N, bà G phải chịu
11
lãi suất của khoản tiền vay, thời gian tính lãi từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nđến
ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/9/2025), mức lãi suất là 10%/năm là phù hợp.
[5]. Từ phân tích nêu trên, có đủ skhẳng định Bản án thẩm đã chấp
nhận đơn khởi kiện của ông Lương Công T, buộc ông Anh N nghĩa vụ trả
cho ông Lương Công T số tiền nợ 882.583.000 đồng (trong đó n gốc
700.000.000 đồng tiền lãi 182.583.000 đồng) buộc Lê Thị G nghĩa
vụ trả cho ông Lương Công T số tiền nợ 944.791.000 đồng (trong đó nợ gốc
750.000.000 đồng tiền lãi 194.791.000 đồng) căn cứ phợp với quy
định của pháp luật. Do đó kháng cáo của ông Anh N Thị G
không có căn cứ chấp nhận.
[6]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
bị đơn ông Lê Anh N và Lê Thị Hà G mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm.
[7]. Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Anh N, bà Thị
G.
- Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày
18/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk.
Áp dng Điều 3, Điều 117, Điều 134, Điều 138, Điều 141, Điều 357, Điều
370, Điều 385, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân snăm 2015; khoản 2
Điều 26 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Công T.
1.1/ Buộc ông Anh N nghĩa vụ trả cho ông Lương Công T với tổng số
tiền 882.583.000 đồng (T2 trăm tám mươi hai triệu, năm trăm tám mươi ba nghìn
đồng), trong đó: 700.000.000 đồng nợ gốc 182.583.000 đồng nợ lãi tính đến
ngày 18/9/2025.
1.2/ Buộc Thị G nghĩa vụ trả cho ông Lương Công T với tổng
số tiền 944.791.000 đồng (Chín trăm bốn mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi mốt
nghìn đồng), trong đó: 750.000.000 đồng nợ gốc 194.791.000 đồng nợ lãi tính
đến ngày 18/9/2025.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
12
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Về án phí:
2.1/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Anh N phải chịu 38.477.500 đồng (Ba mươi tám triệu, bốn trăm
bảy mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- ThG phải chịu 40.343.500 đồng (Bốn mươi triệu, ba trăm bốn
mươi ba nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại cho ông Lương Công T 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu
đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu s AA/2023/0005801 ngày
29/5/2024 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu số AA/2023/0006169 ngày 25/10/2024 đều của Chi cục thi hành
án dân shuyện Krông Pắc (Nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 Đắk
Lắk).
2.2/ Án phí dân sự phúc thẩm:
- Bị đơn ông Lê Anh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) ông N đã nộp (bà Thị Mỹ L nộp thay) vào ngày
08/10/2025 theo Biên lai thu số 0001750 tại Thi hành án dân s tỉnh Đắk Lk.
- Bị đơn bà Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà G đã nộp (bà Thị Mỹ L nộp thay) vào ngày
08/10/2025 theo Biên lai thu số 0001751 tại Thi hành án dân s tỉnh Đắk Lk.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi nh án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 của
Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:TM. HỘI ĐNG XÉT X PHÚC THM
- TANDTC tại Đà Nẵng;THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lk;
- TAND khu vc 4 Đắk Lk;
- Thi hành án dân s tỉnh Đắk Lk;
- Phòng THADS khu vc 4 Đắk Lk;
- Các đương sự;
- Công thông tin điện t Tòa án;
13
- Lưu hồ sơ vụ án. Y Phi Kbuôr
Tải về
Bản án số 176/2026/DS-PT Bản án số 176/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 176/2026/DS-PT Bản án số 176/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất