Bản án số 89/2026/DS-PT ngày 28/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 89/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 89/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 89/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 89/2026/DS-PT ngày 28/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 89/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Trương Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thu hồi Giấy chứng nhận QSD đất, công nhận cho bà H diện tích 1.379,2m2, thửa đất số 1579, tờ bản đồ số 10, buộc ông M1 giao trả phần đất nêu trên để bà H quản lý sử dụng. Sau đó, bà H được biết thửa đất số 1579, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.379,2m2 đã được Nhà nước thu hồi một phần để làm đường cao tốc và bồi thường cho ông M1. Do đó, bà H yêu cầu được nhận tiền bồi hoàn thửa đất số 1579, tờ bản đồ số 10, diện tích và tiền bồi hoàn bao nhiêu thì bà H chưa biết (vì không có hồ sơ bồi hoàn). Phần diện tích đất còn lại không bị thu hồi theo kết quả đo đạc là 247,5m2 thuộc một phần thửa đất số 1579, tờ bản đồ số 10. Do đó, bà H yêu cầu hộ ông M1 giao trả diện tích 247,5m2 thuộc một phần thửa đất số 1579, tờ bản đồ số 10, xã M để bà H quản lý, sử dụng. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 89/2026/DS-PT
Ngày: 28-01-2026
V/v “Tranh chấp QSD đất; thu hồi
Giấy chứng nhận QSD đất và đòi
tiền bồi thường, hỗ trợ về đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tn Li.
Các Thẩm phán: Bà Kiều Kim Xuân.
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Công Danh - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07/01/2026 và ngày 28/01/2026 tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số:
752/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp về QSD
đất; thu hồi Giấy chứng nhận QSD đất và đòi tiền bồi thường, hỗ trợ về đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực M - Đng Tháp bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 710/2025/QĐ-PT
ngày 10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trương Thị H, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đng Tháp (nay là xã M, tỉnh Đng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị H: Anh Nguyễn Văn M,
sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đng Tháp (nay là Ấp E, xã
Đ, tỉnh Đng Tháp), theo Hp đng ủy quyền ngày 05/01/2026 (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Trương Thị
H: Luật sư Lê Ngọc T - Văn phòng Luật sư Lê Ngọc T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh
Đ (có mặt).
2. Bị đơn: Vũ Văn M1, sinh năm 1967 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đng Tháp (nay là xã M, tỉnh Đng Tháp).
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Trương Thị X, sinh năm 1971 (có mặt);
3.2. Vũ Thị Cẩm T1, sinh năm 1990 (vắng mặt);
3.3. Vũ Văn Dương K, sinh năm 1993 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đng Tháp (nay là xã M, tỉnh
Đng Tháp).
3.4. Trung tâm Phát triển quỹ đt - Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ
(vắng mặt);
Địa chỉ trụ sở: Số A, đường L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đng Tháp
(nay là phường C, tỉnh Đng Tháp).
3.5. Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T;
Địa chỉ trụ sở: Khóm C, thị trn M, huyện T (nay là xã T), tỉnh Đng Tháp.
Cơ quan kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện T: UBND
xã M, tỉnh Đng Tháp;
Địa chỉ trụ sở: Ấp M, xã M, tỉnh Đng Tháp;
Người đại diện theo pháp luật của UBND xã M: Ông Lê Văn N, chức vụ:
Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn N: Ông Trịnh Đức H1,
chức vụ Phó Trưởng Phòng Kinh tế thuộc UBND xã M, theo Giy ủy quyền
ngày 05/01/2026 (vắng mặt, có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Bà Trương Thị H là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
- Nguyên đơn bà Trương Thị H ủy quyền cho anh Nguyễn Văn M đại
diện trình bày: Bà H là chị v của ông M1. Ngun gốc đt tranh chp là của
cha mẹ bà H tên Trương Văn X1 (chết năm 2003) và Trần Thị H2 (chết năm
2017). Cha, mẹ có tạo lập một phần đt, nhưng bà H không xác định đưc diện
tích, lúc cha mẹ còn sống thì đã chia đt cho các anh chị em; bà H không xác
định cho mỗi người diện tích bao nhiêu, còn riêng bà H thì đưc mẹ cho đt vào
năm 2001, diện tích 1.379,2m
2
, thửa đt số 1579, tờ bản đ số 10, loại đt cây
lâu năm, hiện trạng đt khi cho là một phần đt lúa và cái bờ sáng. Sau khi cho
đt, phần đt lúa bà H trng rẫy (rau, củ…), còn phần bờ bà H trng xoài từ năm
2001, khoảng năm 2001 hoặc năm 2002 bà H có mua lại cái nhà của cháu bà H
tên Trương Vũ H3 để ở, đến khoảng năm 2011, 2012, thì bà H không sử dụng
nữa; l do đi làm thuê ở Thành phố H Chí Minh. Trước đây, anh H3 không có
nơi ở nên mẹ bà H cho anh H3 ct nhà ở đậu, sau khi anh H3 có chỗ ở khác thì
anh H3 không ở nữa, nên bán nhà lại cho bà H giá 03 chỉ vàng 24Kra. Bà H đi
làm thuê thì nhà này con bà H ở, còn đt thì cho em tên Trương Văn Ú mưn sử
dụng. Không nhớ năm nào thì con bà H về sống chung với mẹ của bà H, còn nhà
thì bị hư sập, nên ông M1 có hỏi bà H xin cây về làm củi, thì bà H đng .
3
Trong thời gian ông Trương Văn Ú sử dụng đt thì ông Ú cho ông M1
mướn đt, khi cho mướn thì ông Ú không nói với bà H, khi bà H về thì ông Ú
mới nói là năm 2019, bà H không đng việc này. Trong khoảng thời gian từ
năm 2012 đến năm 2018, bà H đi làm thuê ở Thành phố H Chí Minh nhưng
vẫn thường xuyên về nhà mẹ bà H, nhà mẹ bà H và nhà bà H cách nhau khoảng
500m. Bà H không biết quy định của Nhà nước về cp Giy chứng nhận QSD
đt. Số cây xoài bà H trng thì ông M1 đã đốn, hiện nay còn cái nền nhà của bà
H và 01 cây xoài.
Bà Trương Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thu hi Giy chứng
nhận QSD đt, công nhận cho bà H diện tích 1.379,2m
2
, thửa đt số 1579, tờ bản
đ số 10, buộc ông M1 giao trả phần đt nêu trên để bà H quản l sử dụng. Sau
đó, bà H đưc biết thửa đt số 1579, tờ bản đ số 10, diện tích 1.379,2m
2
đã
đưc Nhà nước thu hi một phần để làm đường cao tốc và bi thường cho ông
M1. Do đó, bà H yêu cầu đưc nhận tiền bi hoàn thửa đt số 1579, tờ bản đ số
10, diện tích và tiền bi hoàn bao nhiêu thì bà H chưa biết (vì không có h sơ
bi hoàn). Phần diện tích đt còn lại không bị thu hi theo kết quả đo đạc là
247,5m
2
thuộc một phần thửa đt số 1579, tờ bản đ số 10. Do đó, bà H yêu cầu
hộ ông M1 giao trả diện tích 247,5m
2
thuộc một phần thửa đt số 1579, tờ bản
đ số 10, xã M để bà H quản l, sử dụng.
- Bị đơn ông Vũ Văn M1 trình bày: Không đng yêu cầu khởi kiện
của bà H. Vì ngun gốc đt tranh chp là của ông Trương Văn R, vào năm 1989
(ông R là cô cậu với bà H, ông R đã chết), ông M1 thỏa thuận hoa li mặt bằng
diện tích 1.379m
2
, giá 20 giạ lúa để nhận phần đt này với ông R, khi thỏa thuận
hoa li mặt bằng không có làm giy tờ. Do ông M1 chưa có nhu cầu sử dụng,
nên có cho cháu v tên Trương Vũ H3 xây dựng nhà ở đậu (không nhớ năm
nào). Anh H3 ở một thời gian thì bán nhà lại cho bà H (không có bán đt), bà H
ở trên đt khoảng 03 năm, trong thời gian này bà H có trng my cây xoài hột
(loại xoài ghép), xoài này tự chết chứ ông M1 không có đốn như lời trình bày
của bà H. Hiện nay, còn 01 cây xoài cát chu do trước đây anh H3 trng chứ
không phải bà H trng, khi bi thường cây do làm lộ cao tốc thì Trương Văn Ú
làm h sơ nhận bi hoàn cây này, sau đó ông Ú giao tiền cho bà H hơn
5.000.000 đng (vì bà H nói của bà trng), do không muốn tranh chp nên ông
Ú giao tiền cho bà H. Về diện tích đt 1.379,2m
2
thì trúng quy hoạch không hết
diện tích, còn lại khoảng 300m
2
, hiện trạng đt ông trng cây xoài. Phần bi
hoàn cây xoài trên đt thì ông M1 đã nhận tiền ri, số tiền hơn hai trăm triệu
đng, còn tiền bi hoàn đt thì ông chưa nhận, do đang tranh chp, ông đng
tạm ngưng nhận tiền bi hoàn đt, chờ kết quả giải quyết của Tòa án. Nếu bà H
có căn cứ chứng minh đt của bà H thì bà H đưc nhận tiền bi hoàn đt và ông
giao phần đt còn lại cho bà H. Giáp với thửa đt số 1579 là đt của mẹ v ông,
lúc mẹ v ông còn sống thì cho ông mướn luôn phần đt này, sau đó mẹ v chết
thì Trương Văn Ú cho ông mướn đt tiếp để canh tác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị X, chị Vũ Thị
Cẩm T1, anh Vũ Văn Dương K trình bày: Bà X, chị T1 và anh K thống nht
4
lời trình bày của ông M1, không có yêu cầu gì cho quyền li của mình đối với
thửa đt đang tranh chp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung tâm Phát triển quỹ
đất - Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ trình bày: Thửa đt số 1579, tờ
bản đ số 10, mang tên Vũ Văn M1 trúng vào quy hoạch đường C - Cao Lãnh
một phần diện tích, đã có chủ trương bi hoàn, chi tiền theo phê duyệt. Nhưng
do Tòa án có văn bản đề nghị tạm ngưng chi tiền bi hoàn đt cho ông M1. Do
đó, Trung tâm Phát triển quỹ đt - Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ tạm
giữ tiền bi hoàn đt, chờ kết quả Tòa án giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T trình bày:
UBND huyện T căn cứ Bản án (Quyết định) có hiệu lực pháp luật để thi hành và
đề nghị vắng mặt trong quá trình Tòa án các cp giải quyết vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 04/7/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Không chp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H.
2. Hộ ông Vũ Văn M1 có quyền đến cơ quan có thẩm quyền nhận tiền bi
thường, hỗ tr về thửa đt số 1579, tờ bản đ số 10, xã M theo quy định.
3. Về chi phí tố tụng: Bà Trương Thị H phải chịu chi phí tố tụng đã nộp
3.343.000 đng (ba triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đng).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị H phải chịu 31.610.000 đng
tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng đưc khu trừ 300.000 đng, theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001090 ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà Trương Thị H phải nộp thêm 31.310.000đ
(ba mươi một triệu ba trăm mười nghìn đng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền,
nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Trương Thị H nộp đơn kháng cáo
đề ngày 17/7/2025 yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết sửa toàn bộ bản án sơ
thẩm theo hướng chp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người bảo vệ quyền và li ích hp pháp cho nguyên đơn bà Trương Thị
H là Luật sư Lê Ngọc T trình bày: Yêu cầu Hội đng xét xử chp nhận kháng
cáo của bà H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chp nhận yêu cầu khởi kiện của
bà H để bà H đưc nhận tiền bi hoàn 616.029.000 đng và buộc hộ ông M1
giao trả diện tích đt còn lại 247,5m
2
thuộc một phần thửa 1579 để bà H quản l,
sử dụng. Bởi các căn cứ như: Theo văn bản kiến và lời khai của ông M1 tại
Tòa án cp sơ thẩm đều thể hiện ông M1 chỉ sử dụng đt tranh chp thửa 1579
từ năm 2015 khi cụ H2 chết cho đến nay; ông M1 không cung cp đưc tài liệu,
chứng cứ chứng minh ông trực tiếp sử dụng đt từ năm 1989 đến năm 2015. Bà
H đưc cha mẹ cho đt tranh chp năm 2001, khi anh H3 xây dựng nhà ở đậu (ở
nhờ) trên đt đã xin cha mẹ bà H là cụ X1, cụ H2 và bà H. Ông M1 thừa nhận bà
5
H có 01 cây xoài trên đt tranh chp, nên ông Ú kê khai đã để cho bà H đưc
nhận tiền bi thường cây xoài này, do đt của bà H nên bà H mới đưc nhận tiền
bi thường cây xoài trên đt, nếu đt của ông M1 thì không để ông Ú kê khai và
bi thường cho bà H. Theo Phiếu ly kiến của khu dân cư ngày 01/4/2024 thì
bà B không có k tên đưc thể hiện theo Giy xác nhận của bà B ngày
02/7/2025. Theo lời khai của những người làm chứng như ông R1, ông C, ông
H4 ngày 14/6/2025 đều xác định đt tranh chp có ngun gốc của ông Trương
Văn R, khi làm kênh thì Nhà nước ly đt tranh chp cp lại cho cụ X1 và cụ
H2, sau đó họ đã cho lại con là bà H.
- Nguyên đơn bà Trương Thị H ủy quyền cho anh Nguyễn Văn M đại diện
trình bày: Thống nht với lời bảo vệ của Luật sư Lê Ngọc T như nêu trên, anh M
không bổ sung gì thêm.
- Bị đơn ông Vũ Văn M1 và người có quyền li, nghĩa vụ liên quan bà
Trương Thị X, anh Vũ Văn Dương K trình bày: Không thống nht theo yêu cầu
kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị H như nêu trên. Xác định ngun gốc
đt tranh chp thửa 1579 là do ông M1 đã trả thành quả lao động (hoa li) cho
ông Trương Văn R vào năm 1989 và sử dụng đt ổn định từ đó cho đến nay, hộ
ông Vũ Văn M1 đã đưc Nhà nước cp Giy chứng nhận QSD đt năm 2024.
Ông M1, bà X và anh K yêu cầu Hội đng xét xử không chp nhận kháng cáo
của bà H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp phát biểu kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị H thực
hiện đúng quy định và hp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân
theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đng xét xử và Thư k phiên tòa kể từ khi thụ
l vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chp hành và thực hiện đúng, đầy đủ
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ
luật Tố tụng dân sự; không chp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị H;
tuyên xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 04 tháng 7
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực M - Đng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết
vụ án số: 323/PB-VKS-DS ngày 28/01/2025).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, đưc thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân Khu vực M - Đng Tháp thụ l và giải quyết
sơ thẩm vụ án “Tranh chấp QSD đất; thu hồi Giấy chứng nhận QSD đất và đòi tiền
bồi thường, hỗ trợ về đất” là đúng quy định tại khoản 2, 9 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chp và
thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà Trương Thị H không
6
thống nht bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc bà H nộp đơn kháng cáo vào ngày
17/7/2025 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự, nên đưc xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện hp pháp của UBND xã M vắng
mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn chị Vũ Thị Cẩm T1, đại diện hp pháp
của Trung tâm Phát triển quỹ đt - Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ vắng
mặt sau khi đưc Tòa án triệu tập hp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đng xét xử
tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Trương Thị H cho rằng đt tranh chp
thuộc thửa 1579, diện tích 1.379,2m
2
, tờ bản đ số 10, mục đích sử dụng đt
trng cây lâu năm do UBND huyện T cp cho hộ ông Vũ Văn M1 đứng tên Giy
chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đt ngày 07/6/2024 (viết tắt là đt tranh chp
hay thửa 1579) có ngun gốc là của cha mẹ bà H là cụ Trương Văn X1 (chết
năm 2003) và cụ Trần Thị H2 (chết năm 2017) cho bà H vào năm 2001 chỉ bằng
lời nói (bằng miệng) mà không lập thành văn bản. Sau khi đưc cho đt bà H
trng rẫy và trng xoài ở bờ đt, sau đó bà H mua lại căn nhà của cháu bà là anh
Trương Vũ H3 để ở. Vào khoảng năm 2011-2012 bà H đi làm thuê ở Thành phố
H Chí Minh đã để căn nhà lại cho con bà H sử dụng, còn đt thì cho em tên
Trương Văn Ú mưn sử dụng, ông Ú đã cho ông M1 thuê lại. Bà H khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết thu hi Giy chứng nhận QSD đt tranh chp đã cp
cho hộ ông Vũ Văn M1, công nhận đt tranh chp cho bà H quản l, sử dụng.
Do đt tranh chp đã đưc Nhà nước thu hi một phần để xây dựng công trình
đường C - C với diện tích 1.087,9m
2
và bi thường cho hộ ông Vũ Văn M1, nên
bà H yêu cầu đưc nhận tiền bi hoàn chi trả cho hộ ông M1 là 616.029.000
đng (bao gm bi thường, hỗ tr về đt thửa 1579 là 554.829.000 đng và các
khoản hỗ tr khác là 61.200.000 đng) và yêu cầu hộ ông M1 giao trả diện tích
đt còn lại 247,5m
2
thuộc một phần thửa 1579 để bà H quản l, sử dụng.
Bị đơn ông Vũ Văn M1 không thống nht với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn như nêu trên, ông M1 cho rằng đt tranh chp mà ông đang sử dụng
có ngun gốc là của ông Trương Văn R, ông R đã cho ông M1 trả hoa li mặt
bằng vào năm 1989 để ông M1 đưc QSD đt, với giá 20 giạ lúa nhưng các bên
không có làm giy tờ. Quá trình sử dụng đt ông M1 có cho cháu v là anh
Trương Vũ H3 xây dựng nhà để ở nhờ trên đt, sau đó bà H mua lại căn nhà của
anh H3 sử dụng khoảng 03 năm thì nhà sập, bà H không sử dụng nữa. Đt tranh
chp ông M1 đã sử dụng ổn định, lâu dài nên ông đăng k và đưc Nhà nước
cp Giy chứng nhận QSD đt cho hộ ông M1 năm 2024. Khi Nhà nước thu hi
đt đã bi thường cây trng trên đt cho ông, còn số tiền bi thường về đt thì
ông chưa nhận do có tranh chp với bà H, đối với diện tích đt 247,5m
2
còn lại
thuộc một phần thửa 1579 thì ông M1 đang quản l, sử dụng. Điều này đã làm
phát sinh tranh chp về QSD đt; thu hi Giy chứng nhận QSD đt và đòi tiền
bi thường, hỗ tr về đt giữa các đương sự.
[3] Hội đng xét xử xét thy việc Tòa án cp sơ thẩm không chp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị H như nêu trên là có
cơ sở. Bởi các căn cứ như sau:
7
- Bà H không cung cp đưc tài liệu, chứng cứ chứng minh đt tranh chp
thửa 1579 có ngun gốc là của cha mẹ bà là cụ Trương Văn X1 và cụ Trần Thị
H2 đã tặng cho bà vào năm 2001.
- Mặc dù ông M1 không cung cp đưc tài liệu thể hiện ông đã trả thành
quả lao động (hoa li) cho ông Trương Văn R để đưc sử dụng đt tranh chp
vào năm 1989. Nhưng xét quá trình sử dụng đt thể hiện ông M1 đã trng cây
trên đt không ai tranh chp và ông đã sử dụng đt tranh chp ổn định, lâu dài,
việc này bà H biết nhưng cũng không tranh chp. Đng thời, đt tranh chp đã
đưc UBND huyện T công nhận và cp Giy chứng nhận QSD đt cho hộ ông
M1 ngày 07/6/2024 phù hp với quy định của pháp luật. Ngoài ra, giáp với đt
tranh chp là đt của cụ H2 (mẹ bà H) và đt của bà Trương Thị B (chị bà H)
đều đưc cp Giy chứng nhận QSD đt. Do đó, việc bà H cho rằng không biết
chủ trương Nhà nước cp Giy chứng nhận QSD đt để bà đăng k là không phù
hp với thực tế.
- Đối với lời khai của người làm chứng là những người giáp ranh đt tranh
chp cũng như anh em ruột bà H như ông Trương Văn B1 và Trương Văn Ú đều
cho rằng ngun gốc đt là của ông R, do Nhà nước đào múc kênh 2000 nên đt
của ông R có một phần giáp với đt của cụ H2 (mẹ bà H, mẹ v ông M1), nhưng
ông R không sử dụng đã để lại cho ông M1 sử dụng. Theo lời khai người làm
chứng anh Trương Vũ H3 xác định khi anh xây dựng nhà trên đt tranh chp là
do anh xin ông M1 cho ở đậu (ở nhờ) trên đt của ông M1, sau đó do không có
nhu cầu ở nữa thì anh bán nhà lại cho bà H, còn đt vẫn là của ông M1, cho thy
lời khai của ông B1, ông Ú và anh H3 phù hp với nội dung ông M1 đã kê khai
để đưc Nhà nước cp Giy chứng nhận QSD đt, cụ thể đt có ngun gốc từ
ông R giao cho ông M1 sử dụng từ năm 1989, sau khi ông M1 trả hoa li cho
ông R. Vì vậy, đối với lời khai của người làm chứng như ông Trương Văn R1,
ông Nguyễn Thanh H4, ông Nguyễn Văn C cho rằng đt tranh chp có ngun
gốc của cụ D cho ông R, do ông R không sử dụng nên Nhà nước thu hi cp cho
cụ H2, sau đó cụ H2 cho lại bà H, xét trình bày này là không có đủ cơ sở chứng
minh, do không phù hp thực tế sử dụng đt tranh chp đã đưc Nhà nước công
nhận cho hộ ông M1.
Do đt tranh chp thửa 1579 thuộc QSD hp pháp của hộ ông Vũ Văn
M1, nên hộ ông M1 có quyền đến cơ quan có thẩm quyền nhận tiền bi hoàn, hỗ
tr về thửa đt số 1579 theo quy định.
[4] Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn M đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn bà Trương Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bà H, yêu cầu Tòa
án phúc thẩm giải quyết sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà H. Hội đng xét xử xét thy trình bày của anh M là không
đủ căn cứ, đng thời nguyên đơn cũng không cung cp đưc tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở như đã phân tích trên,
nên không đưc Hội đng xét xử chp nhận.
[5] Từ cơ sở trên, Hội đng xét xử không chp nhận yêu cầu kháng cáo
của bà Trương Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
8
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên, Hội đng xét xử xét thy là có cơ sở và phù hp pháp luật, nên
đưc chp nhận.
[7] Đối với đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và li ích hp pháp cho
nguyên đơn bà Trương Thị H, Hội đng xét xử xét thy là không có đủ cơ sở
như đã phân tích trên, nên không đưc chp nhận.
[8] Về án phí: Do kháng cáo của bà Trương Thị H không đưc chp
nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chp nhận kháng cáo của bà Trương Thị H;
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 04 tháng 7
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực M - Đng Tháp.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Trương Thị H phải chịu 300.000 đng án phí dân sự phúc thẩm, đưc
khu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đng, theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006743, ngày 18/7/2025 của Thi hành án dân
sự tỉnh Đng Tháp.
Trong trường hp bản án, quyết định đưc thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người đưc thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự đưc thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP. HCM;
- VKSND Tỉnh;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND Tỉnh;
- TAND Khu vực M;
- Phòng THADS Khu vực M;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Tấn Lợi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 03/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 03/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 28/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 27/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm