Bản án số 717/2026/DS-PT ngày 11/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 717/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 717/2026/DS-PT ngày 11/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 717/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 717/2026/DS-PT Bản án số 717/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 717/2026/DS-PT Bản án số 717/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 717/2026/DS-PT
Ngày: 12 - 8 - 2026
“V/v tranh chấp ủy quyền;
Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung
Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hưng Thẩm tra viên, Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Nguyễn Thị
Xa Riêng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 11 12 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số:
317/2026/TLPT-DS ngày 15 tháng 5 năm 2026 về "Tranh chấp hợp đồng ủy
quyền; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2026/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 5 - tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 647/2026/QĐ-PT
ngày 30 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1982.
Số CCCD: ************;
Địa chỉ: Số B, ấp P, G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây A, huyện C,
tỉnh Bến Tre).
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1964
(có mặt).
Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường B, tỉnh Vĩnh Long (trước đây
phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1970 (có mặt).
2
Số CCCD: ************;
Địa chỉ: Số A, khu phố P, phường S, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là T,
huyện C, tỉnh Bến Tre).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1986 (có mặt).
Số CCCD: ************;
3.2. Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).
Số CCCD: ************;
Cùng địa chỉ: Số I, khu phố T, phường P, tỉnh Vĩnh Long (trước đây
thành phố B, tỉnh Bến Tre).
3.3. Bà Đặng Thị D, sinh năm 1972 (có mặt).
Số CCCD: ************;
Địa chỉ: Số A, ấp P, G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là T, huyện C,
tỉnh Bến Tre).
3.4. Bà Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1983 (xin vắng mặt).
Số CCCD: ************;
Địa chỉ: Số A ấp N, xã M, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã M, huyện B,
tỉnh Bến Tre).
3.5. Ông Trần Thái D1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Số CCCD: ************;
Địa chỉ: Tổ F, khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai (trước đây
phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước).
3.6. Văn phòng C1 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số D; ấp A, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
4. Người kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh T1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bsung, bản tự khai, văn bản trình
bày ý kiến, biên bản hòa giải tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn trình bày:
Ngày 09/9/2019, anh Nguyễn Hoàng L nhận chuyển nhượng phần đất
thuộc thửa số 49, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại T huyện C, tỉnh Bến Tre, giá
chuyển nhượng 1.200.000.000 đồng, hợp đồng được Công chứng tại phòng
công chúng Kim Cương, phần đất này do anh Nguyễn Thanh T1 đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi hai bên giao kết hợp đồng chuyển nhượng
3
thì phía ông T1 ủy quyền cho anh Trần Thái D1 bằng hợp đồng ủy quyền
ngày 24/3/2019 được Công chứng tại Văn phòng C1 theo đó ông D1 được
thay mặt đại diện cho ông T1 quản lý, sử dụng, tên tặng cho, chuyển
nhượng, cho thuê, nhận tiền chuyển nhượng, tiền cho thuê... vậy, ông L
hợp đồng chuyển nhượng đất với người đại diện theo y quyền của anh
Nguyễn Thanh T1 là anh Trần Thái D1, đã giao đủ số tiền 1.200.000.000 đồng
cho ông D1 nhận ông D1 giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông
T1 đứng tên cho ông L giữ.
Cùng ngày 09/9/2019, ông L và người đại diện theo ủy quyền của ông T1
Hợp đồng thỏa thuận với nội dung: Ông L cho ông T1 trong thời hạn 6
tháng nếu nhu cầu chuộc lại đất thì cho chuộc với giá 1.200.000.000 đồng,
mỗi tháng phải đóng lãi là 48.000.000 đồng nhưng sau khi ký hợp đồng
chuyển nhượng hợp đồng thỏa thuận xong thì ông T1 đóng lãi được 01
tháng 48.000.000 đồng không tiếp tục đóng lãi nữa. Quá 06 tháng ông L
tiến hành thủ tục sang tên đất thì phát hiện ông T1 đã cớ mất giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và được cấp lại năm 2020.
Khi thỏa thuận chuyển nhượng ông D1 dẫn ông L đến chỉ một
miếng đất trống nằm phía bên kia con lộ so với đất hiện ông T1 quản sử
dụng. Hiện trạng đất ông L được ông D1 dẫn xem để nhận chuyển nhượng đất
là đất trống, không cây trồng, không có nhà trên đất. Ông D1 có nói với ông L
đất này đất thuộc quyền sử dụng của ông T1, ông T1 đã ủy quyền cho
ông D1 chuyển nhượng đất này. Sau khi xem giấy y quyền ông L mới quyết
định nhận chuyển nhượng. Sau này ông L mới biết phần đất ông D1 dẫn
ông L đi xem để nhận chuyển nhượng một phần đất khác không biết chủ
ai, còn đất ký chuyển nhượng trong hợp đồng là đất của ông T1 đang đứng tên
quyền sử dụng.
Thời điểm khi hợp đồng với ông D1 thi ông L cũng không biết ông
D1 đâu chỉ liên hệ qua điện thoại, sau khi hợp đồng ông D1 không đóng
tiền lài 48.000.000 đồng mỗi tháng như thỏa thuận, ông L điện thoại hỏi
ông Duy S không đóng tiền thì ông D1 nói đợi đến 6 tháng tông D1 sẽ
đóng một lần và chuộc lại đất luôn. Ông L chưa từng gặp mặt ông T1 và bà D,
cho đến khi khởi kiện mới biết mặt. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng ông L có
nghe phòng công chứng Kim C giải thích giấy y quyền tông D1 có
quyền bản, nên ông L mới mua đất.
Ông Nguyễn Hoàng L khởi kiện yêu cầu:
4
- Yêu cầu ông Nguyễn Thanh T1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số 4333, quyển số 06/2019TP/CC-SCC/GĐGD
ngày 09/9/2019, giao nhà và đất thuộc thửa số 49, tờ bản đồ số 06 tọa lạc xã T,
huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là phường S, tỉnh Vĩnh Long).
- Hủy giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất cấp ngày 03/3/2020 cho ông Nguyễn Thanh T1 đối với thửa số 49,
tờ bản đồ số 06 tọa lạc T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay phường S, tỉnh
Vĩnh Long).
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/3/2023 giữa ông
Nguyễn Thanh T1, Đặng Thị D với ông Nguyễn Hoàng V đối với một phần
thửa số 49, tờ bản đồ số 06 tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là phường
S, tỉnh Vĩnh Long).
- Hủy giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất cấp ngày 20/4/2023 cho ông Nguyễn Hoàng V đối với thửa số
471, tờ bản đồ số 06 tọa lạc T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay phường S,
tỉnh Vĩnh Long).
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 30/12/2024 giữa ông
Nguyễn Hoàng V với bà Nguyễn Ngọc L1 đối với thửa số 49, tờ bản đồ số 06
tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là phường S, tỉnh Vĩnh Long).
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thanh T1
và yêu cầu độc lập của bà Đặng Thị D thì yêu cầu Tòa án giải quyết ông T1
nghĩa vụ trả lại tiền và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định.
Về kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá: Đồng ý, không có
ý kiến yêu cầu gì khác.
Về chi phí tố tụng: Giải quyết theo quy định pháp luật.
Theo đơn phản tố, bản tkhai, văn bản trình bày ý kiến, biên bản a
giải và tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh T1 trình bày:
Ông Nguyễn Thanh T1 không biết ông L là ai, cũng chưa từng thỏa thuận
chuyển nhượng đất cho ông L, không ủy quyền cho ông D1 thực hiện việc
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông T1 biết ông D1 cho
vay tiền nên hẹn gặp tại quán phê ông T1 vay của Trần Thái D1
30.000.000 đồng. Vào tháng 3 năm 2019, tại một quán phê ông D1 đưa
yêu cầu ông T1 ký, lăn tay phía dưới một tờ giấy trắng mới vay được tiền,
5
ông D1 nói sẽ viết vào nội dung vay tiền sau và ông T1 đã giao bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D1 giữ, thỏa thuận trả tiền vay trong
vòng 18 tháng mỗi tháng trả 2.000.000 đồng. Khi nào trả tiền xong thì ông T1
sẽ lấy lại giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Ông T1 xác định không
hợp đồng y quyền với ông D1 tại văn phòng công chứng. Ông T1 trả tiền
cho ông D1 được 06 tháng thì ông D1 bỏ địa phương đi, lúc này mới biết ông
D1 ký chuyển nhượng phần đất của ông T1 cho người tên X. Ông làm đơn
tố cáo ông D1 đến công an thì công an không nhận giải thích thuộc thẩm
quyền của Tòa án. Sau đó, ông T1 điện thoại cho ông D1 nhiều lần không
liên lạc được nên ông T1 đã đi làm đơn mất giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và được cấp lại. Sau khi xét xử phúc thẩm lần 1 xong, vào năm 2023,
ông Nguyễn Hoàng V nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Thanh T1 phần đất
thuộc một phần thửa số 49, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc phường S, tỉnh nh
Long. Ông V đã giao đtiền cho ông T1, đã vào quản sử dụng đất được
cấp giấy chứng nhận QSD đất vào năm 2023, đất ông V nhận chuyển nhượng
hiện thuộc thửa số 471, tbản đồ số 6. Ông D1 phải trách nhiệm trả tiền
cho ông L. Đối với số tiền vay 30.000.000 đồng, hiện tại còn n12 tháng
24.000.000 đồng, ông T1 đồng ý trả 24.000.000 đồng đã bao gồm tiền lãi.
Ông Nguyễn Thanh T1 có đơn phản tố, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy hợp đồng ủy quyền ngày 24/3/2019 giữa ông Nguyễn Thanh T1
với ông Trần Thái D1.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 4333, quyển số
06/2019TP/CC-SCC/GĐGD ngày 09/9/2019, giao nhà đất thuộc thửa số
49, tờ bản đồ số 06 tọa lạc T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là phường S, tỉnh
Vĩnh Long).
- ng nhận hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/3/2023 giữa ông
Nguyễn Thanh T1, Đặng Thị D với ông Nguyễn Hoàng V đối với thửa số 471,
tờ bản đồ số 06 tọa lạc T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay phường S, tỉnh
Vĩnh Long).
- Không ý kiến v hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày
30/12/2024 giữa ông Nguyễn Hoàng V với bà Nguyễn Ngọc L1 đối với thửa
số 471, tờ bản đồ số 06 tọa lạc T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay phường S,
tỉnh Vĩnh Long).
6
Về kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá: Đồng ý, không có
ý kiến yêu cầu gì khác.
Về chi phí tố tụng: Giải quyết theo quy định pháp luật
Theo đơn yêu cầu độc lập, biên bản hòa giải, bản tự khai và tại phiên tòa,
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đặng Thị D trình bày:
Phần đất tranh chấp tài sản chung vchồng được mẹ chồng cho trong
thời kỳ hôn nhân. D ông T1 đã cất nhà kiên cố trên đất sau khi kết hôn
trước khi mẹ sang tên đất. Đến năm 2013, thì được mẹ chồng sang tên cho
ông T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông T1 nếu
giấy ủy quyền này thì cũng không hợp lệ, chưa đủ điều kiện đông D1
chuyển nhượng, chưa chữ của D. Thực tế ông T1 chỉ vay tiền của
ông D1 như ông T1 đã trình bày. Đặng Thị D yêu cầu độc lập yêu cầu
Tòa án hủy hợp đồng uỷ quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ký giữa ông T1 với ông D1 và giữa ông D1 với ông L. Về hậu quả của hợp
đồng bị hủy, vô hiệu đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá: Đồng ý, không có
ý kiến yêu cầu gì khác.
Về chi phí tố tụng: Giải quyết theo quy định pháp luật
Theo biên bản làm việc, biên bản hòa giải, người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Hoàng V trình bày:
Vào m 2023, ông Nguyễn Hoàng V nhận chuyển nhượng từ ông
Nguyễn Thanh T1 phần đất diện tích 1.125m2 với giá 150.000.000 đồng
thuộc một phần thửa số 49, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc phường S, tỉnh Vĩnh
Long. Ông V đã giao đtiền cho ông T1, đã vào quản sử dụng đất được
cấp giấy chứng nhận QSD đất vào năm 2023, đất ông V nhận chuyển nhượng
hiện thuộc thửa số 471, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường S, tỉnh Vĩnh Long. Do
đã thỏa thuận chuyển nhượng đất với L1 trước khi Tòa án thụ vụ án
nên vào ngày 30/12/2024, ông V chuyển nhượng quyển sử dụng đất phần
đất nêu trên cho Nguyễn Ngọc L1 với giá 150.000.000 đồng, lập hợp
đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất công chứng theo quy định nhưng
chưa làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận QSD đất.
Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thống nhất yêu
cầu của ông T1 và bà D. Trường hợp Tòa án tuyên các hợp đồng của ông V
hiệu thì đề nghị giải quyết hậu quả theo quy định pháp luật.
7
Về kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá: Đồng ý, không có
ý kiến yêu cầu gì khác.
Về chi phí tố tụng: Giải quyết theo quy định pháp luật
Theo đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày:
Nguyễn ThHồng N vợ của ông Nguyễn Hoàng V, biết được sự việc
tranh chấp trong vụ án này, bà N thống nhất theo trình bày và yêu cầu của ông
V, không có yêu cầu gì khác và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Theo biên bản làm việc, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc L1 trình bày: Ngày 30/12/2024, ông V
chuyển nhượng quyển sử dụng đất phần đất nêu trên cho Nguyễn Ngọc
L1, lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng theo
quy định nhưng khi làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận QSD đất thì L1
mới biết phần đất đang tranh chấp. Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Ngọc L1 với ông Nguyễn Hoàng
V đối với phần đất thuộc thửa số 471, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường S, tỉnh
Vĩnh Long. Trường hợp Tòa án tuyên các hợp đồng của ông V hiệu thì đề
nghị giải quyết hậu quả theo quy định pháp luật.
Theo văn bản số 04 CV/VPCC ngày 09/3/2026; đơn yêu cầu vắng mặt,
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Hùng D2
trình bày:
Việc công chứng hợp đồng ủy quyền ngày 24/3/2019 số công chứng
1838, quyển số 01/2019 TP/CC/SCC/HĐGD giữa ông Nguyễn Thanh T1 với
ông Trần Thái D1 được thực hiện đúng quy định của Luật công chứng. Văn
phòng C2 hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/5/2019 của
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre xác định phần
đất thuộc thửa số 49, tờ bản đồ số 6, tọa lạc T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay
phường S, tỉnh Vĩnh Long) tài sản riêng của ông Nguyễn Thanh T1 do
được nhận tặng cho. Văn phòng C1 có yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thái D1 vắng mặt trong
suốt quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được lời trình bày.
Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2022/2022/DS-ST ngày 24/01/2022 của Tòa
án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã xử: Tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/9/2019 được giữa anh Nguyễn
Hoàng L Trần Thái D1 bị hiệu. Buộc anh Nguyễn Thanh T1 trách
8
nhiệm trả cho anh Nguyễn Hoàng L số tiền 1.514.190.000 đồng và số tiền chi
phí thu thập chứng cứ là 3.048.000 đồng.
Ngày 28/01/2022, anh Nguyễn Thanh T1 kháng cáo yêu cầu sửa án
thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 21/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có Quyết định
kháng nghị số 04/QĐKNPT-VKS-DS đối với bản án dân sự sơ thẩm số
05/2022/DS-ST ngày 24/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
theo hướng sửa bản án thẩm đối với phần của hợp đồng bị hiệu về việc
buộc anh Nguyễn Thanh T1 trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Hoàng L số
tiền 1.514.190.000 đồng. Đối với số tiền chuyển nhượng đất anh L đã giao cho
anh D1 thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Bản án dân sự phúc thẩm số 258/2022/DS-PT ngày 23/9/2022 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bến Tre đã xử: Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn
Hoàng L về việc yêu cầu anh Nguyễn Thanh T1 và chị Đặng Thị D tiếp tục
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/9/2019 được ký kết giữa anh Trần
Thái D1 và anh Nguyễn Hoàng L đối với thửa số 49, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại
T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Đặng Thị D
về việc yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền ngày 24/3/2019 hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/9/2019. Hủy hợp đồng ủy quyền ngày
24/3/2019 giữa anh Nguyễn Thanh T1 với anh Trần Thái D1, số công chứng
1838, quyển số 01/2019 TP/CC/HĐGD tại Văn phòng C1. Tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 09/9/2019 được ký giữa anh
Nguyễn Hoàng L và anh Trần Thái D1 hiệu toàn bộ. Đối với việc giải
quyết hậu quả của hợp đồng bị hiệu, nếu yêu cầu anh Nguyễn Hoàng L
có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
Quyết định giám đốc thẩm số 185/2024/DS-GĐT ngày 30/7/2024 của Ủy
ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết
định chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 20/2024/KN-DS ngày 14/5/2024
của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Hủy toàn
bộ bản án dân sự phúc thẩm s258/2022/DS-PT ngày 23/9/2022 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bến Tre và HỦy toàn bộ bản án dân sợ sơ thẩm số 05/2022/DS-
ST ngày 24/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre,
giữa nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng L bị đơn ông Nguyễn Thanh T1
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác: Giao hồ vụ án cho
9
Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định
của pháp luật.
Tại Bản án dân sự thẩm số 59/2026/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 5 - tỉnh Vĩnh Long đã xử:
Căn cứ: Các Điều 117; 122; 123; 124; 131; 408; 468; 500; 501; 502; 562;
569 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều
147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Điều 166; 167; 168; 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 12; Điều 26
Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2024 quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật đất đai; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng L; chấp
nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thanh T1; chấp nhận yêu cầu độc lập
của Đặng Thị D về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 3132.3 m
2
thuộc thửa
470; 471 (thửa số 49), tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại T, huyện C, tỉnh Bến
Tre (nay là phường S, tỉnh Vĩnh Long). Cụ thể:
1.1 Tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 24/3/2019 số công chứng
1838, quyển số 01/2019 TP/CC/SCC/HĐGD giữa ông Nguyễn Thanh T1 với
ông Trần Thái D1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 4333,
quyển số 06/2019TP/CC-SCC/GĐGD ngày 09/9/2019, đối với phần đất tổng
diện tích 3132.3 m
2
(loại đất tại nông thôn đất trồng cây lâu năm) thuộc
thửa 470; 471 (thửa số 49), tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại T, huyện C, tỉnh
Bến Tre (nay là phường S, tỉnh Vĩnh Long).
1.2 Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/3/2023 giữa
ông Nguyễn Thanh T1, Đặng Thị D với ông Nguyễn Hoàng V hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất ngày 30/12/2024 giữa ông Nguyễn Hoàng V với
Nguyễn Ngọc L1 đối với phần đất diện tích 1126,2m
2
(loại đất ở tại nông thôn
đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa 471 (một phần thửa số 49), tờ bản đồ
số 6, tọa lạc tại T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay phường S, tỉnh Vĩnh
Long).
10
1.3 Ông Nguyễn Thanh T1 được quyền tiếp tục quản lý sử dụng phần đất
diện tích 2118,4m
2
(loại đất tại nông thôn đất trồng cây lâu năm) thuộc
thửa 470 (một phần thửa số 49), tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại T, huyện C,
tỉnh Bến Tre (nay phường S, tỉnh Vĩnh Long) cùng nhà, công trình tài
sản trên đất.
1.4 Nguyễn Ngọc L1 được quyền quản sử dụng phần đất diện tích
1126,2m
2
(loại đất tại nông thôn đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa 471
(một phần thửa số 49), tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại T, huyện C, tỉnh Bến
Tre (nay phường S, tỉnh Vĩnh Long) cùng cây trồng trên đất. Nguyễn
Ngọc L1 tự liên hvới quan thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1126,2m
2
(loại đất ở
tại nông thôn đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa 471 (một phần thửa số
49), tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay phường S,
tỉnh Vĩnh Long) theo quy định pháp luật.
2. Hậu quả của hợp đồng hiệu: Buộc ông Nguyễn Thanh T1 và ông
Trần Thái D1 nghĩa vụ liên đới hoàn trả bồi thường cho ông Nguyễn
Thanh L2 tổng số tiền 1.514.190.000 (Một tỷ năm trăm mười bốn triệu một
trăm chín mươi nghìn) đồng.
Ngoài ra Bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ
thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 03/4/2026, Ông Nguyễn Thanh T1 kháng o Bản án dân sự
thẩm số 59/2026/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 5, tỉnh Vĩnh Long: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng ông T1 không
phải liên đới trả tiền cho ông Nguyễn Hoàng L.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Thanh T1 vẫn giữ yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo.
- Người đại diện của ông Nguyễn Hoàng L trình bày ông Nguyễn
Hoàng L ông Trần Thái D1 quen biết nhau, ông L cho ông D1 vay
tiền 1.200.000.000 đồng, lãi suất 48.000.000 đồng/tháng, thời hạn vay 6
tháng, ông D1 đóng lãi được 1 tháng 48.000.000 đồng thì không đóng
lãi. vậy, ngày 09/9/2019, ông Nguyễn Hoàng L nhận chuyển nhượng
phần đất thuộc thửa số 49, tbản đồ số 6, tọa lạc tại T huyện C, tỉnh Bến
Tre, giá chuyển nhượng 1.200.000.000 đồng, hợp đồng được Công chứng tại
phòng công chúng Kim Cương, phần đất này do ông Nguyễn Thanh T1 đứng
tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông L yêu cầu ông D1 cho gặp
11
ông T1 nhưng ông D1 không cho gặp, ông D1 cho ông L đi coi đất thì là đất
trống, Văn phòng C3 nói với ông L là ông T1 có ủy quyền cho ông D1 chuyển
nhượng nên ông D1 quyền bán nên ông L mới tin. Nay ông L không biết
ông D1 ở đâu, ông L không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông T1.
- Bà Đặng Thị D đồng ý với kháng cáo của ông Nguyễn Thanh T1.
- Ông Nguyễn Hoàng V không có ý kiến.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử người
tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308,
Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q;
Hủy bản án dân sự thẩm số 59/2026/DS-ST ngày 19/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long xét xử vụ án “Tranh chấp Hợp đồng ủy
quyền; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn là ông
Nguyễn Hoàng L với bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Thị Hồng N, bà Đặng
Thị D, bà Nguyễn Ngọc L1, ông Trần Ti D1, Văn phòng C1.
Chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh T1 không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ được thẩm tra tại
phiên tòa; Trên sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của
các đương sự; Căn cứ vào kết quả tranh luận phát biểu của đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thanh T1 n trong thời hạn theo quy
định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên được giải quyết
vắng mặt theo quy định Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
12
Tại phiên tòa, người đại diện cho nguyên đơn trình bày là ông Nguyễn
Hoàng L và ông Trần Thái D1 quen biết nhau nên ông L có cho ông D1 vay số
tiền 1.200.000.000 đồng, lãi suất 48.000.000 đồng/tháng, thời hạn vay 6 tháng.
Ngày 09/9/2019, ông Nguyễn Hoàng L nhận chuyển nhượng phần đất
thuộc thửa số 49, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại T huyện C, tỉnh Bến Tre, giá
chuyển nhượng 1.200.000.000 đồng, hợp đồng được Công chứng tại phòng
ng chúng Kim C, số tiền này là ông D1 vay của ông L nên mới ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất. Do đây là tình tiết mới nên cần phải xem
xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tranh chấp phải giả tạo
nhằm che giấu hợp đồng vay hay không mới giải quyết đúng vụ án. Hội đồng
xét xử phúc thẩm xét thấy không thể bsung, sửa chữa được để đảm bảo
quyền lợi của các đương sự được hai cấp xét xử n Hội đồng xét xử phúc
thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự thẩm, giao hồ về cho Tòa án cấp
thẩm xét xử lại theo thủ tục thẩm đúng quy định của pháp luật. Do phát
sinh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm nên cấp sơ thẩm không có lỗi do hủy án sơ
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Hủy bản án dân sự thẩm số 59/2026/DS-ST ngày 19/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long xét xử vụ án “Tranh chấp Hợp đồng ủy
quyền; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn là ông
Nguyễn Hoàng L với bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Thị Hồng N, bà Đặng
Thị D, bà Nguyễn Ngọc L1, ông Trần Thái D1, Văn phòng C1.
Chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả cho ông
Nguyễn Thanh T1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền số
0006074 ngày 03/4/2026 của Thi hành án dân stỉnh Vĩnh Long . Nghĩa vụ
chịu án pdân sự thẩm sđược xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ
tục sơ thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
13
- Tòa phúc thẩm TANDTC THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tại thành phố Hồ Chí Minh: 01;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;
- Chánh án: 01;
- TAND khu vực 5: 01;
- Phòng THADS khu vực 5: 01;
- Các đương sự;
- Lưu: 06; Nguyễn Văn Dũng
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thành Trung Nguyễn Thị Tư Nguyễn Văn Dũng
14
15
16
17
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 717/2026/DS-PT Bản án số 717/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 717/2026/DS-PT Bản án số 717/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất