Bản án số 97/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 97/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 97/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 97/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 97/2026/DS-PT
Ngày: 26 - 5 - 2026
V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang
Bà Dương Thịn
- Thư phiên tòa: Huỳnh Thị Ngọc Hiếu - Thư ký Tòa án, Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểmt viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Qung Ngãi
mphiên tòa xét xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ s133/2025/TLPT-DS
ngày 24 tháng 11 năm 2025, về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”.
Do bản án n sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s15/2026/QĐ-PT ngày
13/01/2026 Thông báo về việc mở li phiên tòa số 160 ngày 07/5/2026, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn T - sinh năm 1974.
- Bị đơn: Ông Đặng Văn T1 - sinh năm 1967.
Cùng cư trú tại thôn T, xã N, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn D - sinh năm 1957; trú tại thôn T, N, tỉnh Quảng
Ngãi.
Người bảo vquyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn D: Phm Thị
Kim P - Luật của n png L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số E
đường T, phường N, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bà Võ Thị Hồng C - sinh năm 1978;
3. Bà Nguyễn Thị S - sinh năm 1960;
4. Bà Nguyễn Thị T2 - sinh năm 1972;
Cùng cư trú tại thôn T, xã N, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn D người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
2
(Các ông, Nguyễn Tấn T, Đặng n T1, Nguyn D, Phạm Thị Kim P,
Thị Hồng C mt tại phiên tòa; Nguyễn Thị S yêu cầu xét xử vắng
mặt; bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2024, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày
21/8/2024, các tài liệu tại hồ vụ án tại phiên a thẩm, nguyên đơn
ông Nguyễn Tấn T trình bày: Nguyên thửa đất số 756, diện tích 234m
2
(đất
tại nông thôn), tờ bản đồ số 42, P, thị Đ (nay N), tỉnh Quảng Ngãi
(viết tắt thửa 756) nguồn gốc do vợ, chồng ông (vợ của ông Thị
Hồng C) nhận chuyn nhượng của ông T3, Lê Thị R vào năm 2007; cũng
trong năm 2007, vợ chồng ông làm nhà tạm để ở. Ngày 02/11/2010, ông và C
được Ủy ban nhân n (viết tắt UBND) huyện Đ cấp giấy chứng quyền sử
dụng đất, quyền sở hu nhà tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt
GCNQSDĐ) số phát nh BC 347654, số vào sổ CH 00040 đối với thửa 756.
m 2015, vchồng ông làm nhà kiên cố trên thửa 756 quản lý, sử dụng cho
đến nay. Do cạnh phía Đông của thửa 756 giáp với đường đi, nên vợ chồng m
nhà quay ra hướng Nam trên phần đất hành lang đường bộ, còn phía sau nhà
chừa khoảng 6m giáp đường đất với ý định để sau này làm thủ tục tách thửa 756
thành 02 thửa để cho con làm nhà ở. Năm 2015, ông Đặng n T1 tự ý đổ đất
sang lấp mt bằng lấn qua thửa 756 của vợ chồng ông để làm đám cưới cho con
gái; ông không nói nghĩ ông T1 cần mặt bằng để m đám cưới cho con,
nhưng sau đó ông T1 sdụng luôn; đầu năm 2024, ông T1 đổ tông trên phần
đất lấn qua thửa 756, ông ý kiến thì ông T1 nói rng ông nhận chuyển
nhượng đất ca ông Nguyễn D nên ông có quyền sử dụng; UBND P đã hòa
gii nhưng không thành. Diện ch đất ông T1 lấn sang thửa 756, theo kết quả đo
đạc thực tế 47m
2
, giới cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 774, phía Nam giáp
phần đất n li của thửa 756, phía Đông giáp đường đi, phía Tây giáp thửa đất
số 755. Nay, ông u cầu Tòa án giải quyết buộc ông T1 phải tháo dỡ nn xi
măng, trả lại diện tích đất 47m
2
đã ln chiếm thuộc thửa 756 cho ông.
Tại phiên tòa, ông yêu cầu được quản lý, sdụng phần đất ông T1 đã đổ
đất nâng nền, tráng xi măng trên phần din tích đất của ông và tự nguyn thanh
toán lại cho ông T1 số tiền đổ đất ng nền, tráng xi măng 20.000.000 đồng.
Về chi phí tố tụng khác, ông tự nguyện chịu.
* Tại đơn kiến nghị đề ngày 28/10/2024, các tài liệu tại hồ vụ án và
tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là ông Đặng Văn T1 trình bày:
Phần đất diện tích 47m
2
ông T đang tranh chấp với ông của ông
Nguyễn D thôn T, P, thị xã Đ (nay là N), tỉnh Quảng Ngãi; ông D là chú
phía vợ của ông. m 2015, ông D cho ông mượn phn đất này để san lấp mặt
bằng làm đám cưới cho con gái của ông; sau đó ông sử dụng luôn đến tháng
02/2024, ông có nhu cầu m n phơi n ông đã tráng xi măng làm nơi pi
a. Phần đất tranh chấp không phải của ông mà do ông D cho ông mượn (ông D
cho ông mượn chỉ bằng li i). Ông không biết phần đất tranh chấp của ai
3
(không phi đất của ông). Tòa án giải quyết đất tranh chấp thuộc về người nào
thì ông sẽ trả lại mặt bằng cho ngưi đó; trường hợp phần đất tranh chấp thuộc
quyền quản lý, sử dụng của ông T thì ông đồng ý giao lại phần đất đổ nâng nền,
tráng xi măng cho ông T quản , shữu, sử dụng nhận số tiền 20.000.000
đồng.
* Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 08/11/2024, các tài liệu tại
hồ sơ vụ án tại phiên tòa thẩm, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn D trình bày:
Phần đất mà ông T đang khởi kiện tại Tòa án, theo đo đạc thực tế din
ch 47m
2
phần đất ao, chiều sâu khoảng 02m, mộ tlâu; theo ông được
biết, đây là đất có nguồn gốc từ thời ông, bà của ông để lại, nhưng thể hiện trong
đồ qua các thời kỳ là đất nghĩa địa do UBND xã P quản lý.
Từ trước đến nay, ông người quản lý, sdụng toàn bộ diện tích đất này
nên m 2015, ông cho ông T1 đổ đất ng nên, m n che trại đám cưới
cho con, sau này ông T1 làm sân phơi; mọi việc diễn ra ông T gần đều biết
nhưng kng ý kiến gì, khi ông T làm nhà vệ sinh, lắp điều hòa cũng qua hỏi
mông ông để m. Tuy nhiên, ông không biết sao phần đất trên lại được
UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ cho ông T3; sau đó ông T3 chuyển nhượng
cho ông T. Phần đất diện tích 58m
2
, theo đo đạc thực tế 47m
2
hin ông T
đang tranh chấp vi ông T1 nằm trong thửa 756 đã được UBND huyện Đ cấp
đổi cho ông T, C vào năm 2010, không thuộc quyền quản , sử dụng của
ông, nhưng ông không thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông T. Ông đề nghị Tòa
án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thị Hồng C trình bày:
thống nhất với trình y u cu của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn T;
bà không trình bày ý kiến gì khác.
* Bản án dân sự thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi đã xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của ông Nguyễn Tấn T.
Buộc ông Đặng n T1 phải trả lại cho ông Nguyễn Tấn T, Võ Thị
Hồng C quyền sử dụng din tích 47m
2
đất thuộc thửa đất số 756, tờ bản đồ số
42, P, huyn Đ (nay là N), tỉnh Quảng Ngãi được giới hạn bởi các điểm
2,3,4,10,11,12 (ký hiệu B), (có đồ bản vẽ kèm theo một bộ phận kng
ch rời của bản án).
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông T ông T1, c thể: Ông T,
C được quyn sở hữu, sử dụng toàn bộ đất đổ, nền xi măng có diện tích 47m
2
được giới hạn bởi các điểm 2,3,4,10,11,12 (ký hiệu B); ông T, C tnguyện
thanh toán lại giá trị cho ông T1 số tiền 20.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm n tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, nghĩa
vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 08/9/2025, ông Nguyễn D đơn kháng o đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm hủy bản án số 05/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 ca Tòa án nhân n
khu vực 6 - Quảng Ngãi để giao lại cho Tòa án cấp thẩm xác minh làm
gii quyết cho đúng pháp lut, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho gia đình
4
ông.
* Tại phiên tòa, người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn
D trình y ý kiến tranh luận đề nghị Hội đồng xét xchấp nhận kháng cáo
của ông Nguyễn D, hủy bản án thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp
thm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thm.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Quảng Ngãi phát
biu ý kiến vviệc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng thực
hin đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hình thức, nội dung và thời hạn kháng cáo đúng quy định tại Điều 272,
273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: n ckhoản 1 Điu 308 Bộ luật Tố tụng n sự, đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn D; sửa bản án
thm, ghi nhận stự nguyện thỏa thuận giữa ông T và ông T1 vviệc ông T,
C tự nguyện thanh toán cho ông T1, T2 stiền 20.000.000 đồng; về án phí,
đề nghị giải quyết theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được kiểm tra, xem xét tại phiên a,
căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Quảng Ngãi, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về tố tụng: Ngày 26/8/2025, Tòa án nhân dân khu vự 6 Quảng
Ngãi tuyên án vụ án nêu trên. Ngày 08/9/2025, người có quyền li, nghĩa vụ liên
quan là ông Nguyễn D đơn kháng o còn trong thời hạn theo quy định tại
khoản 1 Điều 273 Bộ lut Tố tụng n sự, nên được chấp nhận xem xét, giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại Đơn đề nghị xem xét đề ngày 16/9/2025, Nguyễn Thị S cho
rằng phần đất đang tranh chấp diện tích 47m
2
thuộc quyền quản lý, sử dụng
của bà và ông Nguyễn D đề nghị Tòa án bổ sung vào tham gia tố tụng với
cách ngưi quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Để đảm bảo quyền lợi ích
hợp pháp của các đương sự theo quy định của pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm
bổ sung Nguyễn Thị S vào tham gia tố tụng với ch người có quyền
li, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Việc Tòa án cấp thẩm không xác định
Nguyễn Thị S người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án thiếu sót,
cần rút kinh nghiệm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T1 cho rằng nguồn tin đổ đất, tráng xi
măng tn phần đất tranh chấp của vợ chồng ông; vợ ca ông Nguyễn
Thị T2. Tại phiên tòa phúc thm, ông T1 đồng ý trường hợp Hội đồng xét xử giữ
nguyên bản án thẩm thì ông yêu cầu vợ chồng ông T thanh toán 20.000.000
đồng tiền đất đổ, tráng nền xi măng trên phần đất tranh chấp cho ông và T2;
ông T, C đồng ý với yêu cầu của ông T1. Xét thy, mặc T2 không
mặt tại phiên tòa, nhưng yêu cầu của ông T1 tự nguyện, không vi phạm điều
5
cấm của luật, không trái đạo đức hội và có lợi cho bà T2, Hội đồng xét xử ghi
nhận thống nhất bổ sung T2 vào tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[1.3] Ni quyền li, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị S u
cầu xét xử vng mt. Căn cĐiều 296 Bộ luật Tố tụng n sự, Hi đồng xét xử
tiến hành xét xử vắng mt bà Nguyn Thị S.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ngày 22/12/2003, hộ ông Nguyễn D được Ủy ban nhân n (viết tắt
là UBND) huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất
(viết tắt là GCNQSDĐ) thửa đất số 333, tờ bản đồ s8, diện tích 1.442m
2
(trong
đó 400m
2
đất và 1.042m
2
đất vườn) tại xã P, huyện Đ (nay xã N), tỉnh
Quảng Ngãi (viết tắt thửa 333). Ngày 08/11/2006, ông Nguyễn D và
Thị S1 được UBND huyn Đ cấp đổi, cấp lại GCNQSDĐ thuộc thửa đất số 715,
tờ bản đồ s42, diện tích 1.472m
2
(trong đó 400m
2
đất tại nông tn
1.072m
2
đất trồng cây hàng năm khác), (viết tắt thửa 715), tăng 30m
2
so với
din tích đất được cấp lần đầu.
[2.2] Ngày 08/11/2006, ông T3 Thị R được UBND huyện Đ
cấp GCNQSDĐ thửa đất số 756, tờ bản đồ số 42, diện tích 234m
2
(đất ở tại nông
thôn) tại xã P, huyện Đ (nay là xã N), tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là thửa 756).
[2.3] Ngày 13/9/2010, ông T3 R lập hợp đồng chuyển nhượng thửa
756 cho ông Nguyễn Tấn T, Thị Hồng C thửa 756, được UBND P
chứng thực. Ngày 02/11/2010, Ông T C được UBND huyn Đ cấp
GCNQSDD thửa 756.
[2.4] Theo đồ địa chính thửa đất do Công ty TNHH T6 - Chi nhánh Q1
thực hiện, thể hiện thửa 756 diện tích theo đo đạc thực tế là 225m
2
(đã bao
gồm 47m
2
đất hiện đang tranh chấp), giảm 09m
2
(234m
2
- 225m)
2
so với diện
ch đất được cấp trong GCNQSDĐ.
[2.5] Xét kháng cáo của ông Nguyễn D cho rằng 47m
2
đất (theo đo đạc
thực tế) hiện đang tranh chấp của ông và bà Lê Thị S1, Hi đồng xét xử nhận
thy:
[2.5.1] Trong qtrình gii quyết vụ án tại cấp thẩm, ông Nguyễn D
ông Đặng n T1 đều xác định phần đất tranh chấp diện tích theo đo đạc
thực tế 47m
2
của ông D cho ông T1 mượn; ông D cung cấp một số Giấy
xác nhận thể hiện người xác nhận các ông, Nguyễn H, Trần Thị
S2, Phạm Ngọc T4, Nguyễn P1, Ngô Q, Lê B, Lê V nhưng không
được quan thẩm quyền chứng nhận chữ ký; về nội dung các
Giấy xác nhận u trên không u cụ thể phần đất tranh chấp thuộc số
thửa, tờ bản đồ, vị trí, giới cận, tại đâu, mà chỉ nêu phn đất tranh chấp
giữa ông T ông T1 của cụ Đỗ Thị S3, mẹ của ông D; ngoài các
Giấy xác nhận nêu trên thì ông D ông T1 không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ chứng minh phần đất tranh chấp của ông D cho ông T n
không được ông T, C thừa nhận.
6
[2.5.2] Tại Biên bản lấy lời khai đương sngày 08/11/2024 (bút lục 50, 51)
tại Bn bản hòa giải ngày 18/7/2025 (bút lục 127, 128), ông D trình bày:
…Năm 2006, khi Nhà ớc công nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông
T5, ông người giáp ranh tại Biên bản xác định mốc giới ông khẳng
định mốc giới khi ông xác nhận vào năm 2006 đến nay không có thay đổi.
Diện tích 58m
2
, theo đo đạc thực tế 47m
2
nằm trong thửa 756 đã được Nhà
nước công nhận cho ông T, bà C năm 2010, không phải đất thuộc quyền sử dụng
của ông…
[2.5.3] Theo các tài liu do n phòng đăng đất đai tỉnh Q - Chi nhánh
khu vực VII cung cấp m theo ng văn s376/CNKV VII ngày 04/02/2026,
trong đó Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông D đề ngày 22/5/2003
thhiện giới cận phía Nam thửa 333 (nay là thửa 715) giáp mả và đất ông Võ K,
không giáp thửa 756.
[2.5.4] Theo sơ đồ thửa đất trong GCNQSDĐ thửa 756 (bút lục 179), Sơ đ
địa chính thửa 756 do Công ty TNHH T6 - Chi nhánh Q1 thực hin (bút lục 71)
thhiện phía Bắc thửa 756 giáp thửa 774 (đất nghĩa địa), không giáp thửa 333,
nay là thửa 715.
[2.5.5] Tại Biên bản làm việc ngày 18/02/2025 (bút lục 80), ông D thừa
nhận phần đất ông T tranh chấp giáp đất nghĩa địa (thửa đất s774, tờ bản đồ s
43, P), không phải giáp đất của ông, nhưng đất nghĩa địa là của ông, để lại
cho ông. Tuy nhiên, ông D không cung cấp được tài liệu, chứng cchứng minh
thửa 774 (đất nghĩa đa) là của ông, bà để lại cho ông.
[2.6] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 09/4/2026, ông D cung cấp 02 tờ bản
đồ (bản sao đóng dấu treo của UBND P) đều thể hin phía Bắc thửa 330
(nay thửa 756) phía Nam thửa 333 (nay thửa 715) không giáp nhau,
cách nhau bởi thửa đất nghĩa đa.
[2.7] Ngày 26/01/2026, Tòa án nhân n tỉnh Quảng Ngãi n bản số
37/TA-DS gửi UBND N đề nghị cung cp thông tin, i liệu. Tại n bản số
300/UBND-KT ngày 02/3/2026, UBND xã Nguyễn Nghiêm cung cấp thông tin
như sau: Qua kiểm tra hồ lưu trữ tại UBND xã, hiện không lưu giữ hồ sơ
đăng ký kê khai theo Chỉ thị 299/TTg; do đó, UBND xã không có cơ sở cung cấp
thông tin về người khai đăng theo Chỉ thị 299/TTg đối với các thửa đất số
330, 331, 333. UBND chỉ thể cung cấp thông tin trên cơ s hồ địa
chính hiện đang được quản lý, lưu trữ tại địa phương theo quy định.
Theo tài liệu bản đồ 299/TTg hiện tại địa phương (bản chưa được cơ
quan thẩm quyền phê duyệt), thể hiện các thửa đất số 330, 331, 333. Tuy
nhiên, do tài liệu này chưa được phê duyệt theo quy định nên UBND không
sở pháp để xác định sự tương ứng chính thức với các thửa đất theo hồ
địa chính hiện hành. Hiện nay, theo hồ sơ địa chính năm 2006 đang quản
tại địa phương, khu vực đất nêu trên thuộc các thửa đất số 715, 756, 774, tờ bản
đồ số 42, 43 P (nay thuộc tờ bản đồ số 102, 103, N sau khi điều chỉnh địa
giới hành chính).
7
Qua rà soát hồ lưu trữ tại UBND xã, chưa ghi nhận hồ thu hồi
đất, bồi thường, hỗ trợ đối với thửa đất số 756, tờ bản đồ số 42, P (nay thuộc
tờ bản đồ số 102, xã N).
[2.8] Ngày 09/4/2026, Tòa án nhân n tỉnh Quảng Ngãi có n bản số
105/TA-DS yêu cầu Công ty TNHH T6 - Chi nhánh tại Quảng Ngãi thực hiện
việc chồng ghép bản đồ ranh giới theo hiện trạng ranh giới theo GCNQSDĐ
đối với thửa 756. Theo kết quả chồng ghép bản đồ thì ranh giới phía Bắc thửa
756 không chồng ln sang thửa 715 của ông D, S1 và cũng không chồng ln
sang thửa 774.
[2.9] Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông D cho rằng, tại
phiên tòa phúc thẩm, ông T và C thừa nhận khi làm ng trình phụ, lắp đặt
máy điều hòa có hỏi xin ông D để chứng minh phần đất tranh chấp là của ông D,
nhưng ông T C chỉ thừa nhận việc hỏi xin ông D làm nhà tạm trước
thi điểm năm 2002 c đó ông, chưa nhận chuyển nhượng thửa 756, còn
từ khi nhận chuyn nhượng thửa 756 từ ông T5, R vào m 2010 tkhông
có việc hỏi xin ông D khi sử dụng thửa 756.
Từ những nhận định trên, không căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông
D, ginguyên bản án sơ thẩm.
[3] Các phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị hiu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí n sự phúc thẩm: Do không được chấp nhn kháng cáo,
nên ông D phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng
dân sự. Tuy nhiên, ông D người cao tuổi, đơn xin miễn án phí. n c
Điều 12, 14 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hi quy định về mức thu, min, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án plệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án pn s
phúc thẩm cho ông D.
[5] Đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn
D không phợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp
nhận.
[6] Đề nghị của đại diện Vin kiểm sát nhân n tỉnh Quảng Ngãi phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điu 313 Bộ luật Tố
tụng n sự; khoản 8 Điều 26, Điều 236 Luật Đất đai; Điều 164, Điều 166 Bộ
luật Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án p lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn D; sửa bản án s
05/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của Tòa án nhân n khu vực 6 Quảng Ngãi;
ghi nhận sự tnguyện của ông Đặng Văn T1.
8
1. Chấp nhn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn T.
1.1. Buộc ông Đặng n T1 phải trả cho ông Nguyễn Tấn T, Thị
Hồng C phần đất diện tích 47được gii hn bởi các điểm 2,3,4,10,11,12,2
(ký hiệu B) thuộc thửa đất s756, tờ bản đsố 42, P (nay thuộc tờ bản đồ số
102, xã N), tỉnh Quảng Ni.
1.2. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Nguyễn Tấn T ông
Đặng n T1: Ông Nguyễn Tấn T, Thị Hồng C được quyền sở hữu, sử
dụng tn bộ đất đổ, nền xi măng diện tích 47 được giới hạn bởi c đim
2,3,4,10,11,12,2 (ký hiệu B) thuộc thửa đất s756, tờ bản đồ số 42, xã P (nay
thuộc tờ bản đồ s102, N), tỉnh Quảng Ngãi; ông Nguyễn Tấn T, Thị
Hồng C tự nguyện thanh toán lại giá trị cho ông Đặng Văn T1, Nguyễn Th
T2 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu).
(Phần đất các đương sự được quyền quản lý, sử dụng sơ đồ kèm theo
và là một bộ phận không thể tách rời của bản án).
2. Về án phí:
2.1. Án pn ssơ thẩm: Ông Đặng Văn T1 phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm ngàn) tin án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Tấn T
300.000 đồng (ba trăm ngàn) tiền tạm ng án phí n ssơ thẩm đã nộp theo
Biên lai số 0004258 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức
Phổ (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Qung Ngãi).
2.2. Án phí n sự phúc thm: Ông Nguyễn D được miễn án pn sự
phúc thẩm.
3. Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000
đồng (hai triệu); chi ptrích đo thửa đất 5.000.000 đồng (năm triệu); chi phí
định giá i sản 3.000.000 đồng (ba triệu), tổng cộng 10.000.000 đồng (mười
triệu đồng), ông Nguyễn Tấn T tự nguyện chịu; ông Nguyễn Tấn T đã nộp
chi phí xong.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi nh án của người được thi nh án cho
đến khi thi nh án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi nh án theo mức i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án n sự
quyn thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi nh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Lut
thi hành án n sự; thời hiu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 6 - Quảng Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 6 - Quảng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Ngãi;
- c đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, Tổ HCTP.
Trịnh Thị Thu Lan
10
11
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất