Bản án số 285/2026/DS-PT ngày 25/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 285/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 285/2026/DS-PT ngày 25/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 285/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÂM ĐỒNGĐộc lập – Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 285/2026/DS-PT
Ngày: 25/5/2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Thái
Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh và bà Phạm Phong Lan
- Thư phiên a: ông Trần Việt Quốc Thẩm tra viên tòa án nhân n
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
sở A, xét xử phúc thẩm công khai vụ dân sự thụ lý số 227/2026/TLPT-DS, ngày 16
tháng 4 năm 2026, về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân s
thẩm số 12/2026/DS-ST, ngày 04 tháng 12 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 11 – Lâm Đồng có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
số 353/2026/QĐ-PT, ngày 14 tháng 5 năm 2026 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Huỳnh Thị T, sinh năm 1962
Nơi cư trú: số I thôn P, xã T, tỉnh Lâm Đồng
- Bị đơn: ông Mai Thanh H, sinh năm 1968 Nguyễn Thị P, sinh năm
1968
Cùng cư trú: thôn V, xã H, tỉnh Lâm Đồng
Do có kháng cáo của bị đơn ông Mai Thanh H
Tại phiên tòa có mặt các đương sự.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, nguyên đơn Huỳnh Thị T trình bày: do quen biết thân thiết nên cho
vợ chồng ông H, P vay tổng số tiền 50.000.000 đồng theo “Giấy mượn tiền” đề
ngày 20/11/2022, ông H người viết, ghi tên vào Giấy mượn tiền đề ngày
20/11/2022. Sau đó, vợ chồng ông H, bà P có gửi cho bà Huỳnh Thị T1 (là em ruột
của T) số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để trả cho bà nên ghi
2
vào trong giấy mượng tiền, số tiền còn lại 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng)
đến nay ông H, bà P vẫn chưa trả cho bà. Bà đã nhiều lần liên hệ yêu cầu vợ chồng
ông H, P trả số tiền trên nhưng ông H, P không trả. Quá trình giải quyết vụ
án, bà yêu cầu Toà án giám định chữ ký, chữ viết của ông H trên “Giấy mượn
tiền” đề ngày 20/11/2022 để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Nay
khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 11 - Lâm Đồng buộc vợ chồng ông H,
P phải trách nhiệm trả cho số tiền gốc 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu
đồng), không yêu cầu tính lãi suất.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Mai Thanh H và bà Nguyễn Thị P trình bày: chúng
tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc vợ chồng tôi phải trả
số tiền gốc 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Vợ chồng tôi thừa nhận năm
2019 do vợ tôi bị bệnh nên tôi mượn của T số tiền 50.000.000 đồng (năm
mươi triệu đồng) để điều trị bệnh cho vợ. Tuy nhiên, từ năm 2019 đến năm 2023
mỗi năm vợ chồng có trả cho bà T 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) tiền lãi,
tổng số tiền lãi đã trả là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Cuối năm 2024
(trước Tết nguyên đán 2025) vợ chồng tôi gửi cho Huỳnh Thị T1 (là em ruột
của T) 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để trả cho T, đồng thời 02 vợ
chồng xuống nhà trả thêm cho T 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Tổng số tiền lãi gốc vợ chồng tôi đã trả cho T 130.000.000 đồng (một
trăm ba mươi triệu đồng). Nay vợ chồng tôi đã già yếu, hoàn cảnh kinh tế khó
khăn, vợ bệnh nặng nên chúng tôi không còn khả năng trả nợ nên xin không trả nợ
cho bà T số tiền gốc 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) chúng tôi đã trả lãi
gấp nhiều lần số tiền gốc trên.
Tại Bản án dân sự thẩm số 12/2026/DS-ST, ngày 04 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Lâm Đồng đã quyết định:
Căn cứ:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2
Điều 92, Điều 93, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 463, Điều 465, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình;
Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T.
1. Buộc ông Mai Thanh H Nguyễn Thị P1 phải nghĩa vụ trả cho
Huỳnh Thị T số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định
khác.
3
Ngoài ra Bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo của đương sự.
Ngày 11 tháng 02 năm 2026, bị đơn ông Mai Thanh H kháng cáo toàn bộ
bản án dân sự thẩm số 12/2026/DS-ST, ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 – Lâm Đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người kháng cáo đề nghị giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
- Nguyên đơn đề nghị yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: bị đơn kháng
cáo nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác, Tòa án cấp thẩm tuyên
xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa phúc thẩm; trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý
kiến trình bày tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát
viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Xét thấy đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định và đã thực
hiện việc nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 273 và
Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn
phải trả số tiền đã vay 40.000.000 đồng. Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ
tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26
Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định.
[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn nơi trú tại thôn V, H,
tỉnh Lâm Đồng nên Tòa án nhân dân khu vực 11 - Lâm Đồng thụ giải quyết
theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Ttụng dân sự
là đúng thẩm quyền.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ
thấy rằng: ông Mai Thanh H vay của Huỳnh Thị T số tiền 50.000.000 đồng
để điều trị bệnh cho vợ. Nguyên đơn xác nhận bị đơn đã trả cho nguyên đơn
10.000.000 đồng, còn nợ lại 40.000.000 đồng tiền gốc. Bị đơn ông H bà P chỉ thừa
nhận còn nợ lại nguyên đơn 20.000.000 đồng tiền gốc.
[4.1] Tại Kết luận giám định số 1331/KLGĐ-PC09 ngày 24/11/2025 của
Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: Chữ ký, chữ viết nội dung: “Giấy mượng
tiền Hải Phượng mượng 50.000.000 (năm mươi triệu) ngày 20 tháng 11, năm
2022 - tên - Htrên mẫu cần giám định hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng
tên Mai Thanh H trên các mẫu so sánh hiệu từ M1 đến M4 do cùng một
người ký, viết.
4
[4.2] Tại phiên Tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà T nộp thêm tài liệu chứng cứ
01 giấy mượn tiền (ghi ngày 26/4/2020) nội dung vợ chồng ông H mượn số
tiền 70.000.000 đồng; bà T thừa nhận đây khoảng vay trước đó, khi vợ chồng
ông H P trả số tiền 20.000.000 đồng mới viết lại giấy mượn tiền với số tiền
50.000.000 đồng vào ngày 20/11/2022.
[5] Xét thấy, tại bản tự khai bổ sung đề ngày 16/01/2026 tại phiên tòa
thẩm, vợ chồng bị đơn thừa nhận ông Mai Thanh H người viết Giấy
mượng tiền” đề ngày 20/11/2022 phù hợp với Kết luận giám định số 1331/KLGĐ-
PC09 ngày 24/11/2025 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận chữ ký, chữ viết
đứng tên Mai Thanh H trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 là do cùng một
người ký, viết.
Mặc dù, ông H P không thừa nhận mượn T số tiền 50.000.000
đồng nhưng thừa nhận đã trả cho T 02 lần tổng tiền 30.000.000 đồng (lần 01
đưa trực tiếp cho T 20.000.000 đồng; lần 02 đưa qua Huỳnh Thị T1 số tiền
10.000.000 đồng) còn nợ T số tiền gốc 20.000.000 đồng. Theo quy định tại
Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây những tình tiết, sự kiện không phải
chứng minh. Như vậy, Tòa án sơ thẩm xác định bị đơn có vay tiền của nguyên đơn
50.000.000 đồng là có căn cứ.
Nguyên đơn xác nhận bị đơn đã trả cho nguyên đơn 10.000.000 đồng, còn
lại 40.000.000 đồng. Bị đơn ông H, P trình bày đã trả tiền cho T vào tháng
02/2022; chcòn nợ nguyên đơn số tiền gốc 20.000.000 đồng, nhưng không cung
cấp được tài liệu để chứng minh việc đã trả ntiền cho nguyên đơn nên Tòa án
thẩm buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 40.000.000 đồng là có căn cứ.
[6] Nguyễn Thị P vợ hợp pháp của ông Mai Thanh H, tuy P không
vào “Giấy mượn tiền” đề ngày 20/11/2022 nhưng P thừa nhận việc vay
mượn tiền giữa ông H và T P đều biết, người cùng ông H đi vay trả
tiền cho T, hơn nữa mục đích vay tiền để chữa bệnh cho bà. Tòa án cấp
thẩm căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 buộc P và ông H cùng
có trách nhiệm trả nợ là đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được căn cứ để chứng minh cho
kháng cáo của mình, nên không có sở để chấp nhận như ý kiến đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phúc thẩm.
[7] Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Mai Thanh H. Giữ nguyên Bản án dân
sự thẩm số 12/2026/DS-ST, ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 11 – Lâm Đồng.
5
Căn cứ: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 2 Điều 92, Điều 93, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Ttụng dân
sự; Điều 463, Điều 465, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, 37 Luật
hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T.
1. Buộc ông Mai Thanh H Nguyễn Thị P phải nghĩa vtrả cho
Huỳnh Thị T số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định
khác.
2. Về án phí:
2.1 Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Mai Thanh HNguyễn Thị P phải chịu 2.000.000 đồng (hai
triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Huỳnh Thị T không phi chu án phí dân s sơ thẩm.
2.2 Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Mai Thanh H phải nộp 300.000 đồng
án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng án tạm ứng án phí tại
biên lai thu tiền số 0002931 ngày 24/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm
Đồng.
3. Về chi phí tố tụng: buộc ông Mai Thanh H bà Nguyễn Thị P phải nộp
số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chi phí giám định chữ ký, chữ viết để
hoàn trả cho bà Huỳnh Thị T.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án,
hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi
hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND khu vực 11 – Lâm Đồng;
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng THA 11 m Đồng;
- Đương sự có kháng cáo;
- Các đương sự có liên quan;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
6
Lê Thị Thanh Thái
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất