Bản án số 65/2025/DS-ST ngày 25/04/2025 của TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 65/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 65/2025/DS-ST ngày 25/04/2025 của TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Bắc Từ Liêm (TAND TP. Hà Nội)
Số hiệu: 65/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/04/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật và hủy hợp đồng thuê nhà giữa bà Lương Thị Hải H và ông Đặng Quang V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh C
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Minh T
2. Ông Nguyễn Minh T
- Thư ký phiên tòa: Ông Doãn Khắc Huy H -Thư ký Tòa án nhân dân Quận B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B tham gia phiên toà: Phong Thị L
- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận B,thành phố Nội
xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thẩm thụ số 132/2024/DS-ST ngày
01/10/2024 về việc “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật huỷ
hợp đồng thuê nhàtheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST
–DS ngày 06/12/2024, giữa:
*Nguyên đơn: - Lương Thị Hải H, sinh năm: 1977;
Nơi cư trú: Lô đất số A KN ở CBCS cục B, phường N, quận C, thành phố
Hà Nội.
Do bà Lê Thị H – Sinh năm 1985
Cư trú tại : Số nX ngách M A, T T - Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền
(Có mặt).
* Bị đơn: - Ông Đặng Quang V, sinh năm: 1957;
Nơi cư trú: CH Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội.
(Có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Công N, sinh năm: 1988;
Nơi cư trú: Số A ngõ B đường X, Tổ dân phố X, phường X, quận B, thành
phố Hà Nội.
(Vắng mặt).
- Anh Đặng Quang H, sinh năm: 2003;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 65/2025/DS-ST
Ngày: 25/04/2025
V/v: “Yêu cầu chấm dứt
hành vi cản trở trái PL và
huỷ hợp đồng thuê nhà”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Nơi thường trú: đất sX, khu nhà C, Cục B, phường N, quận C, thành
phố Hà Nội.
(Có mặt).
- Văn phòng công chứng QT;
Địa chỉ: Tổ A khu X, thị trấn X, C, Hà Nội.
(Vắng mặt).
- Phòng Công chứng số X thành phố Hà Nội;
Địa chỉ: D, ô đất D (số X D), khu ĐTM C, phường D, quận C, thành phố
Hà Nội.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngày 11 tháng 07 năm 2024 bà Lương Thị Hải H nộp đơn khởi kiện tại
Tòa án nhân dân Quận B “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật và
huỷ hợp đồng thuê nhà” đối với bị đơn là ông Đặng Quang V.
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án, bà H trình bày:
Lương Thị Hải H là chủ sở hữu, sử dụng hợp pháp nhà đất tại địa chỉ: Lô
đất số A, thửa đất số B, khu ncán bộ chiến sĩ Cục B. Tổng cục C, BCA
phường N, quận C, Thành phố Hà Nội, GCN số DE 888xxx do Sở tài nguyên và
Môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 04/04/2022.
Do con bà H là cháu Đặng Quang H đang theo học tại thành phố H nên bà
H đã vào cùng để lo cho con ăn học.
Khoảng tháng 6/2024 khi bà H về lại Hà Nội, bà H rất bất ngờ khi thấy anh
Nguyễn Công N đang sử dụng nhà của mình.
Anh N cho biết đã hợp đồng thuê nhà với ông Đặng Quang V ngày
17/4/2024, thời hạn thuê 03 năm và đưa ra bản hợp đồng hai bên đã ký kết.
Ông V không phải chủ sở hữu, sử dụng nhà đất nhưng đã tự ý ký hợp đồng
cho thuê nhà là trái pháp luật, bà H đã đề nghị anh N huỷ hợp đồng nhưng anh N
nói chỉ giải quyết với ông V.
Nhà đất tại đất số A, thửa đất số B, khu ncán bộ chiến Cục B,
Tổng cục C, BCA phường N, quận C, thành phố Hà Nội có nguồn gốc như sau:
H ông Đặng Quang V đã chung sống cùng nhau từ năm 2003, 01
(một) con chung là cháu Đặng Quang H sinh ngày 19/12/2003.
Khi cháu H được mười tuổi, ngày 05/09/2013 ông V đã lập hợp đồng tặng
cho toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại diện tích đất do Cục
B; Tổng cục C thuộc BCA cấp cho ông Đặng Quang V từ năm 1992 đất số A
(Tên lô cũ) tập thể B, BCA có địa chỉ tại: Ngõ A đường H, N, quận C, thành phố
Nội cho H và cháu H, mục đích động viên H yên tâm ở vậy chăm sóc
dạy dỗ cháu H trưởng thành khi mẹ con bà Hnơi ăn chốn ở ổn định mà không
cần kết hôn. Lô đất vào thời điểm này đã có căn nhà nhưng ông V chưa đăng
biến động nhà đất. Văn bản tặng cho do chính tay ông Đặng Quang V viết có ch
ký của các thành viên gia đình hai bên làm chứng gồm:
3
1. Mẹ đẻ của ông V cụ Nguyễn Thị Q (Bà nội cháu H);
2. Mẹ đẻ bà H cụ Lữ Thị L (Bà ngoại cháu H);
3. Em ruột ông V, ông Đặng Hồng S (Chú ruột cháu H)
4. Anh trai bà Hà ông Lương Đại H (Bác ruột cháu H).
Ông V cam kết khi được cấp GCN sẽ làm thủ tục tặng cho theo quy định
của pháp luật.
Ngày 08/4/2015, ông Đặng Quang V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên.
Ngày 22/5/2015, ông V đã lập hợp đồng tặng cho cháu Đặng Quang H toàn
bộ nhà đất theo cam kết. Hợp đồng tặng cho được lập tại Văn phòng công chứng
QT trụ sở: Tổ A khu X, X, huyện C, Thành phố Nội; Số công chứng
1062.2015/HDTCHO, Quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD. Do cháu H chưa thành
niên nên bà H người đại diện hợp pháp của cháu nhận. Hợp đồng tặng cho
này không có điều kiện tặng cho nào cả.
Năm 2021, khi cháu H đủ 18 tuổi nhập học tại thành phố H, để thuận
tiện trong các giao dịch về nhà đất nên cháu H tự nguyện lập Hợp đồng Công
chứng tặng cho bà H là mẹ cháu nhà đất nêu trên, để bà H điều kiện giúp con
chủ động trong việc giao dịch, cho thuê lấy tiền lo trang trải các chi phí trong việc
ăn học cho con. Căn cứ Hợp đồng công chứng tặng cho được lập tại Văn phòng
công chứng số 3 thành ph Nội, Số công chứng 4398, Quyền số
03/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/12/2021, Sở tài nguyên Môi trường
thành phố Nội đã cấp Giấy chứng nhận nhà đất nêu trên cho H tngày
04/04/2022.
Ngày 09/7/2022, bà H đã hợp đồng cho Công ty cổ phần đầu ng
nghệ Y học Đ thuê nhà trong thời hạn ba năm (Hạn thuê đến ngày 15/7/2025, giá
thuê một tháng là 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.
Tháng 9/2023, ông V tự ý làm thông báo gửi Công ty cổ phần đầu tư và
Công nghệ Y học Đ sẽ thu hồi nhà vào tháng 10/2023. Ngày 02/10/2023, ông V
đã tự phá khoá cửa và thay khoá cửa khác.
bị ông V gây khó khăn, cản trở việc sử dụng nhà thuê, Công ty đã thông
báo yêu cầu bà H phải chịu trách nhiệm giải quyết bồi thường thiệt hại.
Kể từ ngày ông V tự ý phá cửa nhà để cho anh Nguyễn Công N thuê nhà,
rất nhiều lần ông V đã có hành vi đe doạ hai mẹ con bà H, làm cho bà H và cháu
H bị hoảng loạn về tâm lý, tinh thần, gây xáo trộn rất nhiều đến cuộc sống bình
thường của hai mẹ con bà H, ảnh hưởng đến việc học tập của cháu H do bất bình
với cách ứng xử của người cha đã sinh thành ra mình.
H đã trình báo chính quyền và quan Công an xin giúp đỡ, giải quyết.
Ngày 24/01/2024, phó Thủ trưởng quan CSĐT công an quận C ra Thông
báo số 810/TB-CQĐT-DTTH không khởi tố vụ án hình sự cho rằng không
dấu hiệu tội phạm.
Thực tế, hành vi của ông V và anh N đã cản trở hai mẹ con bà H thực hiện
quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản nhà đất tại: Lô đất số A, thửa đất số
A, khu nhà cán bộ chiến Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Thành
phố Hà Nội đã được cấp Giấy chứng nhận hợp pháp.
H đề nghị Toà án nhân dân quận B giải quyết buộc ông V:
4
- Chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền s
hữu, định đoạt, các quyền khác đối với tài sản là: Quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản gắn liền với đất của bà H tại địa chỉ Lô đất số A, thửa đất số A,
khu nhà cán bộ chiến Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, thành
phố Hà Nội đã được Sở tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp GCN số
DE 888xxx ngày 04/04/2022.
- Huỷ bỏ hợp đồng cho thuê nhà ngày 17/4/2024 được giao kết giữa ông
Đặng Quang V anh Nguyễn Công N, buộc anh N bàn giao lại nhà đất cho
H.
- Buộc ông V bồi thường cho H số tiền kể tkhi ông V phá khoá ca
vào nhà ttháng 10/2023 đến nay, cụ thể là 265.000.000 (Hai trăm sáu mươi lăm
triệu) đồng là số tiền bà Hà phải bồi thường cho Công ty Y học Đ khi bà H phải
hủy bỏ Hợp đồng thuê nhà ông V đã hành vi cản trở.
* Bị đơn ông Đặng Quang V trình bày:
Ông V nguyên sỹ quan Công an được Tổng cục B BCA cấp giao 39
m2 đất tại Lô đất số X, khu tập thể cán bộ chiến sĩ B, Tổng cục C BCA, phường
N, quận C, Nội. Sau đó ông V mua thêm 3,5 m2 đất của đồng nghiệp ông V
để thành đất 42,5 m2 đất tại đất số A, khu nhà cán bộ chiến sỹ Cục B, Tổng
cục C, BCA, phường N, quận C, Hà Nội vào năm 1992.
Năm 2008, ông V và vợ cũ của ông V là Ngô Thúy H xây nhà 05 tầng trên
đất được phân Ngôi nhà 5 tầng trên diện tích đất này là tài sản ông V được phân
chia trong vụ án chia tài sản sau ly hôn số 55/2014/HNGĐ-PT ngày 23/7/2014
của Tòa án nhân dân quận B, TP Hà Nội.
Đến năm 2015, ông V được Sở Tài nguyên Môi trường thành phố
Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 888xxx.
Năm 2003, ông V có quan hệ tình cảm với bà Lương Thị Hải H và sinh ra
cháu Đặng Quang H ngày 19/12/2003.
Ngày 22/5/2015, tại Văn phòng công chứng QT, ông V ký Hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất tại lô đất số A nói trên (42,5m2) cho con trai Đặng Quang
H. Tuy nhiên, ông V chỉ tặng cho đất mà không tặng cho nhà vì thời điểm đó căn
nhà chưa được đăng ký biến động tại Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hơn nữa
mục đích của ông V chỉ cho đất không cho nhà để cha con ông V cùng sở hữu, sử
dụng nhà đất nói trên. Trong Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất điều kiện
với những nội dung như sau:
"Người giám hộ (bà Lương Thị Hải H) cho người được nhận tặng cho
không được quyền thay mặt người được tặng cho (chủ sử dụng đất) cho thuê, cho
mượn, thế chấp, cầm cố, đặt cọc,... và các giao dịch khác đối với tài sản trên;
Nếu cháu Đặng Quang H có hành vi bất hiếu với người tặng cho, với dòng
họ thì người tặng cho Đặng Quang V có quyền đòi lại tài sản tặng cho."
Năm 2021, bà Lương Thị Hải H đã dụ dỗ con ông V là Đặng Quang H lén
lút, không thông báo cho ông V để sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tại đất sA nói trên từ Đặng Quang H sang Lương Thị Hải H. Như vậy là bà H
đã làm sai các điều kiện mà mình đã ký trong Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất ngày 22/5/2015 và dựa vào hành vì trái pháp luật này từ năm 2022 đến nay
H đã nhiều lần quấy nhiễu, đe dọa cuộc sống của ông V tại nhà thuộc quyền sở
5
hữu, sử dụng hợp pháp của ông V ở khu tập thể BCA, phường N, quận C, TP Hà
Nội. Ngoài ra, bà H đã dạy dỗ con ông V những điều sai trái, vi phạm pháp luật,
vi phạm đạo đức.
Nay, ông V yêu cầu Tòa án quận B không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của bà H.
* Về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
ngày 05/9/2013, ông V có ý kiến như sau:
- Đây Hợp đồng tặng cho bất động sản nên phải thực hiện chứng thực tại
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Vào thời điểm 05/9/2013, đây là tài sản chung giữa ông V vợ cũ Ngô
Thị H nên việc ông V một mình quyết định cho cháu Đặng Quang H không
đúng theo quy định pháp luật
Do vậy, Hợp đồng tặng cho ngày 05/9/2013 không có hiệu lực pháp luật.
Đối với văn bản thỏa thuận ngày 12/12/2012, giữa ông V H như
nguyên đơn trình bày thì ông V đề nghị nguyên đơn cung cấp bản chính hoặc bản
sao chứng thực của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Công N trình bày:
Ông Nguyễn Công N vắng mặt đơn xin vắng mặt trong quá trình tố
tụng.
- Anh Đặng Quang H trình bày:
- Anh H đồng ý với toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của mẹ anh H
Lương Thị Hải H.
- Không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tcủa bố anh H ông Đặng
Quang V bởi những lý do sau:
- Thứ nhất, ngày 22/5/2015 ông V ( bố anh H ) đã lập hợp đồng tặng cho
anh Đặng Quang H toàn bộ nhà đất theo cam kết Hợp đồng tặng cho được lập tại
văn phòng công chứng QT trụ sở Tổ A khu X X, C, Nội, số công chứng
1062.2016./HĐTCHO, Quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD. Thời điểm nhận tặng
cho anh H chưa đủ tuổi để ký tên trên hợp đồng theo quy định nên mẹ anh H (bà
Lương Thị Hả H) là người giám hộ anh H ký nhận.
- Thhai, trước khi hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ông V đã soạn
và ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đối và tài sản gắn liền với đất trong hợp
đồng mô tả rất rõ ràng về nhà đất tặng cho anh Đặng Quang H tại mục 2 Mô tả
về căn nhà” ,Văn bản cho chính tay ông Đặng Quang V viết chữ của các
thành viên gia đình 2 hai bên làm chứng chữ ký của các thành viên gia đình
hai bên gồm:
1. Mẹ đẻ của ông V cụ Nguyễn Thị Q. ( Bà nội của anh H )
2. Bà ngoại anh H cụ Lữ Thị L.
3. Em ruột ông V, ông Đặng Hồng S. (Chú ruột anh H)
4. Bác trai anh H ông Lương Đại H (Bác ruột anh H)
Ông V cam kết khi được cấp GCN sẽ làm thủ tục tặng cho theo quy định
của pháp luật.
6
- Thời điểm mẹ anh H ( Lương Thị Hải H) là đại diện giám hộ cho anh
H khi chưa thành niên và anh H người được nhận tặng cho không vi phạm bất k
giao kết nào về việc tặng cho có điều kiện tại mục 1.3. Điều 2 Hợp đồng tặng cho
mà ông V đề ra.
- Văn phòng chông chứng QT trình bày:
1. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng
1062.2015/HĐTCHO, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 22/05/2015 do
Văn phòng công chứng QT (nay Văn phòng công chứng N) thực hiện công
chứng.
2. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng
1062/2015/HĐTCHO, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 22/05/2015
được thực hiện theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Do đó, đề nghị Tòa án
giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. Văn phòng công chứng N đề nghị
xét xử vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
- Phòng công chứng s X TP Hà Nội trình bày:
Phòng công chứng số X thành phố Nội đã nhận được Giấy triệu tập ngày
19/03/2025 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Nội do thẩm phán Đặng
Quỳnh C ký về việc đề nghị Phòng công chứng số X thành phố Hà Nội giao nộp
toàn bộ hồ liên quan đến hợp đồng tặng cho số công chứng 4398; quyển số
03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/12/2021 của Phòng công chứng số X thành
phố Hà Nội.
Phòng công chứng số X thành phố Hà Nội xin được cung cấp bản sao văn
bản công chứng hồ công chứng của Hợp đồng tặng cho số công chứng 4398;
quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Phòng công chứng số
X thành phố Nội chứng nhận ngày 24/12/2021 hiện đang được lưu trữ tại
Phòng.
Đề nghị Quý tòa giải quyết vụ án nêu trên đúng theo quy định của pháp luật
và thông báo cho chúng tôi được biết kết quả giải quyết vụ án.
* Ngày 17/10/2024, ông Đặng Quang V đơn phản tố gửi Tòa án nhân
dân quận B. Theo đó, ông V yêu cầu:
- Tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 22/05/2015 tại
Phòng công chứng QT (địa chỉ: Tổ X, khu X, X, C, thành phố Nội) về việc
ông Đặng Quang V tặng cho con trai Đặng Quang H diện tích 42,5m² đất tại thửa
đất số A, tbản đồ số A, phường N, quận C, Nội. do hủy Hợp đồng:
Lương Thị Hải H anh Đặng Quang H đã làm trái với các điều kiện nêu trong
Hợp đồng ngày 22/05/2015 Lương Thị Hải H không thực hiện các thỏa
thuận giữa ông Đặng Quang V và bà H liên quan đến nhà, đt tại lô đất số A nói
trên trong Bản thỏa thuận được ký cùng ngày 22/05/2015.
- hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sdụng đất ngày 24/01/2022 tại phòng
công chứng số X thành phố Nội về việc anh Đặng Quang H tặng cho Lương
7
Thị Hải H diện tích 42,5m² đất tại thửa đất số A, tờ bản đồ số A, phường N, quận
C, Hà Nội
- Yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền hoàn thiện thủ tục trả lại tên ông
Đặng Quang V trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu tài
sản khác gắn liền với đất như ban đầu sBX 888xxx do Sở Tài nguyên Môi
trường Hà Nội cấp ngày 08/4/2015.
* Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, Nguyên đơn có ý kiến như sau:
- Hai Hợp đồng tặng cho giữa ông V với cháu H và cháu H với chị H đều
được thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
- Việc ông V nói chưa tặng cho cháu H nhà không đúng. theo Hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 05/9/2013 do tự
tay ông V viết đã khẳng định tặng cho cháu H cả nhà và đất, đồng thời ông V cam
kết không tkhông can thiệp vào việc sử dụng căn nhà. Văn bản ngày
05/9/2013 là văn bản viết tay có ký xác nhận của các bên.
Tại văn bản ngày 12/12/2012, ông V và bà Ngô Thúy H ( vợ cũ ông V) đã
có thỏa thuận về tài sản là nhà đất tại Tập thể Tổng cục C, BCA, phường N, quận
C, Hà Nội (là nhà đất đang tranh chấp) theo đó ông V và bà H đã thống nhất nhà
đất này cho con riêng của ông V cháu Đặng Quang H. Bởi vậy, việc ông V viết
tay Hợp đồng tặng cho thể hiện ý chí chủ quan của ông V là tặng cho toàn bộ nhà
và đất cho con riêng là Đặng Quang H.
vậy, các yêu cầu phản tcủa bị đơn không căn cứ nên H đề nghị
Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
* Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, anh H có ý kiến như sau:
Năm 2021, anh H nhập học tại thành phố H, để thuận tiện trong các giao
dịch về nhà đất nên anh H tự nguyện lập Hợp đồng Công chứng tặng cho mẹ anh
H ( bà Lương Thị Hải H) nhà đã nêu trên, để mẹ anh H chủ động trong việc giao
dịch, cho thuê lấy tiền lo trang trải các chi phí trong việc ăn học cho anh H. Thời
điểm ký hợp đồng tặng cho anh H đủ 18 tuổi, đủ quyền định đoạt của chủ sở hữu
được quy định tại Điều 194 Bộ luật Dân sự 2015 anh H được nhận tặng cho
từ bố anh H ( ông Đặng Quang V).Tất cả các hợp đồng tặng cho mà ông V đã lập
qua công chứng và viết tay đều thể hiện đã tặng cho anh toàn bộ Quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất.
Vì vậy bố anh H ( ông Đặng Quang V) có những yêu cầu phản tố: Vô hiệu
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bố anh H ( ông Đặng Quang V) tặng
cho anh Đặng Quang H là không có căn cứ.
Khi anh H đủ 18 tuổi, anh H có đquyền để giao dịch với cách chủ s
hữu, sử dụng anh H tặng cho mẹ anh H để mẹ H thể thay mặt anh H các giao
dịch cho thuê nhà để lấy tiền cho anh H ăn học và bố anh H không có quyền can
thiệp về việc này nhưng từ thời điểm bố anh H là ông V tự ý cho người khác thuê
lấy nhà và trực tiếp thu tiền của họ không ý kiến của mẹ con anh H trong khi
mẹ con anh H phải đi thuê nhà, tiền ăn học của anh H một mình mẹ anh H gánh
vác, ông V đã cản trở trái pháp luật về việc thực hiện quyền sở hữu, sử dụng với
tài sản của mẹ con anh H.
8
Việc bố anh H ( ông Đặng Quang V) yêu cầu hủy các hợp đồng trả lại trạng
thái như ban đầu là không có căn cứ.
Bởi những lý do trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của mẹ anh H là bà H. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đặng Quang V
(bố anh H).
Nhà đất tại địa chỉ đất số A KN CBCS Cục B, N, C, Nội hiện
thuộc quyền sở hữu và sử dụng của mẹ anh Hbà Lương Thị Hải H do đó việc
bố anh H là ông Đặng Quang V yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho giữa anh H và mẹ
anh H để sang tên nđất cho anh H ông V thì anh H không quyền quyết
định điều này.
Từ năm 2015 cho đến năm 2021 và cho đến nay anh H luôn luôn tôn trọng
ông V ng như tôn trọng họ hàng bên nội từ năm 2015 năm nào anh H cũng thăm
hỏi nội, bố anh H ông V cùng các bác bên nội anh H không bao giờ
thái độ hỗn hào hay bất hiếu với ông V cùng như họ hàng bên nội.
Trong hợp đồng tặng cho tài sản giữa ông V và anh H không có điều khoản
về việc anh H không được tặng cho lại tài sản đối với người thứ 3 nên việc anh H
tặng cho bà H tài sản khi anh H đủ 18 tuổi tròn không vi phạm thỏa thuận trong
hợp đồng tặng cho giữa ông V anh H cũng như không vi phạm các quy định
của pháp luật.
Nay H mẹ của anh H khởi kiện về hành vi của bố anh H ông V cản
trở trái pháp luật quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt đối với nhà đất tại N đúng
vì từ khi anh H được ông V tặng cho tài sản, mẹ con anh H đã thực hiện quyền sở
hữu sử dụng khai thác tài sản đó cụ thể mẹ con anh H đã cho thuê nhà và sử
dụng tiền thuê nhà trang trải sinh hoạt và học tập cho anh H nên việc ông V cho
rằng chỉ cho anh H đất không cho anh H nhà là không đúng.
Anh H đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
TẠI PHIÊN TÒA
Tại phiên tòa hôm nay, Thị H người đại diện theo ủy quyền của
Nguyên đơn - vẫn giữ nguyên yêu cầu đã trình bày, yêu cầu Tòa án :
+ Buộc ông Đặng Quang V chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với
việc thực hiện quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và các quyền khác
đối với tài sản của bà Lương Thị Hải H là toàn bộ nhà đất tại địa chỉ Lô đất số A,
thửa đất số A, khu nhà cán bộ chiến Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N,
quận C, thành phố Hà Nội.
+ Huỷ hợp đồng cho thuê nhà ngày 17/4/2024 được giao kết giữa ông Đặng
Quang V và anh Nguyễn Công N, buộc anh N bàn giao lại nđất cho bà H.
+ Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện : Buộc ông V phải bồi
thường cho H số tiền 265.000.000 ( Hai trăm sáu mươi lăm triệu) đồng số
tiền bà H phải bồi thường cho Công ty Y học Đ khi ông Vinh có hành vi cản trở.
* Ông Đặng Quang V vẫn giữ nguyên yêu cầu đã trình bày đối với yêu cầu
khởi kiện của Nguyên đơn.
Đối với yêu cầu phản tố, ông V giữ nguyên yêu cầu :
9
+ Tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 22/05/2015 tại
Phòng công chứng QT (địa chỉ: Tổ X, khu X, X, C, thành phố Nội) vviệc
ông Đặng Quang V tặng cho con trai Đặng Quang H diện tích 42,5m² đất tại thửa
đất số A, tbản đồ số A, phường N, quận C, Nội. do hủy Hợp đồng:
Lương Thị Hải H anh Đặng Quang H đã làm trái với các điều kiện nêu trong
Hợp đồng ngày 22/05/2015 Lương Thị Hải H không thực hiện các thỏa
thuận giữa ông Đặng Quang V và bà H liên quan đến nhà, đt tại lô đất số A nói
trên trong Bản thỏa thuận được ký cùng ngày 22/05/2015.
+ hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 24/01/2022 tại phòng
công chứng X thành phố Hà Nội về việc anh Đặng Quang H tặng cho Lương
Thị Hải H diện tích 42,5m² đất tại thửa đất số A, tờ bản đồ số A, phường N, quận
C, Hà Nội
+ Ông Vinh rút một phần yêu cầu phản tố : Yêu cầu quan chức năng
thẩm quyền hoàn thiện thủ tục trả lại tên ông Đặng Quang V trong Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất như ban
đầu số BX 888xxx do Sở Tài nguyên Môi trường TP Nội cấp ngày
08/4/2015.
Những người có quyền nghĩa v liên quan vắng mặt và có đơn xin vắng
mặt nên Tòa án xét xử theo th tc chung.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận B có quan điểm:
+ Về việc tuân theo pháp luật:
- Về quyền khởi kiện,về thẩm quyền giải quyết vụ án, về xác định người
tham gia tố tụng, về việc lập hồ vụ án, về tiến hành thu thập chứng cứ, tống
đạt… về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán trong quá trình giải
quyết vụ án: Tòa án nhân Quận B đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Tuy nhiên trong hồ chưa Quyết định gia hạn thời gian chuẩn bị xét
xử.
- Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
+ Về đường lối giải quyết vụ án:
Đề nghị hội đồng xét xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với việc đề nghị
Tòa án buộc ông Đặng Quang V phải bồi thường số tiền 265.000.000 ( Hai trăm
sáu mươi lăm triệu) đồng số tiền H phải bồi thường cho Công ty Y học Đ
khi ông V có hành vi cản trở.
- Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Đặng Quang V về việc yêu cầu
quan chức năng có thẩm quyền hoàn thiện thủ tục trả lại tên ông Đặng Quang
10
V trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu tài sản khác gắn
liền với đất như ban đầu số BX 888xxx do Sở Tài nguyên Môi trường Nội
cấp ngày 08/4/2015.
- Hy hợp đồng thuê nhà ngày 17/04/2023 giữa ông Đặng Quang Vinh và
anh Nguyễn Công N.
- Buộc ông V và anh N chấm dứt hành vi cản tr thc hin quyn s hu,
quyền khác đối với tài sản là: Quyền s dụng đất của bà H tại Lô đất s 53,
thửa đất s A, khu nhà ở cán b chiến sĩ Cục B, Tng cc C, BCA, phường N,
quận C, thành phố Hà Nội.
- Không chấp nhận yêu cầu phn t của ông Đặng Quang V đối với bà
Lương Thị Hi H.
Bác các yêu cầu khác của các đương sự
Bị đơn được miễn án phí Dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án :
Ngày 11 tháng 07 năm 2024 bà Lương Thị Hải H nộp đơn khởi kiện tại Tòa
án nhân dân Quận B “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật huỷ hợp
đồng thuê nhà” đối với bị đơn là ông Đặng Quang V - i cư trú: CH Đ, phường
X, quận B, thành phố Hà Nội.
Như vậy, việc Tòa án nhân dân Quận B giải quyết vụ án đúng quy định
tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bluật
Tố tụng dân sự, là đúng thẩm quyền giải quyết vụ án theo lãnh thổ và loại việc.
[2] Về quan hệ pháp luật :
- Ngày 04/04/2022, Sở tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội đã cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu ncác tài sản khác gắn
liền với đất số DE 888xxx cho bà Lương Thị Hải H tại địa chỉ Lô đất số A, thửa
đất số A, Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
Ngày 09/7/2022, H hợp đồng cho Công ty cổ phần đầu tư Công
nghệ Y học Đ thuê nhà trong thời hạn ba năm (Hạn thuê đến ngày 15/7/2025) ,
giá thuê một tháng là 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.
Tháng 9/2023, ông V tự ý làm thông báo gửi Công ty cổ phần đầu tư và
Công nghệ Y học Đ sẽ thu hồi nhà vào tháng 10/2023. Ngày 02/10/2023, ông V
đã tự phá khoá cửa và thay khoá cửa khác.
Bà H đã phải bồi thường cho Công ty cổ phần đầu tư Công nghệ Y học
Đ số tiền 265.000.000 ( Hai trăm sáu mươi lăm triệu) đồng
Bà Lương Thị Hải H cho rằng ông V đã có hành vi trái pháp luật cản trở
thực hiện chủ quyền của bà đối với nhà đất tại Lô đất số A, thửa đất số A, Cục B,
Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, thành phố Hà Nội nên làm đơn khởi kiện.
11
Như vậy,quan hệ pháp luật này Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp
luật”theo quy định tại điều 169- Bộ luật Dân sự.
- Sau khi tự ý khóa cửa nhà đất tại Lô đất số A, thửa đất số A, khu nhà ở Cục
B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, thành phố Hà Nội, ông Đặng Quang V
đã ký Hợp đồng thuê nhà với anh Nguyễn Công N.
H cho rằng việc kết hợp đồng thuê nhà vi phạm pháp luật nên yêu
cầu Tòa án Hủy hợp đồng thuê nhà giữa ông Đặng Quang V anh Nguyễn
Công N.
Xét, ông Đặng Quang V không phải chủ sở hữu , sử dụng nhà đất tuy nhiên
vẫn ký Hợp đồng thuê nhà với anh Nguyễn Công N, như vậy giao dịch này đã vi
phạm điều kiện hiệu lực của giao dịch dân sự nên giao dịch dân sự này bị vô
hiệu theo quy định tại điều 122 - Bộ luật Dân sự.
Đối với yêu cầu phản tcủa ông Đặng Quang V: Ông V yêu cầu Toà án tuyên
huỷ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 22/05/2015 tại Phòng công chứng
Quang Trung theo quy định tại điều 457; 459; 462 Bộ luật Dân sự và tuyên Vô
hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 24/01/2022 tại phòng công chứng
X thành phố Hà Nội theo quy định tại chương VIII – Bộ luật Dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[3.1.1] Yêu cầu ông Đặng Quang V chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
đối với việc thực hiện quyền sở hữu,định đoạt, các quyền khác đối với tài sản của
Lương Thị Hải H tại địa chỉ đất số A, thửa đất số A, khu nhà cán bộ chiến
sĩ Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
[3.1.1.1] Về nguồn gốc nhà đất tại địa chỉ : Lô đất số 53, thửa đất số 53, Cục
B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
Ông Đặng Quang V nguyên là sỹ quan Công an, năm 1992, ông Vinh được
Tổng cục C BCA cấp giao 39 m2 đất tại Lô đất số X, khu tập thể cán bộ chiến
B, Tổng cục C BCA, phường N, quận C, Hà Nội. Sau đó ông V mua thêm 3,5
m2 đất để thành đất 42,5 m2 đất tại địa chỉ: đất số A, Cục B, Tổng cục C,
BCA, phường N, quận C, Hà Nội như hiện nay.
Năm 2008, ông V và vợ cũ là bà Ngô Thúy H xây nhà 04 tầng 01 tum trên
đất được giao.
Năm 2014, ngôi nhà 04 tầng 01 tum trên diện tích đất này là tài sản ông V
được phân chia trong vụ án chia tài sản sau ly hôn số 55/2014/HNGĐ-PT ngày
23/7/2014 của Tòa án nhân dân TP Hà Nội.
[3.1.1.2] Về “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất” ngày 05/9/2013 Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số
1062.2015/HĐTCHO ; quyển số 01TP/CC -SCC/HĐGD ngày 22/5/2015 của n
phòng công chứng QT
12
Năm 2003, ông V có quan hệ tình cảm với bà Lương Thị Hải H và sinh ra
anh Đặng Quang H ngày 19/12/2003.
Ngày 05/9/2013, ông Đặng Quang Vviết tay Hợp đồng tặng cho tài sản”
toàn bộ 42,5m2 đất nhà 04 tầng 01 tum tại đất số A, khu nhà cán bộ
chiến sỹ Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Nội cho anh Đặng
Quang H.
Năm 2015, ông V được Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Nội
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 888xxx. Lúc đó trên đất đã có n
04 tầng – 01 tum xong ông Vinh chưa đăng ký biến động để xin cấp chứng nhận
Quyền sở hữu nhà các tài sản khác gắn liền với đất được chưa đủ điều
kiện.
Ngày 22/5/2015, tại Văn phòng công chứng QT, ông V Hợp đồng tặng
cho quyền s dụng đất số 1062.2015/HĐTCHO ; quyển số 01TP/CC -
SCC/HĐGD tặng cho con trai Đặng Quang H toàn bộ 42,5m2 đất tại đất sA,
Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Hà Nội.
Xét, đất số A Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, thành phố Hà
Nội do Tổng cục C BCA cấp giao cho ông Đặng Quang V 39 m2 ; ông V mua
thêm 3,5 m2 đất và thành lô đất 42,5 m2 như hiện nay.
Năm 2008 ông V xây nhà 4 tầng 01 tum trên toàn bdiện ch 42,5m2 đất.
Thời điểm này ông V chưa ly hôn với bà Ngô Thúy H, tuy nhiên ông V khẳng
định bà H đã biết ông có con riêng là anh Đặng Quang H.
Ngày 12/12/2012 ông V và bà H đã ký Biên bản thỏa thuận”, tại mục 2 của
Biên bản ghi nhận Căn nhà 43m2, 05 tầng tại Tập thể Tổng cục B BCA, ngõ
X đường H , phường N, C, Hà Nội. Đất được cơ quan phân cho ông V năm 1992,
nhà xây năm 2009, được ông Đặng Quang V Ngô Thúy H cho cháu Đặng
Quang H là con trai riêng của ông V”.
Ngày 05/9/2013, sau khi thỏa thuận với bà Ngô Thúy H, ông V đã tự tay soạn
thảo “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, theo đó
ông V đã tặng cho anh Đặng Quang H toàn bộ quyền shữu sử dụng ngôi
nhà 04 tầng 1 tum trên diện tích đất 42 m2 tại đất số X, khu tập thể B, Tổng
cục C BCA, phường N, quận C, Nội”, ông V tả rất cụ thể về ngôi nhà cũng
như nguồn gốc thửa đất, và kèm theo các điều kiện :
- Không được bán nhà đất khi ông V còn sống
- Được toàn quyền s dụng và cho thuê 1 phần căn nhà
- Ông V không trú, không can thiệp vào việc s dụng và cho thuê 1 phần
căn nhà
- Khi được cp Giy chng nhận và tài sản trên đất …thì ông V s làm thủ
tục sang tên,đổi ch cho cháu Đng Quang H theo quy đnh ca pháp
lut…
Và một vài điều kiện khác.
Tại phiên tòa hôm nay, ông V cũng khẳng định vic cho anh H nhà đất là
mong mun của cá nhân ông V cũng như dòng họ của ông V vì anh H là con trai
trưởng của ông V, là đích tôn của dòng họ. Như vậy, ý chí ch quan của ông V
13
cho anh Đng Quang H toàn bộ 42,5m2 đất và ngôi nhà 4 tầng 1 tum trên đất ti
địa ch Lô đất s X, Cc B, Tng cc C, BCA, phường N, qun C, Hà Nội.
Ngày 08/4/ 2015, ông Vinh đưc S i nguyên và Môi trường thành phố
Hà Nội cp giy chng nhn quyn s dng đất s BX 888xxx.
Tại phiên tòa, ông Vinh khẳng định: Khi được cấp Giấy chứng nhận thì
trên đất đã nhà 04 tầng 01 tum xong vì chưa đủ điều kiện ( chưa bản vẽ
hoàn công…) nên ông V chưa đăng ký được biến động đối với ngôi nhà.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 22/5/2015, tại
Văn phòng công chứng QT, ông V đã “Hợp đồng tặng cho” quyền sử dụng
42,5m2 đất tại lô đất số X nói trên cho anh Đặng Quang H.
Như vậy, ông V đã thực hiện ngay cam kết của ông trong văn bản ngày
05/9/2013 khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, càng khẳng định ý
chí chủ quan của ông V với tâm niệm tặng cho anh H toàn bnhà đất tại
đất số X, Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Hà Nội. Hợp đồng tặng
cho có kèm theo điều kiện :
- “Người giám hộ cho người được nhn tặng cho không được quyn thay
mặt người được tng cho (ch s dng đất) để thc hiện các giao dịch:
Chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, thế chp, cm c, đt cọc… và các
giao dịch khác đối với tài sản trên.
- Người nhn tặng cho có nghĩa vụ phụng dưng cha, m khi cha m già
yếu. Trường hợp người được nhn tặng cho (cháu Đặng Quang H) có
hành vi bất hiếu với người tng cho , vi dòng họ thì người tng cho
cháu – Đặng Quang V có quyền đòi lại tài sản tặng cho và Hợp đồng
tặng cho này bị hu b
Khi ký Hợp đồng tặng cho, ông V có đủ năng lực trách nhiệm Dân sự, anh
Hải chưa đủ 18 tuổi nhưng Lương Thị Hải H ( mẹ đẻ của anh H) đã đại diện
theo pháp luật – Hợp đồng. Cho đến khi đủ 18 tuổi tròn, anh H không vi phạm
bất cứ điều kiện nào trong “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất” ngày 05/9/2013 Hợp đồng tặng cho ngày 22/5/2015 nên Hợp
đồng tặng cho ngày 22/5/2015 có hiệu lực pháp luật và tài sản ông Đặng Quang
V tặng cho anh Đặng Quang H bao gồm 42,5m2 đất nhà 04 tầng 01 tum xây
trên toàn bộ 42,5m2 đất tại đất số X, khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục B, Tổng
cục C, BCA, phường N, quận C, Hà Nội.
Việc chứng thực Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số
1062.2015/HĐTCHO; quyển số 01TP/CC -SCC/HĐGD ngày 22/5/2015 của Văn
phòng công chứng QT đúng các quy định của pháp luật.
[3.1.2] Về Hợp đồng tặng cho scông chứng 4398, Quyền số 03/2021
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/12/2021 của Phòng công chứng số X thành phố Hà
Nội.
14
Ngày 24/12/2021, anh Đặng Quang H Hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất”, s công chứng 4398, Quyền số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng
công chứng số X thành phố Nội, theo đó , anh H đã tặng cho Lương Thị
Hải H toàn bộ quyền sử dụng 42,5m2 đất tại Lô đất sX, khu nhà ở cán bộ chiến
sỹ Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Nội, anh H cũng tặng cho
bà Lương Thị Hải H ngôi nhà 04 tầng 01 tum xây trên toàn bộ 42,5m2 đất tại
đất số X, Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Hà Nội.
Xét, anh Đặng Quang H chủ sở hữu sử dụng hợp pháp toàn bộ nhà và
đất tại đất số X, Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Nội. Khi
anh H đủ 18 tuổi tròn, anh H toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt toàn
bộ nhà đất này, trong các Hợp đồng tặng cho giữa ông Đặng Quang V anh H
cũng không có điều kiện hạn chế là “ không được tặng cho người thứ 3” nên việc
anh H tự nguyện tặng cho bà H ( mẹ đẻ của anh H) toàn bộ nhà đất tại
đất số X, Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Nội đúng các quy
định của pháp luật.
Việc chứng thực “ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”, scông chứng
4398, Quyền số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng công chứng số X thành
phố Hà Nội đúng các quy định của pháp luật.
[ 3.1.4] Về yêu cầu khởi kiện “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp
luật”: Sau khi nhận tặng cho tài sản bà Lương Thị Hải H đã được Sở Tài nguyên
và Môi trường thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà và các tài sản khác gắn liền với đất ngày 04/04/2022.
Kể từ ngày 04/4/2022, bà Lương Thị Hải H chủ sở hữu sử dụng hợp
pháp toàn bộ nhà đất tại Lô đất số X, Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận
C, Hà Nội.
Thực hiện quyền shữu, sử dụng của mình, ngày 09/7/2022, H đã
hợp đồng cho Công ty cổ phần đầu tư và Công nghệ Y học Đ thuê nhà trong thời
hạn ba năm (Hạn thuê đến ngày 15/7/2025)
Tháng 9/2023, ông V tự ý thông báo cho Công ty cổ phần đầu và Công
nghệ Y học Đ sthu hồi nhà vào tháng 10/2023. Ngày 02/10/2023, ông V đã tự
phá khoá cửa và thay khoá cửa khác.
Xét, kể từ ngày 04/4/2022, Lương Thị Hải H chủ sở hữu sử dụng
hợp pháp toàn bộ nhà đất tại đất sX, Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N,
quận C, Hà Nội.
Việc bà H Hợp đồng cho thuê tài sản của mình là hợp pháp, được Pháp
luật bảo vệ.
Kể từ ngày anh Đặng Quanh H đủ 18 tuổi tròn và không vi phạm điều kiện
nào trong Hợp đồng tặng cho giữa ông V anh H thì ông Đặng Quang V đã
không còn quyền lợi và nghĩa vụ gì đối với nhà đất tại Lô đất số X, Cục B, Tổng
cục C, BCA, phường N, quận C, Nội. Việc ông V tự ý thông báo chấm dứt
Hợp đồng thuê nhà đối với Công ty cổ phần đầu Công nghệ Y học Đ, tự ý
15
thay khóa cửa là hành vi cản trở trái pháp luật quyền sở hữu tài sản của bà Lương
Thị Hải H, cần chấm dứt.
Do đó, có cơ sở để HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị
Hải H về “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luậtđối với ông Đặng
Quang V.
[3.1.5] Về yêu cầu Huỷ hợp đồng cho thuê nhà ngày 17/4/2024 được giao
kết giữa ông Đặng Quang V và anh Nguyễn Công N, buộc anh N bàn giao lại nhà
đất cho bà H.
Sau khi tự ý thông báo cho Công ty cổ phần đầu Công nghệ Y học Đ
sẽ thu hồi nhà vào tháng 10/2023. Ngày 02/10/2023, ông V đã tự phá khoá cửa và
thay khoá cửa khác.
Sau đó, ông V đã ký Hợp đồng cho anh Nguyễn Công N thuê nhà đất của
bà Lương Thị Hải H.
Xét, ông Đặng Quang V không phải chủ sở hữu và sử dụng hợp pháp nhà
đất tại Lô đất số A, khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục B, Tổng cục C, BCA, phường
N, quận C, Nội nên việc ông V Hợp đồng cho anh Nguyễn Công N thuê
toàn bộ nhà đất tại đất số A, khu nhà cán bchiến sỹ Cục B, Tổng cục C,
BCA, phường N, quận C, Nội không đúng về chủ thể, vi phạm điểm a khoản
1 Điều 117 Bộ luật Dân sự , vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lương
Thị Hải H nên giao dịch giữa ông Đặng Quang V anh Nguyễn Công N hiệu
theo điều 122 – Bộ luật Dân sự.
*V hu qu pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
Xét về lỗi khi tham gia giao dịch :
Ông Đặng Quang V biết pháp luật buộc ông V phải biết ông không phải
chủ shữu, sử dụng hợp pháp đối với nhà đất nhưng vẫn Hợp đồng cho anh
Nguyễn Công N thuê nhà là hành vi cố ý.
Khi ký Hợp đồng thuê nhà, anh Nguyễn Công N không tìm hiểu kỹ, không
yêu cầu ông V xuất trình các tài liệu, chứng cứ chứng minh chủ sở hữu hợp pháp
của ông đối với nhà đất cho thuê nhưng vẫn giao kết Hợp đồng.
Như vậy, để giao dịch xảy ra hiệu là lỗi thuộc cả 2 bên. HĐXX xác định
lỗi 50/50. Tuy nhiên, ông V và anh N đều không yêu cầu HĐXX xem xét và giải
quyết hậu quả của giao dịch Dân sự hiệu nên dành quyền khởi kiện cho ông
Đặng Quang V anh Nguyễn Công N khi yêu cầu giao nộp các tài liệu,
chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình bằng một vụ kiện Dân sự
khác.
[3.1.6] Về yêu cầu : Buộc ông V bồi thường cho H số tiền kể từ khi ông
V phá khoá cửa vào nhà từ tháng 10/2023 đến nay, cụ thể 265.000.000 (Hai
trăm sáu mươi lăm triệu) đồng số tiền bà H phải bồi thường cho Công ty Y học
Đ khi bà H phải hủy bỏ Hợp đồng thuê nhà khi ông V đã có hành vi cản trở.
16
Tại phiên tòa, bà Lương Thị Hải H có nguyện vọng xin được rút một phận
đơn khởi kiện đối với yêu cầu: Buộc ông V bồi thường cho H số tiền
265.000.000 (Hai trăm sáu mươi lăm triệu) đồng khoản tiền H phải bồi
thường cho Công ty Y học Đ khi bà H phải hủy bỏ Hợp đồng thuê nhà khi ông V
đã có hành vi cản trở trái pháp luật.
Xét, nguyện vọng của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp với các quy định
của pháp luật. Đối với yêu cầu này, bị đơn không có phản tố nên cần chấp nhận
[3.2] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn:
[3.2.1] Tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 22/05/2015
tại Phòng công chứng QT vì bà Lương Thị Hải H và anh Đặng Quang H đã làm
trái với các điều kiện nêu trong Hợp đồng ngày 22/05/2015 và bà Lương Thị Hải
H không thực hiện các thỏa thuận giữa ông V và bà H liên quan đến nhà, đất tại
lô đất số A trong Bản thỏa thuận được ký cùng ngày 22/05/2015.
Ngày 22/5/2015 tại Phòng công chứng QT, ông Đặng Quang V đã ký “Hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất” cho anh Đặng Quang H. Tuy nhiên vào thời
điểm tặng cho anh H chưa đủ tuổi thành niên nên người đại diện cho anh H ký kết
hợp đồng tặng cho là bà Lương Thị Hải H mẹ đẻ của anh H.
Tại điều 1, mục 1.3 - Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có quy định
về các điều kiện kèm theo, như sau:
- “Người giám hộ cho người được nhn tng cho không được quyn thay
mặt người được tng cho (ch s dụng đất) để thc hiện các giao dch:
Chuyển nhượng, cho thuê, cho n, thế chp, cm c, đt cọc… và các
giao dịch khác đối với tài sản trên.
- Ngưi nhn tặng cho có nghĩa vụ phụng dưỡng cha, m khi cha m già
yếu. Trường hợp người được nhn tặng cho (cháu Đặng Quang H) có
hành vi bất hiếu với người tng cho, với dòng họ thì người tặng cho cháu
Đặng Quang V quyền đòi lại tài sản tặng cho và Hợp đồng tng
cho này bị hu b
Tại phiên tòa, ông V cho rằng anh Hải đã hành vi bất hiếu với ông
gia đình ông như : Đuổi cháu của ông V ra khỏi nhà, không thăm hỏi ông V
mẹ ông V ( nội của anh H). Tuy nhiên, ông V lại thừa nhận Tết năm 2025,
anh H về quê ăn Tết với ông gia đình ông, cũng chưa bao giờ hành vi
hay lời nói nào hỗn hào với ông và gia đình ông… Hành vi đuổi cháu ruột của
ông V ra khỏi nhà..” không phải hành vi bất hiếu nên HĐXX sở để khẳng
định anh Đặng Quang H không vi phạm các điều kiện của Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất”.
Đối với các điều kiện : Không mua bán, tặng cho nhà đất. các giao dịch đều
phải được sự đồng ý của ông V, không cản trở ông V sinh sống tại nhà đất; ông
17
V quyền yêu cầu chia đôi số tiền cho thuê nhà ; được hưởng 50% giá trị n
đất khi bán trong tường hợp ông đau ốm, khó khăn
Trong thời gian giám hộ cho anh H từ ngày Hợp đồng tặng cho ( ngày
22/5/2015) đến ngày anh H đủ 18 tuổi tròn ( ngày 19/12/2021) , ông Đặng Thế V
không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ chứng minh Lương Thị Hải H vi
phạm các điều kiện kèm theo trong Hợp đồng tặng cho quyền sdụng đất” ngày
22/5/2015
tại Phòng công chứng QT cũng như các điều khoản trong “Bản thỏa thuận”
cùng ngày 22/5/2015 giữa ông Đặng Quang V và bà Lương Thị Hải H
Do đó, HĐXX không có sở để chấp nhận yêu cầu phản tố này của ông
Đặng Quang V.
[3.2.2] Đới với yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án tuyên: Vô hiệu Hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất ngày 24/01/2022 tại phòng công chứng X thành phố
Hà Nội giữa anh Đặng Quang H bà Lương Thị Hải H.
Anh Đặng Quang H, sinh ngày 19/12/2003
Ngày 19/12/2021, anh H đủ 18 tuổi tròn.
Ngày 24/01/2022, tại Phòng công chứng X, anh H ký “Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất” đối với bà Lương Thị Hải H.
Xét, khi “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất các bên tham gia đều
tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, anh H và bà H đều có năng lực hành vi dân
sự, trong bản “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” ký ngày 22/5/2015 tại Văn
phòng công chứng QT không điều kiện kèm theo anh Hải không được
tặng cho lại tài sản cho bên thứ 3 nên việc anh Đặng Quang H tặng cho mẹ đẻ
là bà Lương Thị Hải H nhà đất tại Lô đất số A, khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục B,
Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Nội hoàn toàn đúng với các quy định
của pháp luật nên HĐXX không sở đchấp nhận yêu cầu phản tố của bị
đơn.
[3.2.3] Đối với yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền hoàn thiện thủ tục
trả lại tên ông Đặng Quang V trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu tài sản khác gắn liền với đất như ban đầu số BX 888xxx do Sở Tài nguyên
và Môi trường Hà Nội cấp ngày 08/4/2015.
Tại phiên tòa, ông V tự nguyện xin rút yêu cầu quan chức năng thẩm
quyền hoàn thiện thủ tục trả lại tên ông Đặng Quang V trong Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất như ban đầu số
BX 888xxx do Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cấp ngày 08/4/2015.
Xét, nguyện vọng của ông V tự nguyện, không trái với đạo đức XH các
quy định của pháp luật nên HĐXX cần chấp nhận.
Về án phí: Ông Đặng Quang V không phải chịu án phí Dân sự thẩm theo
quy định của pháp luật.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đối với bà Lương Thị Hải H.
18
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án.
Bác các yêu cầu khác của các đương sự
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 117; 122; 169; 457; 459; 462 ; 472 - Bộ luật Dân sự năm
2015.
Căn cứ các Điều 5, 26, 36, 271, 273 - Bộ luật tố tụng Dân sự.
Căn cứ Luật Người Cao tuổi
Căn cứ các Điều 24, 27 - Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
1.Đình chỉ 1 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc : Buộc ông V
bồi thường cho bà H số tiền 265.000.000 (Hai trăm sáu mươi lăm triệu) đồng
khoản tiền bà H phải bồi thường cho Công ty Y học Đ khi bả H phải hủy bỏ Hợp
đồng thuê nhà khi ông V đã có hành vi cản trở trái pháp luật.
2. Đình chỉ 1 phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu cơ quan chức
năng có thẩm quyền hoàn thiện thủ tục trả lại tên ông Đặng Quang V trong Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất như
ban đầu số BX 888xxx do Sở Tài nguyên Môi trường Nội cấp ngày
08/4/2015.
3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện còn lại của bà Lương Thị Hải H.
- Buộc ông Đặng Quang V chấm dứt mọi hành vi cản trở trái pháp luật đối với
việc thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt toàn bộ nhà đất tại Lô đất
số A, khu nhà cán bộ chiến sỹ Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận C, Hà
Nội của bà Lương Thị Hải H.
- Hợp đồng thuê nhà ngày 17/4/2024 giữa ông Đặng Quang V anh
Nguyễn Công N vô hiệu với lỗi 50/50.
Giành quyền khởi kiện đối với ông Đặng Quang V và anh Nguyễn Công N về
yêu cầu bồi thường thiệt hại do Hợp đồng thuê nhà hiệu khi các bên Đơn
yêu cầu và giao nộp các tài liệu chứng cứ có liên quan
4. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố còn lại của ông Đặng Quang
V. Buộc ông Đặng Quang V và anh Nguyễn Công N phải bàn giao lại nhà đất tại
đất số A, khu nhà cán bộ chiến sỹ Cục B, Tổng cục C, BCA, phường N, quận
C, Hà Nội cho bà Lương Thị Hải H.
Bác các yêu cầu khác của các đương sự
19
5. Về án phí: Ông Đặng Quang V không phải chịu án phí Dân sự thẩm
theo quy định của luật Người Cao tuổi.
Hoàn trả cho bà Lương Thị hải H số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) đồng
tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 21941 ngày 01/10/2024 của Chi cục
thi hành án dân sự quận B, thành phố Hà Nội.
6.Về quyền kháng cáo:
Lương Thị Hải H ông Đặng Quang V quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng
cáo phần liên quan trong bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt
bản án
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Các đương sự THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Quận B
- TAND TP Hà Nội
- VKSND TP Hà Nội
- THADS Quận B
- Lưu hồ sơ Đặng Quỳnh C
20
Tải về
Bản án số 65/2025/DS-ST Bản án số 65/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 65/2025/DS-ST Bản án số 65/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất