Bản án số 474/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 474/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 474/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 474/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Hồng D - Nguyễn Văn A - Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 474/2026/DS-PT
Ngày: 27-5-2026
V/v tranh chấp: “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Nhàn
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
- Thư phiên tòa: Ông NPhúc Thẩm - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 27 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân n tỉnh
Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1057/2025/TLPT-DS
ngày 31 tháng 12 m 2025 vtranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyn s
dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 95/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 586/2026/QĐ-PT ngày
05 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Hồng D, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, tổ A, Ấp A, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp A, xã
C, tỉnh Đồng Tháp).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Số B, N, Phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là phường
M, tỉnh Đồng Tháp).
Đại diện ủy quyền:Dương Mỹ L, sinh năm 1988 (có mặt);
Địa chỉ: Số G, khu phố H, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Võ Thanh S, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, tổ A, Ấp A, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp A, xã
C, tỉnh Đồng Tháp).
2. Bà Võ Thị Thanh T, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, P, Phường C, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (nay phường
T, thành phố H Chí Minh).
3. Chị Trần Thị Ngọc A, sinh ngày 26/3/1986 (có mặt).
Địa chỉ : 1, N, Phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. (nay là phường
A, thành phố H Chí Minh).
4. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Đ, T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay phường T, tỉnh
Đồng Tháp).
5. Văn phòng C (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp A, xã H, tỉnh Đồng
Tháp).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Võ Thị Hồng D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Nguyên đơn ch Võ Thị Hồng D trình bày:
Thông qua giới thiệu của môi giới, được biết ông Á cho vay tiền nên năm
2023 chị đã liên hệ ông Á vay số tiền 3.000.000.000 đồng. Để đảm bảo khoản nợ
vay, chị đã thế chấp cho ông Á 02 thửa đất số 316, 317 tọa lạc tại ấp A, Đ,
huyện C, tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên ông Á không đng ý lập hợp đng thế chấp
nên ngày 09/10/2023 hai bên đã đến Văn phòng C lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất trên. Sau khi hợp đồng, ông Á đã tự ý
làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang cho ông đứng tên.
Cùng ngày 09/10/2023, hai bên 01 hợp đồng thuê đất thỏa thuận giá thuê
90.000.000 đồng/tháng. Theo chị D hợp đồng thuê đất khoản tiền lãi chị phải
trả hàng tháng cho ông Á. Do đây hợp đồng giả cách để đảm bảo khoản nợ vay.
Thực tế chị không có bán đất cho ông Á mà vẫn đang quản lý sử dụng nên chị D
khởi kiện yêu cầu:
- Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 4532, quyển số 04 ngày
09/10/2023. Nguyên đơn tự nguyện hoàn trả cho ông Á 4.000.000.000 đồng.
Trong đó có 3.000.000.000 đồng thực tế đã nhận và 1.000.000.000 đồng lãi suất.
- Kiến nghthu hi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông
Nguyễn Văn Á.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Á trình bày:
3
Giao dịch giữa ông chị D là mua bán đất, không phải thỏa thuận vay mượn
tiền như chị D trình bày. Mặc dù giá trong hợp đồng là 700.000.000 đồng nhưng
giao dịch thực tế 6.000.000.000 đồng. Sau đó ông hỗ trợ cho chị D thêm
100.000.000 đồng tiền di dời mmã. Sau khi bán đất, chị D nguyn vọng chuộc
lại đất nên các bên mới thêm hợp đồng thuê đất. Tuy nhiên chị D cứ kéo dài
thời gian không chuộc lại đất. Ông xác định thỏa thuận của hai n đúng quy
định pháp luật nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Thanh S, bà Võ Thị Thanh
T có bản khai trình bày:
Thời điểm chị D, ông Á ký thỏa thuận mua bán đất, trên đất có 01 căn nhà
của T xây dựng cho D sử dụng và ông S đang ở tại 02 thửa đất trên. Đối với
tranh chấp giữa hai bên ông S, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Cây trồng, vật kiến trúc trên đất không yêu cầu xem
xét bồi thường.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Ngọc A bản khai
trình bày:
Thực tế giao dịch giữa hai bên là vay mượn tiền nên yêu cầu Tòa án hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai bên đã ký.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Q trình bày:
Chị môi giới mua bán đất. Sau khi giới thiệu cho hai bên, chị nhận tiền
huê hồng kết thúc giao dịch. Đối với tranh chấp giữa hai bên chị không ý
kiến.
quan quyền lợi nghĩa vụ liên quan văn phòng C trình bày: Các hợp
đồng công chứng, chứng thực giữa các bên Văn phòng C đã thực hiện đúng quy
định pháp luật. Nay Văn phòng không có ý kiến đối với tranh chấp giữa các bên.
Tại bản án dân sự thẩm số 95/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 m 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 5 Đồng Tháp đã quyết định áp dụng: Các Điều 26, 85,
147, 227, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 131, 423, 427 Bộ luật dân
sự 2015; Điều 166, 167, 168, 188 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định vmức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, x:
1. Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Hồng D.
1.1. Tuyên bố hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 4532, quyển số
04/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/10/2023 giữa chị Thị Hồng D với ông
Nguyễn Văn Á tại Văn phòng C đối với 02 thửa đất số 316, 317 tọa lạc tại ấp A,
Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Kiến nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CN10647 ngày 23/10/2023 đã cấp cho ông
Nguyễn Văn Á.
4
Chị Thị Hồng D quyền nghĩa vụ liên hệ quan thẩm quyền
làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp
luật sau khi thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho ông Nguyễn Văn Á.
1.2. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng thuê đất ngày 09/10/2023.
1. 3. Không chấp nhận yêu cầu của chị D vviệc trả cho ông Á số tiền
4.300.000.000 đồng. Buộc chị Thị Hồng D trả cho ông Nguyễn Văn Á
6.100.000.000 đồng 762.500.000 đồng lãi suất. Tổng cộng 6.862.500.000
đồng (Sáu tỷ tám trăm sáu mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 09/9/2025 nguyên đơn chị Thị Hồng D đơn kháng cáo bản án
thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa án thẩm: Thị Hồng
D đồng ý trả lại ông Nguyễn Văn Á số tiền 4.100.000.000 đồng tiền lãi phát
sinh từ 2014 đến năm 2025.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Thị Hồng D vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo, không đồng ý trả cho ông Á số tiền 6.100.000.000 đồng tiền
lãi. Đại diện của bị đơn không đồng ý theo kháng cáo của nguyên đơn. Các đương
sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết v án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Về tố
tụng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân
sự, ktkhi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng
theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy trên sthỏa thuận của các đương sự thống nhất hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/10/2023 giữa ông
Nguyễn Văn Á chị Võ Thị Hồng D. Tòa án cấp thẩm ghi nhận sự thỏa thuận
hủy hợp đồng ký kết giữa các bên là đúng quy định pháp luật. Ông Á xác định đã
giao cho chị D số tiền 6.100.000.000 đồng thể hiện qua các biên nhận ngày
09/10/2023; biên nhận ngày 08/11/2023; biên nhận ngày 18/01/2024; biên nhận
ngày 27/4/2024. Phía chị D không thừa nhận có nhận của ông Á số tiền
6.100.000.000 đồng, chD chỉ thừa nhận vay của ông Á số tiền 4.300.000.000
đồng và cung cấp chứng cứ là đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa ông Á chị D.
Xét nội dung đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa ông Á chị D không
đoạn nào thể hiện ông Á thừa nhận giao cho chị D số tiền 4.300.000.000 đồng mà
căn cứ vào các biên nhận do ông Á cung cấp, ch D thừa nhận tên nên
sở xác định chị D nhận của ông Á s tiền 6.100.000.000 đồng. Tòa án cấp
thẩm buộc chị D trả ông Á stiền 6.100.000.000 đồng là sở. Đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận
kháng cáo của chị Võ Thị Hồng D, giữ y bản án thẩm của Tòa án nhân dân khu
vực 5- Đồng Tháp.
5
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, nội dung
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Xét đơn kháng cáo của chị Thị Hồng D nộp trong thời hạn, đúng quy
định tại Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết
theo trình tự phúc thẩm.
Về quan hệ tranh chấp: n cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án
cấp thẩm xác định quan hệ: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất”
quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định.
[2] Về nội dung:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ vụ án sở xác định: Các đương sự đều
thống nhất việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Thị Hồng D với
ông Nguyễn Văn Á diện tích 2.264,2m
2
được xác lập vào ngày 09/10/2023. Theo
đó các bên thỏa thuận chị D chuyển nhượng diện tích 02 thửa 316, tờ bản đồ số
17, diện tích 2.264,2m
2
; Thửa 317, tờ bản đồ 17 diện tích 1.015,1m
2
tại ấp A, xã
Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay Đ, tỉnh Đồng Tháp) với giá chuyển nhượng
ghi trong hợp đồng là 700.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng, công chứng chứng thực của Văn
phòng C. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng ông Á đã đăng biến động
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN10647; CN10646 ngày
23/10/2023. Chị D cho rằng hợp đồng chuyển nhượng thửa 316, 317 giả tạo
nhằm che giấu hợp đồng vay, chị yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng ký ngày
09/10/2023.
Xét thấy: Quá trình xét xử tại cấp sơ thẩm, các bên đương sự thống nhất hy
hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 316, 317 giữa chị Thị Hồng D với ông
Nguyễn Văn Á. Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự,
tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa chị Thị Hồng D với ông Nguyễn
Văn Á đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 4532, quyển số 04/2023/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 09/10/2023 tại Văn phòng C đối với 02 thửa đất số 316, 317
tọa lạc tại ấp A, xã Đ, huyện C là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của chị D không đồng ý trả số tiền 6.100.000.000 đồng
cho ông Á nhận thấy,
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, chD đều không
thừa nhận vay của ông Á tổng số tiền 6.100.000.000 đồng. ChD cung cấp
chứng cứ Vi bằng số 905/2026/VB-TPLQ8 ngày 11/5/2026 của Văn phòng T2.
Nội dung ghi lại cuộc nói chuyện giữa chD, ông Á, chị Q, T1 vào ngày
15/4/2025, được người đại diện ủy quyền của ông Á thừa nhận giọng nói trong
đoạn ghi âm trên là của ông Á. Nhận thấy, đoạn ghi âm có nội dung:
6
Chị D: Lãi cũng đã lãi rồi thì thôi chị ráng giúp em đi.
Ông Á: Bây giờ á là nói thẳng với em là cứ mỗi tháng nó lên vậy đó, thì em
làm sớm thì được sớm thôi, chứ còn anh thì không bớt được.
Chị D: Thì giờ anh B ảnh không bớt được, thì giờ cứ 1 tháng 200 tchị ráng
giúp em đi, tháng 200 tiền lãi chị chị trả sớm thì em nhẹ lại một chút.
T1: Tiền đâu mà một tháng 200
Ông Á: Chứ giờ tiền đâu tháng anh đóng 200 nè
Chị Q: Bây giờ chốt lại
Ông Á: Em không có tiền là anh anh khổ nè
Chị D: Em muốn chốt lại đặng một lần luôn em trả.
Ông Á: Thì ý bây giờ nè, anh đã nói bây giờ nè, hiện nay 1 tháng cứ 200
triệu, là bữa nay là từ 27 tháng 4, 27 tháng 5, 27 tháng 6, 27 tháng 7 cứ tính tới,
khi nào ra công chứng rồi anh em ngồi lại, đó phải không ok, đâu
đâu, chứ anh đâu có làm khó dễ, đâu phải anh đòi 8,9 tỷ, 10 tỷ đâu.
Xét thấy: Căn cứ vào nội dung đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa ông Á và
chị D thể hiện nội dung giao dịch vay tiền giữa các bên thỏa thuận tiền
lãi, nên có sở xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Nguyễn Văn Á và chị Võ Thị Hồng D giả tạo để che giấu hợp đồng vay tài sản
theo khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự.
Xét hợp đồng hiệu do giả tạo thì xác định được hợp đồng bị che giấu
hợp đồng vay. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận
thống nhất được số tiền giao nhận theo các biên nhận nợ (là hợp đồng vay bị che
giấu). Đồng thời, chị D cho rằng quá trình vay tiền của ông Á chị đóng lãi
nhiều lần, thông qua chị Nguyễn Thị Q cung cấp các tin nhắn Zalo thể hiện tin
nhắn của chị Q (tên tài khoản Z) có nhận tiền lãi của chị D.
Xét, Tòa án cấp thẩm chưa xác minh làm số tiền vay vốn gốc tiền
lãi trong các biên nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Q vắng mặt nên Hội đồng
xét xử không làm rõ được việc trả lãi của chị D. Đồng thời không làm nội dung
các tin nhắn zalo của chị Q với chị D về các khoản tiền lãi đã trả. Do có phát sinh
tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm chưa được Tòa án cấp thẩm m các
vấn đề trên sẽ ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm
không thể khắc phục được các thiếu sót trên tại phiên tòa nên cần phải hủy án sơ
thẩm, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung. Do hủy án
nên Hội đồng xét xử chưa xét nội dung kháng cáo của các đương sự.
[4] Từ những phân tích trên, xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử
nên không được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Chị Võ Thị Hồng D không phải chịu án phí phúc
thẩm.
Vì các l trên;
7
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 ca B lut T tng dân s;
1. Hy bản án sơ thẩm s 95/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 ca Tòa án nhân
dân khu vc 5- Đồng Tháp. Giao h sơ về Tòa án cấp sơ thẩm gii quyết li theo
th tc chung.
2. V án phí phúc thm: ChTh Hng D không phi chu án phí dân s
phúc thẩm, nên được hoàn lại 300.000 đồng tm ng án phí phúc thm theo biên
lai thu s 0002261 ngày 09/9/2025 ca Thi hành án dân s tỉnh Đồng Tháp.
3. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Án tuyên vào lúc 14 gi 00 phút, ngày 27/5/2026 có mt nghe tuyên án ông
Á, đi din Vin kim sát./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực 5 – Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diệp Thúy
Tải về
Bản án số 474/2026/DS-PT Bản án số 474/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 474/2026/DS-PT Bản án số 474/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất