Bản án số 1043/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1043/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1043/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1043/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Huỳnh T "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất" Mai Thanh T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1043/2026/DS-PT Bản án số 1043/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1043/2026/DS-PT Bản án số 1043/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 1043/2026/DS-PT
Ngày: 14-8-2026
V/v tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư phiên tòa: Ông Trung Kiên - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Thanh Giúp - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh t
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 562/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng 7 năm
2026, về “Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 164/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 523/2026/QĐ-PT ngày
16 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Huỳnh T, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã D, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà T: Anh Phạm Văn T1, sinh
năm 1985 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố N, phường B, tỉnh Tây Ninh.
(Hợp đồng ủy quyền ngày 25-11-2025)
2. Bị đơn:
2.1. Ông Mai Thanh T2, sinh năm 1973 (có đơn xin vắng mặt).
2.1. Bà Lê Thị Thanh L, sinh năm 1975 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Ông Nguyễn Tấn T3, sinh năm 1988 (vắng mặt).
3.2. Bà Lê Thị Hồng T4, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông T3, T4: Mai Thị
Diệu H, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh.
3.2. Ông Võ Văn C, sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh.
3.3. Ông Mai Thanh C1, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Huỳnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10-6-2025 quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Lê Thị Huỳnh T và người đại diện theo ủy quyền của bà T trình bày:
Bà T vợ chồng L, ông T2 có mối quan hệ quen biết với nhau nên vào
ngày 07-3-2024 âm lịch (nhằm ngày 15-4-2024 dương lịch) T cho vchồng
bà L, ông T2 vay số tiền là 3.400.000.000 đồng, hẹn đến ngày 07-4-2024 âm lịch
(nhằm ngày 14-5-2024 dương lịch) sẽ trả cho T.
Sau đó vợ chồng L, ông T2 không thực hiện như lời đã hứa âm thầm
chuyển nhượng cho người khác (việc này bà T biết được sau khi vụ án dân sự
tranh chấp về ly hôn, nợ chung khi ly hôn giữa vợ chồng L, ông T2 đã được
Tòa án thụ ngày 07-6-2024), cụ thể theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất số chứng thực 227, quyển số 01/2024-SCT/HĐ,GD ngày 02-5-2024 tại
Ủy ban nhân dân S giữa ông Mai Thanh T2, Lê Thị Thanh L ông Nguyễn
Tấn T3, bà Lê Thị Hồng T4 đối với phần đất diện tích 6.266m
2
, thuộc thửa đất
số 873, tờ bản đồ số 54 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng
nhà ở và tài sản gắn liền khác với đất số DH711496, số vào sổ CS11072 do Sở T7
cấp ngày 19-9-2022 mang tên ông Mai Thanh T2 và Lê Thị Thanh L.
Căn cứ theo Bản án phúc thẩm số 12/2025/HNGĐ-PT ngày 26-5-2025 về
việc tranh chấp về ly hôn, nợ chung khi ly hôn của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
thì vợ chồng L, ông T2 mỗi người phải nghĩa vụ trả cho T số tiền là:
1.758.260.000 đồng trách nhiệm trả nợ cho các chủ nợ khác. Tuy nhiên,
hiện nay vợ chồng L, ông T2 không còn tài sản o khác đthi hành án, vậy
nên hành vi chuyển nhượng tài sản đối với quyền sử dụng đất nêu trên dấu hiệu
tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vtrả nợ cho bà T các chủ nkhác. Đồng
thời, T cũng cho rằng hợp đồng chuyển nhượng này là giả tạo, giá chuyển
nhượng của hợp đồng là rất thấp (200.000.000 đồng) so với giá thực tế thị trường.
Từ các lý do trên, nguyên đơn có đủ căn cứ khẳng định hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Mai Thanh T2, Thị Thanh L ông Nguyễn
3
Tấn T3, Thị Hồng T4 giả tạo, thực hiện nhằm mục đích tẩu tán tài sản,
trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà T và các chủ nợ khác nên bị vô hiệu. Do đó, bà
T đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Bị đơn ông Mai Thanh T2 vắng mặt, có đơn xin vắng mặt nên không có lời
trình bày.
Bị đơn bà Lê Thị Thanh L trình bày:
L xác định số tiền bà nợ T của nhiều lần vay từ năm 2023, đến
ngày 15-4-2024 hai bên chốt lại số tiền 3.400.000.000 đồng chứ không phải
vay một lần, đã trả lãi cho bàTrang số tiền 1.702.000.000 đồng. Phần đất
bà T yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng có nguồn gốc do vợ chồng bà và ông
C1, ông C góp vốn mua của ông V là 10.600.000.000 đồng, trong đó vợ chồng
góp 2.000.000.000 đồng, còn lại ông C và ông C1 góp. Trong 2.000.000.000 đồng
vợ chồng bà góp thì tiền của bà và ông T2 chỉ có 600.000.000 đồng, mẹ chồng
Trần Thị K anh thứ 4 Mai Thanh S anh thứ út góp 300.000.000 đồng; anh
Mai Thanh H1 góp 300.000.000 đồng, anh Mai Thanh G góp 100.000.000 đồng;
anh Lê Thanh T5 (anh ruột bà) góp 500.000.000 đồng; ba ruột bà – Văn T6
em gái Lê Thị Liên P góp 200.000.000 đồng.
Khi mua thì vợ chồng bà và ông C, ông C1 thỏa thuận giao cho bà và ông
T2 đứng tên bên nhận chuyển nhượng. Sau khi được đứng tên quyền sử dụng đất,
do cần tiền để xoay sở, tiêu xài vợ chồng bà có thế chấp cho Ngân hàng N Chi
nhánh D để vay số tiền 200.000.000 – 300.000.000 đồng, bà không nhớ cụ thể do
thời gian đã lâu. Do bà ông T2 nợ tiền ông T3 1.500.000.000 đồng, ông T3 đòi
nhiều lần xảy ra cãi vã, mâu thuẫn với ông T2, vậy vợ chồng chuyển nhượng
cho ông T3 T4 phần vốn góp của vợ chồng sang cho ông T3 T4
1.500.000.000 đồng, lỗ 500.000.000 đồng, do khi này giá đất không còn cao như
khi mua. Do vợ chồng bà đứng tên vậy vợ chồng sang tên sang cho vợ chồng
ông T3 đứng tên, còn phần góp vốn của ông C1, ông C thì tự thỏa thuận với vợ
chồng ông T3. Phần đất này rao bán rất nhiều lần, không phải lén lút bán để
tẩu tán tài sản. Khi chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông T3, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đang thế chấp cho Ngân hàng, vợ chồng ông T3 trả tiền Ngân
hàng đlấy giấy đất ra sang tên, cấn trừ nợ ngang, vchồng không nhận lại
bất kì khoản tiền nào. Đối với các khoản góp vốn của họ hàng bà trong phần góp
2.000.000.000 đồng hiện nay vợ chồng còn nợ lại chưa trả, nhưng thỏa thuận
với nhau để từ từ trả cho những người này nên họ cũng không ý kiến hay
tranh chấp gì. Do đó, không đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng theo yêu cầu
khởi kiện của T.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T3, ThHồng
T4 do bà Mai Thị Hiệu H2 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào năm 2024, cụ thể ngày 02-5-2024 L, ông T2 chuyển nhượng
cho vợ chồng ông T3 T4 phần đất diện tích 6.266m
2
thửa 873 tờ bản đồ 54 tọa
lạc tại ấp P, D, tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên L, ông T2 chỉ chuyển nhượng phần
vốn góp 2.000.000.000 đồng của bà L, ông T2 trong phần đất này lại cho ông T3
4
T4 để trừ nợ số tiền 1.500.000.000 đồng, khi này đất tụt giá vì vậy L chấp
nhận lỗ 500.000.000 đồng; vì L ông T2 đứng n đất nên trực tiếp ký chuyển
nhượng cho vợ chồng ông T3. Trong phần đất diện tích 6.266m
2
thửa 873 tờ bản
đồ 54 có 03 phần góp vốn gồm bà L, ông T2 góp 2.000.000.000 đồng, ông C1
ông C mỗi người 4.300.000.000 đồng. Khi L, ông T2 chuyển nhượng phần vốn
góp cho ông T3 thì giữa ông C, ông C1 ông T3 cũng có lập văn bản thỏa thuận
về đồng sở hữu phần đất này, sau đó các bên thống nhất hết mới lập hợp đồng
chuyển nhượng công chứng, vợ chồng ông T3 thống nhất để cho ông C tiếp tục
quản sử dụng đất như từ trước đến nay. Do đó, ông T3 T4 không đồng ý
theo yêu cầu khởi kiện của T, tại thời điểm nhận chuyển nhượng vợ chồng ông
T3 không biết L ông T2 nợ tiền ai, đất không bị biên, không tranh chấp,
không bị tạm dừng giao dịch vì vậy việc nhận chuyển nhượng là hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Thanh C1 trình bày:
Phần đất diện tích 6.266m
2
thửa 873 tờ bản đồ 54 T khởi kiện
nguồn gốc của ông ông C, vợ chồng ông T2, L góp vốn nhận chuyển nhượng
từ năm 2022 của ông V. Ông ông C mỗi người góp 4.300.000.000 đồng, vợ
chồng ông T2, L góp 2.000.000.000 đồng. Ông V chủ đất cũng xác
nhận việc góp vốn mua đất của ông V. Đến năm 2024 do L ông T2 ntiền ông
T3 nên mới chuyển nhượng phần vốn góp lại cho ông T3 để trừ nợ số tiền
1.500.000.000 đồng, trước khi chuyển nhượng, vợ chồng ông T2 bàn bạc với
ông và ông C, các bên thống nhất nên giữa ông, ông C và ông T3 có lập văn bản
ngày 26-4-2024 thỏa thuận đồng sở hữu phần đất này. Do đó, ông không đồng ý
hủy hợp đồng chuyển nhượng. Giữa ông ông C, ông T3 đã văn bản thỏa
thuận với nhau nên ông không tranh chấp trong vụ án này, nếu sau này tranh
chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn C trình bày:
Ông thống nhất lời trình bày của ông C1. Thống nhất việc góp vốn cùng
mua đất như ông C1 trình bày. Tất cả mọi người xung quanh đất đều biết phần đất
này được góp vốn mua chung, sau khi mua thì ông quản lý sử dụng cho đến nay,
khi vợ chồng L ông T2 chuyển phần vốn góp cho ông T3 thì bàn bạc với
ông và ông C, giữa ông T2 và ông T3 mâu thuẫn về việc đòi nợ cũng xảy ra
xát với nhau vì vậy ông ông C1 mới thống nhất cho chuyển phần vốn góp
để cho vợ chồng bà L trừ nợ; sau khi thỏa thuận xong các bên mới lập hợp đồng
chuyển nhượng, và ông T3 bà T4 thống nhất để ông tiếp tục quản sử dụng đất
như từ trước đến nay, hiện nay ông đang trồng mì trên đất. L, ông T2 chỉ
chuyển phần vốn góp sang cho ông T3 để trừ nợ giữa L, ông T2 ông T3,
chứ không chuyển nhượng hết. Giữa ông ông C, ông T3 đã văn bản thỏa
thuận với nhau do đó ông không tranh chấp trong vụ án này, nếu sau y
tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
Sự việc tranh chấp đã được Tòa án cấp sơ thẩm hòa giải nhưng các đương
sự không thỏa thuận với nhau.
5
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 164/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã căn cứ vào các Điều 117, 124,
500, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 188 của Luật đất đai 2013; Điều
147, 157, 165, 227, 228 của Bộ luật T tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị Huỳnh T về “tranh
chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
2. Ghi nhận ông Võ Văn C, ông Mai Thanh C1 không tranh chấp trong vụ
án này.
3. Chi phí tố tụng: Bà Lê Thị Huỳnh T phải chịu chi phí định giá, xem xét,
thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (đã nộp đủ).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Lê Thị Huỳnh T phải chịu: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ tiền
tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005594 ngày 17-6-
2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
(đã nộp đủ).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền
và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 10-6-2026, nguyên đơn Thị Huỳnh T kháng cáo bản án thẩm,
đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn Thị Huỳnh T do ông Phạm Văn T1 người đại diện theo
ủy quyền trình bày nội dung kháng cáo: Vợ chồng ông Mai Thanh T2, bà Lê Thị
Thanh L vay của T stiền 3.400.000.000 đồng, hẹn trả ngày 14-5-2024
dương lịch. Sau đó vợ chồng L, ông T2 không thực hiện như lời đã hứa
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác, giá ghi trong hợp đồng
200.000.000 đồng. Hiện nay vợ chồng L, ông T2 không còn tài sản nào khác
để thi hành án, vậy nên hành vi chuyển nhượng tài sản đối với quyền sử dụng đất
nêu trên dấu hiệu tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho T
các chủ nợ khác. Do đó, đề nghị vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất.
Bị đơn Thị Thanh L trình bày: Việc nợ nhiều người thật.
Trước đây nhờ T tìm người chuyển nhượng đất để trả nợ nhưng T
không tìm được, T cũng không đồng ý lấy đất để cấn trừ nợ. chuyển nhượng
phần góp vốn của trong thửa đất này để trả ncho ông T3, việc chuyển nhượng
thật, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ hay giả tạo. Thời điểm thỏa thuận
chuyển nhượng Giấy đất đang thế chấp Ngân hàng, vợ chồng ông T3 trả nợ Ngân
6
hàng để lấy giấy đất ra làm thủ tục chuyển nhượng, ông T3 T4 đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối
với phần góp vốn đã thực hiện xong về nội dung hình thức. và ông T2 không
tranh chấp hay yêu cầu đối với phần góp vốn với ông C, ông C1, không tranh
chấp đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông
T3. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T3, ThHồng
T4 do bà Mai Thị Diệu H là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 02-5-
2024, bà L, ông T2 có chuyển nhượng cho vợ chồng ông T3, bà T4 phần vốn góp
trong phần hùn với ông C, ông C1 thuộc thửa 873, việc chuyển nhượng nhượng
giữa các bên thật. Tại thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng Giấy đất đang
thế chấp Ngân hàng, vợ chồng ông T3 trả nợ Ngân hàng để lấy giấy đất ra làm thủ
tục chuyển nhượng, ông T3 T4 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Giá ghi trong hợp đồng chỉ giá theo quy định của nhà nước. Việc chuyển
nhượng đất giữa các bên đã hoàn thành về nội dung và hình thức, giữa vợ chồng
ông T3 vợ chồng T không tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Thanh C1, ông Võ Văn C
trình bày: Thửa 873 T khởi kiện nguồn gốc của ông ông C, vchồng ông
T2, L góp vốn nhận chuyển nhượng từ năm 2022 của ông V. Ông ông C
mỗi người góp 4.300.000.000 đồng, vchồng ông T2, L góp 2.000.000.000
đồng. Đến năm 2024, bà L ông T2 chuyển nhượng phần vốn góp lại cho ông T3.
Khi đó vchồng ông T2 bàn bạc với ông C và ông C1, các bên thống nhất
cùng với ông T3 lập văn bản ngày 26-4-2024 thỏa thuận đồng sở hữu phần đất
này. Do đó, các ông không đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Nay các ông không tranh chấp trong vụ án này. Đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và
đương schấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
đương sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện đxem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo, quan điểm giải quyết ván đối với kháng cáo L
yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 02/5/2024 giữa
bà L, ông T2 vợ chồng ông T3, bà T4 đối với thửa 873 tờ bản đồ 54 tọa lạc tại
ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh.
L xác định ông T2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích
6.266m
2
thửa 873 tờ bản đồ 54 cho ông T3, bà T4 để trừ khoản nợ 1.500.000.000
đồng vợ chồng bà nợ vợ chồng ông T3. Tại thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng
Giấy đất đang thế chấp Ngân hàng, vợ chồng ông T3 trả nợ Ngân hàng để lấy giấy
đất ra làm thủ tục chuyển nhượng, ông Thống B đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
7
Xét thấy, bà T cho rằng ông T2, bà L chuyển nhượng tài sản duy nhất còn
lại nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ không căn cứ. lẽ: Tại thời
điểm chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông T3 thì tài sản không bị kê biên để thi
hành án, không bị tranh chấp; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng ông
T2 đang thế chấp Ngân hàng để vay tiền. Mặt khác, qua xác minh thể hiện quyền
sử dụng đất này không phải quyền sử dụng riêng của vợ chồng ông T2do ông
C, ông C1 vợ chồng ông T2 góp vốn để nhận chuyển nhượng chung, kể từ thời
điểm nhận chuyển nhượng từ ông V thì ông C trực tiếp quản lý sử dụng cho đến
nay, khi vợ chồng ông T2 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T3 đều sự thỏa
thuận thống nhất của các bên chỉ chuyển nhượng phần vốn góp mà vợ chồng ông
T2 đã góp. Thời điểm chuyển nhượng đất (vào ngày 02-5-2024) chưa đến hạn
thanh toán nợ theo thỏa thuận giữa L T (vào ngày 14-5-2024). Do đó
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L, ông T2 và ông T3, bà T4
hiệu lực pháp luật. T yêu cầu hủy hợp đồng trên là không căn cứ chấp
nhận.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Huỳnh T. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng
dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn Thị Huỳnh T được thực hiện đúng
nội dung hình thức theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân snăm
2015 nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, ông Phạm Văn T1, bà Lê Thị Thanh L, bà Mai Thị Hiệu H2,
ông Mai Thanh C1, ông Võ Văn C mặt, các đương sự còn lại vắng mặt đã được
triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử
vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn Thị Huỳnh T khởi kiện tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số chứng thực 227, quyển số 01/2024-
SCT/HĐ,GD ngày 02-5-2024 tại Ủy ban nhân dân xã S giữa ông Mai Thanh T2,
Lê Thị Thanh L và ông Nguyễn Tấn T3, Lê Thị Hồng T4 đối với phần đất
diện tích 6.266m
2
, thuộc thửa đất số 873, tờ bản đồ số 54 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sdụng nhà tài sản gắn liền khác với đất số
DH711496, số vào sổ CS11072 do Sở T7 cấp ngày 19-9-2022 mang tên ông Mai
Thanh T2 và bà Thị Thanh L. cho rằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông Mai Thanh T2, Thị Thanh L ông Nguyễn Tấn T3,
Thị Hồng T4 nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà T.
Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi xét xthẩm, nguyên đơn T kháng cáo không đồng ý bản án thẩm,
8
đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sn lại không
kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận với nhau việc giải
quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo
của đương sự.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn Thị Huỳnh T yêu cầu hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số chứng thực 227, quyển số 01/2024-
SCT/HĐ,GD ngày 02-5-2024 tại Ủy ban nhân dân xã S giữa ông Mai Thanh T2,
Thị Thanh L ông Nguyễn Tấn T3, Thị Hồng T4 đối với thửa đất
số 873, tờ bản đồ số 54, diện tích 6.266m
2
, tọa lạc tại ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh,
thấy rằng:
T và bà L trình bày thống nhất, ngày 07-3-2024 âm lịch (nhằm ngày 15-
4-2024 dương lịch) T cho vợ chồng L, ông T2 vay số tiền
3.400.000.000 đồng, hẹn đến ngày 07-4-2024 âm lịch (nhằm ngày 14-5-2024
dương lịch) sẽ trả tiền cho T.
L xác định ông T2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích
6.266m
2
thửa 873 tờ bản đồ 54 cho ông T3, bà T4 để trừ khoản nợ 1.500.000.000
đồng vợ chồng bà nợ vợ chồng ông T3. Tại thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng
Giấy đất đang thế chấp Ngân hàng, vợ chồng ông T3 trả nợ Ngân hàng để lấy giấy
đất ra làm thủ tục chuyển nhượng, ông T3 T4 đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện, tại thời điểm chuyển
nhượng đất cho vợ chồng ông T3 thì tài sản không bị biên để thi hành án, không
bị tranh chấp; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng ông T2 đang thế chấp
Ngân hàng để vay tiền. Mặt khác, qua kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm
thể hiện quyền sử dụng đất này không phải quyền sử dụng riêng của vợ chồng ông
T2 do ông C, ông C1 vchồng ông T2 góp vốn để nhận chuyển nhượng
chung, kể từ thời điểm nhận chuyển nhượng từ ông V thì ông C trực tiếp quản lý
sử dụng cho đến nay. Khi vợ chồng ông T2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho vợ chồng ông T3 đều sự thỏa thuận thống nhất của các bên chỉ chuyển
nhượng phần vốn góp vợ chồng ông T2 đã góp. Mặt khác, thời điểm T, ông
T2 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T3 thì chưa đến hạn
thanh toán nợ theo thỏa thuận giữa L bà T trước khi T khởi kiện tại
Tòa án yêu cầu vợ chồng ông T2 trả nợ. Trong khi đó, việc cho vay tiền giữa bà
T L hoàn toàn không biện pháp bảo đảm, không sự thỏa thuận dùng
quyền sdụng đất để đảm bảo khoản vay. Do đó, T cho rằng ông T2, L
chuyển nhượng tài sản duy nhất còn lại nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả n
không căn cứ nên T yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nêu trên là không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là căn cứ. Nguyên đơn T kháng cáo nhưng không
9
cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không sở chấp
nhận. Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
[4] Đối với phần vốn góp của ông C, ông C1: Trong quá trình giải quyết vụ
án ông C, ông C1 thống nhất không tranh chấp, không yêu cầu xem xét trong vụ
án này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí do kháng cáo
không được chấp nhận.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Huỳnh T.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 164/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
Căn cứ vào các Điều 117, 124, 500, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 188 của Luật đất đai 2013; Điều 147, 157, 165, 227, 228 của Bộ luật Ttụng
dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ quốc hội.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị Huỳnh T về “tranh
chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
2. Ghi nhận ông Võ Văn C, ông Mai Thanh C1 không tranh chấp trong vụ
án này.
3. Chi phí tố tụng: Bà Lê Thị Huỳnh T phải chịu chi phí định giá, xem xét,
thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (đã nộp đủ và chi phí xong).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Lê Thị Huỳnh T phải chịu: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu
trừ tiền tạm ứng án pđã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai
thu số 0005594 ngày 17-6-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương
Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. (đã nộp đủ).
5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc Thị Huỳnh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí, khấu trừ 300.000 đồng đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án đã nộp
theo biên lai thu số 0013111 ngày 10-6-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh.
10
6. Về quyền nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi
hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được
thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 11 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 11 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1043/2026/DS-PT Bản án số 1043/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1043/2026/DS-PT Bản án số 1043/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất