Bản án số 471/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 471/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 471/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 471/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 471/2026/DS-PT Bản án số 471/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 471/2026/DS-PT Bản án số 471/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 471/2026/DS-PT
Ngày 14-8-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Phương, bà Phạm Phong Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà:
Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng Cơ sở
1 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 149/2026/TLPT-DS ngày 18 tháng 3
năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 347/2025/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 491/2026/QĐ-PT ngày
09/7/2026 Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Nguyễn Kim H, sinh năm 1966 Thị Tuyết N, sinh
năm 1973
Cùng HKTT: số C N, phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng cư trú
tại: số I N, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay phường P, tỉnh Lâm
Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Tuyết N: ông Nguyễn Kim H.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Kim H: Luật Âu
Quang P - Công ty TNHH Â, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.
Bị đơn: Ông Nguyễn Đoàn Anh V, sinh năm 1979
Địa chỉ: 2 C, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh). trú tại: số A, đường số H, C, Phường E, Quận G,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền: ông Đình N1, sinh năm 1975. Địa chỉ: K148
H Ỷ, H, Đà Nẵng. trú tại: sA T, ấp Đ, T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh
(nay là xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Văn Phòng C2. Địa chỉ: số G T, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
(nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng).
2. Nguyễn Thị T, sinh năm 1983, địa chỉ: số C, đường L, khu phố A,
phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T: ông Nguyễn Xuân M, sinh
năm 1973. Địa chỉ: số D, đường T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, nay
là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do kháng o của b đơn ông Nguyễn Đoàn Anh V người đại din theo
u quyn của người quyn lợi nghĩa v liên quan Nguyn Th T ông
Nguyn Xuân M.
Tại phiên toà có mặt: ông Nguyễn Kim H, ông Âu Quang P, ông Lê Đình N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Kim HLê Thị Tuyết N trình bày:
Vợ chồng ông H, N 08 thửa đất tại số I N, phường P, thành phố P, tỉnh
Bình Thuận (nay phường P, tỉnh Lâm Đồng). Ban đầu ông, nhu cầu chuyển
nhượng 08 thửa đất cho ông Bùi Công B nên làm hợp đồng đặt cọc với ông B thỏa
thuận giá chuyển nhượng 08 thửa đất với giá 30 tỷ đồng. Khi đó ông B nói rằng
Ngân hàng đồng ý cho vay thế chấp 08 thửa đất với số tiền 50 tỷ đồng nhưng do ông
B vướng nợ xấu nên ông B giới thiệu ông Nguyễn Đoàn A người quen Thành
phố Hồ Chí Minh đứng tên chuyển nhượng với vợ chồng ông H. Sau khi sang
tên chuyển nhượng thì ông V sẽ làm thủ tục vay Ngân hàng để trả tiền mua đất cho
ông H.
Ngày 15/9/2022, vợ chồng ông H, N ông Nguyễn Đoàn Anh V cùng
mặt ông Bùi Công B đến phòng công chứng Trương Văn C, thành phố P để thực hiện
thủ tục kết, công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đối với 05 thửa đất cùng thuộc tờ bản đồ
19, đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá chuyển nhượng 10.000.000.000
(mười tỷ) đồng gồm: thửa 191, diện tích 203,8m
2
; thửa 192, diện tích 399m
2
; thửa
193, diện tích 203,8m
2
; thửa 194, diện tích 450m
2
và thửa 196, diện tích 336,7m
2
. Tại
khoản 2 Điều 2 Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 11873, quyển số
12/2022TP/CC-SCC/HDGD ngày 15/9/2022 nêu 2. Phương thức thanh toán:
trả tiền mặt hoặc chuyển khoản một lần vào ngày công chứng hợp đồng này...”.
Nhưng ông V không đi vay Ngân hàng cầm thế 05 sổ đất đã chuyển nhượng
cho người khác, đến nay ông V vẫn không thanh toán cho vợ chồng ông H, việc này
xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của ông, nên khởi kiện ra Tòa. Hiện vợ
chồng ông H vẫn đang quản lý, sử dụng 05 thửa đất này và chưa bàn giao đất cho ông
V. Tại phiên tòa, ông H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết: hủy
Hợp đồng chuyển nhượng số 11873, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HDGD ngày
15/9/2022 do phòng công chứng Trương Văn C lập giữa vợ chồng ông H, N
ông Nguyễn Đoàn Anh V.
3
Bị đơn ông Nguyễn Đoàn Anh V người đại diện theo uỷ quyền ông Lê
Đình N1 trình bày:
Ngày 15/9/2022, ông V vợ chồng ông Nguyễn Kim H, Thị Tuyết N
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 11873 tại Văn phòng C2 đối với
05 thửa đất số 191, 192, 193, 194 196, tờ bản đồ số 19, giá chuyển nhượng 10 tỷ
đồng. Hợp đồng được công chứng và đã hoàn tất thủ tục sang tên cho ông V, các bên
tự nguyện giao kết, không bị ép buộc và không vi phạm pháp luật.
Theo bị đơn, trước khi hợp đồng, ông V đã giao 2,5 tỷ đồng cho ông Bùi
Công B để chuyển cho ông H, gồm 500 triệu đồng và 2 tỷ đồng. Số tiền còn lại 7,5 tỷ
đồng chưa thanh toán do ông V gặp kkhăn trong việc vay vốn. Bị đơn đề nghị
được tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại và không đồng ý yêu cầu
hủy Hợp đồng chuyển nhượng của nguyên đơn. Trường hợp nguyên đơn yêu cầu hủy
hợp đồng thì phải hoàn trả 2,5 tỷ đồng đã nhận tiền phạt cọc 2,5 tỷ đồng, tổng
cộng 5 tỷ đồng.
Tại phiên tòa, bị đơn tiếp tục khẳng định Hợp đồng chuyển nhượng số 11873
được kết hợp pháp, đã sang tên cho ông V đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực
của hợp đồng, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T người đại
diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Xuân M trình bày:
Ngày 04/10/2022, Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Đoàn Anh V lập Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được Văn phòng C3, số C C, khu phố A, thị
trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận chứng nhận ngày 04/10/2022, số công chứng: 5163,
quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HDGD.
Theo đó, bà Nguyễn Thị T nhận chuyển nhượng của ông V quyền sdụng đất
theo 05 (năm) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất (Giấy chứng nhận) thuộc tờ bản đồ s19 tại cùng địa chỉ khu
phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
B cấp ngày 25/9/2019, cập nhật biến động cho ông Nguyễn Đoàn A theo hồ sơ số:
003019.CN.001 tại Chi nhánh VPDKĐĐ Phan Thiết ngày 03/10/2022: số CS
921181, số vào số cấp GCN: CS 02990, diện tích 203,8m², thửa đất số 191; số CS
921182, số vào số cấp GCN: CS 02991, diện tích 738,0m², thửa đất số 192; số CS
921183, số vào số cấp GCN: CS 02992, diện tích 399,0m², thửa đất số 193; số CS
921184, số vào số cấp GCN: CS 02993, diện tích 450.0m², thửa đất số 194; số CS
921187, số vào số cấp GCN: CS 02995, diện tích 336,7m², thửa đất số 196.
Giá chuyển nhượng 10.280.000.000 đồng, T đã thanh toán cho ông V s
tiền: 10.000.000.000 đồng, ngay sau đó ông V đã bàn giao bản chính Giấy chứng
nhận và đất cho bà T và làm thủ tục cập nhật, sang tên chủ quyền. Hiện nay, đất đang
để trống, không xây dựng công trình trên đất. Số tiền 280.000.000 đồng còn lại, các
bên thỏa thuận sau khi hoàn thành thủ tục đăng bộ, sang tên, cập nhật biến động, bà T
sẽ thanh toán cho ông V.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất của ông V, đến ngày 12/6/2023, T thực
hiện việc đăng bộ, sang tên, cập nhật biến động đối với 05 (năm) giấy chứng nhận
trên (Giấy tiếp nhận hồ hẹn trả kết quả số: 2023-9077/TNHS của Bộ phận tiếp
4
nhận hồ hẹn trả kết quả - UBND thành phố P). Tuy nhiên, bà T được thông tin
rằng hồ sơ không được giải quyết do 05 (năm) quyền sử dụng đất trên đang tranh
chấp tại Tòa án.
Các phần diện tích đất trên ông Nguyễn Đoàn Anh V đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. T người nhận chuyển nhượng đúng pháp
luật, ngay tình. Do đó, bà T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
nguyên đơn bị đơn tchịu trách nhiệm với nhau về những thỏa thuận của mình.
T có Đơn yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận toàn bộ quyền sử
dụng đất theo 05 (năm) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị T.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 trình bày:
Ngày 15/9/2022 ông Nguyễn Kim H, Lê Thị Tuyết N, và ông Nguyễn Đoàn
Anh V đến Văn phòng C2 yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ ông Nguyễn Kim H, Thị Tuyết N sang ông Nguyễn Đoàn Anh V,
hai bên xuất trình các giấy tờ tùy thân, Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS 921181, CS 921182, CS 921183, CS 921184 và CS 921187
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25/9/2019.
Sau khi kiểm tra giấy tờ do người yêu cầu công chứng cung cấp thì thấy đã đầy
đủ đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không trái
pháp luật. Văn phòng Văn phòng C2 đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất số 11873, quyền số 12/2022TP/CC. SCC/HĐGD ngày 15/9/2022.
Người làm chứng ông Bùi Công B trình bày:
Ông người trực tiếp thỏa thuận mua 05 thửa đất của ông Nguyễn Kim H
nhưng do có nợ xấu, không đủ điều kiện vay ngân hàng nên nhờ ông Nguyễn Đoàn A
đứng tên trên hợp đồng đsau khi thế chấp vay ngân hàng sẽ thanh toán tiền còn
lại cho ông H. Tuy nhiên, sau khi sang tên, ông V không vay ngân hàng không
thanh toán số tiền còn lại cho ông H, dẫn đến tranh chấp và ông H khởi kiện ông V.
Ông B xác nhận ngày 15/9/2022, ông giao cho ông H 02 tỷ đồng tiền
nhân cho ông H mượn, không liên quan đến việc mua bán, chuyển nhượng 05 thửa
đất không liên quan đến ông V. Việc giao tiền lập vi bằng các bên thỏa
thuận sau khi ông thanh T1 tiền chuyển nhượng tông H sẽ hoàn trả 02 tỷ đồng
cho ông B. Đến nay, ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết số tiền 02 tỷ đồng này.
Tại phiên tòa, ông B xác nhận ông H ông hàng xóm, quan hệ làm ăn;
ban đầu thỏa thuận mua 08 thửa đất với giá 30 tđồng, sau đó chuyển nhượng trước
05 thửa đã giấy chứng nhận với giá ghi trong hợp đồng 10 tđồng. Khi hợp
đồng, ông V chưa thanh toán tiền cho ông H sau khi sang tên cũng không thực
hiện việc vay ngân hàng, thanh toán số tiền còn lại.
Tại Biên bản làm việc với ông Võ Văn C1 và bà Đỗ Thị H1 trình bày:
Ông C1, bà H1 chưa từng nghe tên và chưa từng gặp ông Nguyễn Đoàn Anh V.
Ngày 15/8/2022, ông bà không bất kỳ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất nào với ông Nguyễn Kim H ông Nguyễn Đoàn Anh
5
V. Ông xác định chữ ký trong hợp đồng nói trên không phải của ông bà. Từ tháng
9/2022 đến nay ông bà không thay đổi chữ ký, chỉ có một mẫu chữ ký.
Ông bà biết ông Nguyễn Kim H vì năm 2018 ông bà đã bán toàn bộ diện tích là
08 thửa đất tại số I N cho ông Nguyễn Kim H. Việc mua bán giữa ông ông
Nguyễn Kim H đã hoàn tất. Đến ngày 25/9/2019 ông bà đã chuyển toàn bộ quyền sở
hữu cho ông H nên không còn liên quan gì.
Tại Bản án dân sự thẩm số 347/2025/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng quyết định:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 2
Điều 73, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, 157, 158, khoản 2 Điều 201, khoản 1
Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 233, 235, 266, 271 khoản 1 Điều 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 1 Luật Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Tố tụng hành chính, Luật pháp
người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
- Điều 116, 117, 118, 133, 385, 423, 427, 500, 502 và 503 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Kim H, Lê Thị
Tuyết N đối với ông Nguyễn Đoàn Anh V vviệc Tranh chấp Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
Hủy bỏ “Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất” ngày 15/9/2022
giữa ông Nguyễn Kim H, Thị Tuyết N với ông Nguyễn Đoàn A do Văn
phòng C2, địa chỉ số G, đường T, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay
phường P, tỉnh Lâm Đồng) công chứng s 11873, quyển số 12/2022TP/CC-
SCC/HDGD.
Ngoài ra, bản án còn tuyên các quy định khác về chi phí tố tụng, án phí, quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày 13/11/2025, bị đơn Nguyễn Đoàn Anh V người đại diện theo uỷ
quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân M kháng cáo
bản án sơ thẩm.
Ông Nguyễn Đoàn Anh V đề nghị Tòa án cp phúc thm sa bản án thẩm
theo hướng không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn.
Ông Nguyn Xuân M đề ngh Toà án cp phúc thm xem xét li th tc gii
quyết yêu cầu độc lp ca bà Nguyn Th T và xét x li toàn b v án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
6
- Nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp nguyên đơn trình bày: Đề nghị cấp
phúc thẩm buộc ông V, bà T phải giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông H.
- Bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án
sơ thẩm theo hướng không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu việc kiểm sát tuân
theo pháp luật trong vụ án:
+ Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Khi cấp sơ thẩm đưa T vào tham gia tố tụng, thì không tiến
hành công khai chứng cứ, hòa giải lại không thụ yêu cầu độc lập của T vi
phạm tố tụng và vụ án không được giải quyết triệt để. Đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về
cấp sơ thẩm giải quyết lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án đ được thẩm tra tại
phiên tòa phúc thẩm; trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện c tài liệu, chứng cứ, ý
kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét
xử nhận thấy:
[1] Tại phiên toà, người kháng cáo Nguyễn Thị T người đại diện ủy
quyền là ông Nguyễn Xuân M được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt
nên bị coi như từ bỏ việc kháng cáo. Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 312 Bộ
luật Tố tụng dân sự, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của
bà T (ông M đại diện ủy quyền).
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Đoàn Anh V.
[2.1] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/9/2022 giữa bên
chuyển nhượng ông Nguyễn Kim H, Thị Tuyết N bên nhận chuyển
nhượng ông Nguyễn Đoàn Anh V, đối tượng chuyển nhượng gồm 05 thửa đất số
191, 192, 193, 194 196, tờ bản đồ số 19 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho bên chuyển nhượng, giá chuyển nhượng 10.000.000.000 đồng. Hợp
đồng được các bên tự nguyện xác lập, công chứng, các bên đầy đủ năng lc
hành vi dân sự, mục đích nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật nên
hiệu lực pháp luật.
[2.2] Sau khi hợp đồng, ông H, N đã thực hiện nghĩa vụ giao giấy tờ
hoàn tất thủ tục sang tên 05 thửa đất cho ông V. Ông H khai ông V chưa thanh toán
tiền theo hợp đồng. Ông V khai đã thanh toán 2.500.000.000 đồng, gồm 500.000.000
đồng giao cho vợ chồng ông H ông V đưa cho ông B 2.000.000.000 đồng để giao
cho vợ chồng ông H, còn nợ 7.500.000.000 đồng. Nguyên đơn ông H không thừa
nhận trình bày của ông V, ông V không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc đã
giao số tiền 2.500.000.000 đồng cho ông H, bà N; lời khai về thời điểm, phương thức
7
người nhận tiền cũng không thống nhất. Đối với số tiền 2.000.000.000 đồng do
ông Bùi Công B giao cho ông H ngày 15/9/2022, Vi bằng ngày 15/9/2022 thể hiện
việc giao nhận tiền này không nhằm mục đích mua bán, chuyển nhượng quyền sử
dụng đất; ông B cũng xác định đây tiền nhân ông B cho ông H mượn. Do đó,
không căn cứ xác định số tiền này là tiền của ông thanh T1 cho ông H, N.
Như vậy, sở xác định ông V chưa thanh toán số tiền chuyển nhượng theo hợp
đồng.
[2.3] Việc ông V không thanh toán tiền theo thỏa thuận cho ông H, N vi
phạm nghĩa vụ thanh toán, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng, làm cho bên
chuyển nhượng không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Do đó, Cấp
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, N, hủy Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 11873 ngày 15/9/2022 căn cứ, phù hợp quy định tại Điều
423 Bộ luật Dân sự. Do vậy, kháng cáo của ông V không có cơ sở chấp nhận.
[3] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Ngày 25/01/2024, Toà án cấp đã mở phiên toà và tạm ngừng do cần
đưa Nguyễn Thị T vào tham gia tố tụng, ngày 26/3/2024, Tán cấp thẩm ban
hành thông báo xác định Nguyễn Thị T người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan trong vụ án. Như vậy, sau khi T được xác định người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan thì Tòa án phải tổ chức a giải, công khai chứng cứ lại để đảm bo
quyền lợi cho T, nếu T yêu cầu độc lập thì Tòa án phải thụ lý, giải quyết
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát cho rằng cấp sơ
thẩm vi phạm tố tụng căn cứ. Xét thấy, đối với yêu cầu của nguyên đơn về
hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất với bị đơn thì cấp thẩm đã thực
hiện đúng tố tụng và giải quyết đúng về nội dung như nhận định phần trên. Cấp
thẩm thiếu sót khi chưa giải quyết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông V T, sau khi xét xử thẩm, T (ông M đại diện ủy quyền) kháng
cáo. Tuy nhiên, T, ông M kháng cáo nhưng vắng mặt được xem từ bỏ quyền
kháng cáo Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối nội dung T kháng cáo.
Trong v án này, nguyên đơn chỉ một yêu cầu duy nhất hủy bỏ hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bị đơn, không yêu cầu các
bên phải trả lại đất (thực tế nguyên đơn vẫn đang quản lý, sử dụng, ông V, bà T chưa
quản lý, sử dụng các thửa đất này) hay trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
T cũng chưa được đăng sang tên, cập nhật biến động trên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, nên việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông V T trong cùng vụ án này hay giải quyết trong vụ án khác đều
không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết theo yêu cầu hủy bỏ hợp đồng của ông H.
Do vậy, không cần thiết phải hủy bản án thẩm, sau này nếu các bên tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V T sẽ được giải quyết
trong vụ án khác.
[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bị đơn phải
chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ để hoàn trả lại cho nguyên đơn.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đoàn A không được
chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. T kháng cáo nhưng vắng mặt
nên số tiền tạm ứng án phí sung công quỹ.
8
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ
xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T (ông Nguyễn Xuân
M đại diện ủy quyền).
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo
của bị đơn ông Nguyễn Đoàn Anh V. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
347/2025/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 Lâm
Đồng.
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 148, Điều 157,
Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 133, Điều 385, Điều 423, Điều 427,
Điều 500, Điều 502 và Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 26; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Kim H, bà Lê Thị
Tuyết N.
Hủy bỏ “Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất” ngày 15/9/2022
giữa ông Nguyễn Kim H, bà Thị Tuyết N với ông Nguyễn Đoàn A được công
chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 11873, quyển số 12/2022TP/CC-
SCC/HDGD.
2. Về chi phí tố tụng: bị đơn ông Nguyễn Đoàn Anh V phải chịu chi phí xem
xét thẩm định tại ch3.100.000 đồng (ba triệu một trăm nghìn đồng) chi phí đo
đạc 13.451.000 đồng (mười ba triệu, bốn trăm năm mươi mốt nghìn đồng). Tổng
cộng chi phí tố tụng 16.551.000 đồng (mười sáu triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn
đồng).
Ông Nguyễn Kim H, Thị Tuyết N đã nộp tạm ứng chi phí t tụng
16.551.000 đồng (mười sáu triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng). Do đó, ông
Nguyễn Đoàn Anh V nghĩa vụ phải hoàn trả 16.551.000 đồng (mười sáu triệu,
năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng) cho ông H, bà N.
3. Án phí:
- Về án phí sơ thẩm:
+ Ông Nguyễn Đoàn Anh V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự sơ thẩm.
+ Ông Nguyễn Kim H, Thị Tuyết N không phải chịu án phí dân sự
thẩm. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Kim H, Thị Tuyết N số tiền 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
9
số 0014202 ngày 13/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết
(nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 10 - Lâm Đồng).
- V án phí phúc thm:
+ Ông Nguyễn Đoàn Anh V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm
nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
theo Biên lai số 0008941 ngày 20/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Ông V đã nộp đủ.
+ Sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm
Nguyễn Thị T (ông Nguyễn Xuân M đại diện ủy quyền) đã nộp theo Biên lai số
0008943 ngày 20/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (14/8/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND, VKS khu vực 10 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 10 – Lâm Đồng;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Quản
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 471/2026/DS-PT Bản án số 471/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 471/2026/DS-PT Bản án số 471/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất