Bản án số 634/2026/DS-PT ngày 13/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 634/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 634/2026/DS-PT ngày 13/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 634/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tòa án cấp phúc thẩm giữ y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 634/2026/DS-PT Bản án số 634/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 634/2026/DS-PT Bản án số 634/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 634/2026/DS-PT
Ngày 13-7-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Văn Thông
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thư Linh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Anh Định - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 276/2026/TLPT-DS ngày 21 tháng 4 năm
2026 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 281/2025/DS-ST ngày 15/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 601/2026/-PT ngày
15/6/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bùi Thị Quỳnh N, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp B, B,
tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N:
+ Ông Nguyễn Trung N1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số A, đường L, phường A,
tỉnh Vĩnh Long (Văn bản ủy quyền ngày 05/3/2026); có mặt.
+ Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1972. Địa chỉ: ấp B, B, tỉnh Vĩnh Long
(Văn bản ủy quyền ngày 03/9/2020 và ngày 22/02/2022); có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Tô Thị Ngọc H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp C, xã B, tỉnh Vĩnh Long;
có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Thị Ngọc H: Bùi Thị Kim L,
sinh năm 1959. Địa chỉ: Ấp C, xã B, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
2
2.2. Thị Ngọc T1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp C, B, tỉnh Vĩnh
Long; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Thị Ngọc T1: Dương Thị T2,
sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị Quỳnh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 10/12/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:
Bùi Thị Quỳnh N có diện tích đất 1.236,4m², thuộc thửa đất số 320, tờ bản
đồ số 12 (nay là thửa đất số 320, tờ bản đồ số 12), xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (cũ)
được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/11/2012. Liền kề
ranh đất của bà N đất của bà Thị Ngọc T1 thửa đất số 502, tờ bản đồ số 12,
xã B; T1 đã lấn chiếm của N ngang 15cm - 20cm, dài 43m, diện tích 7m²; và
Tô Thị Ngọc H thửa đất số 501, tờ bản đồ số 12, xã B, bà H đã lấn chiếm của bà
N ngang 21cm - 28cm, diện tích 5,5m². N làm đơn gởi Ủy ban nhân dân
B nhờ giải quyết; bà T1, bà H có thừa nhận đã lấn chiếm đất của bà N đã ký tên
trả đất cho bà N nhưng không thực hiện. Nay nguyên đơn bà Bùi Thị Quỳnh N yêu
cầu bị đơn bà Tô Thị Ngọc T1 và bà Tô Thị Ngọc H trả lại quyền sử dụng đất diện
tích 8.1m
2
, thuộc thửa đất số 320-2, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh
Bến Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long);
Nguyên đơn thống nhất sử dụng họa đồ ngày 18/11/2025 và Biên bản định giá
ngày 17/02/2022 làm cơ sở giải quyết vụ án.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn trình bày
như sau:
Nguyên các bà Tô Thị Ngọc T1 và bà Tô Thị Ngọc H có mua phần đất của vợ
chồng ông Phạm Văn N2 Quách Thị Tường L1 theo hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (cũ)
chứng thực ngày 12/03/2019, theo số chứng thực số 53, quyển s1-SCT/HĐGD,
số thửa 319, tờ bản đồ số 12, sau khi đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất Thị Ngọc T1, sau đó các bà tách phần này ra thành 2 phần, mỗi
người 1 phần. Lúc mua trên phần đất này sẵn một ngôi nhà phía sau sẵn
hai đoạn tường rào trụ đà tông cốt thép, tường đã rong rêu giáp ranh đất
Bùi Thị Quỳnh N. T3 rào kiên cố này không phải bị đơn xây, do chủ đất
đã xây từ lâu, trước khi vợ chồng N, ông Nguyễn Tấn T mua đất. Việc này
N, ông T người hiểu nhất, ông T (chồng N) người giới thiệu cho b
đơn mua phần đất này ông T đã xác định ranh giới đất kề bên của vợ chồng
ông đã có đổ đà trranh kiên cố đúng ranh rồi, nên bị đơn mua phần đất này. Bị
3
đơn trả tiền đất cho ông N2 và Tường L1 mặt ông T người làm chứng
có ký tên và ông T đã lấy tiền cò (huê hồng) của các bà là 100.000.000 đồng;
Bà N, ông T vào năm 2012 đã mua đất trước của bị đơn và đổ đà trụ ranh kiên
cố ngay thẳng từ trước lộ thẳng ra sau hết đất, ranh đất vẫn còn y; bị đơn mua đất
sau ranh giới, không xây lấn ranh, từ khi mua đất đến nay bị đơn chưa sử dụng
không xây dựng gì, hiện trạng đất đai không thay đổi. Do đó N, ông T cho rằng
bị đơn đã xây dựng tường rào lấn chiếm đất không sở. Tòa án đã biên
bản xác minh ông Phạm Văn N2 chủ đất của bị đơn giấy xác nhận
của ông Trần Văn H1 chủ đất của N, ông T, 3 đơn xác nhận của người
lớn tuổi ở gần đất tranh chấp, đã xác nhận tường ranh kiên cố là của ông Phạm Văn
N2 đã xây từ lâu lắm trước khi N, ông T mua đất, nên nguyên đơn cho rằng
bị đơn lấn chiếm đất thì không đồng ý;
Bị đơn thống nhất sử dụng họa đồ ngày 18/11/2025 và Biên bản định giá ngày
17/02/2022 làm cơ sở giải quyết vụ án.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã đưa vụ
án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 281/2025/DS-ST ngày 15/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã áp quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ các Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bđơn về việc
yêu cầu bị đơn trả lại phần đất đã lấn chiếm diện tích 8.1m
2
, thuộc thửa đất số
320-2, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay B, tỉnh
Vĩnh Long).
2. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh ranh đất giữa thửa đất 320 của
nguyên đơn với thửa 505, 506, 507, 508 các bị đơn cùng tờ bản đồ số 141, tọa lạc
tại B, tỉnh Vĩnh Long theo đúng hiện trạng sử dụng tđiểm C, C1, C2, C3, C4,
C5, C6, C7, C8, C9, C10, C11, C12, C13, C14, C15, C16, C17, C18, C19, C20, H
(Có họa đồ kèm theo).
3. Về chi phí tố tụng: Buộc nguyên đơn phải chịu số tiền chi phí tố tụng
14.787.000 (Mười bốn triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn) đồng, nguyên đơn đã
nộp 7.547.000 (Bảy triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng nên buộc nguyên
đơn hoàn trả lại cho bị đơn số tiền 7.760.000 (Bảy triệu bảy trăm sáu mươi
nghìn) đồng.
4
4. Ván phí dân sự thẩm: Buộc nguyên đơn phải chịu số tiền án phí
thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào biên lai thu
0006333 ngày 30/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại (cũ).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự việc thi
hành Bản án.
Ngày 19/12/2025; nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N kháng cáo toàn bộ Bản án sơ
thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án thẩm theo hướng chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại phần đất diện ch
8.1m
2
, thuộc thửa đất số 320-2, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bến
Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N là ông
Nguyễn Trung N1 ông Nguyễn Tấn T trình bày: Không đồng ý với Bản án
thẩm. Thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo; yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn, buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn phần đất diện tích 3,5m
2
, thuộc thửa đất số
320-2, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại B, tỉnh Vĩnh Long, tvị trí C16 đến H của
hoạ đồ hiện trạng thửa đất. Riêng ông Nguyễn Trung N1 còn trình bày để bảo
đảm có căn cứ giải quyết vụ án thì yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm dừng phiên
toà để thu thập thêm chứng cứ.
- Những người đại diện theo uỷ quyền của các bị đơn trình bày: Không đồng
ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N. Yêu cầu Hội đồng xét
xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng:
Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy
đủ quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Về nội dung:
Căn cứ vào Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 281/2025/DS-ST ngày 15/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N phải chịu
300.000 đồng.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ đã được thẩm tra công khai
tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét
kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Quỳnh N; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Bà Bùi Thị Quỳnh N kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong
thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Những người tham gia ttụng mặt tại phiên tòa đã thực hiện đúng các
quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N yêu cầu các bị đơn Thị
Ngọc H Tô Thị Ngọc T1 trả lại phần đất diện tích 8,1m
2
, thuộc thửa đất số 320-
2, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay B, tỉnh Vĩnh
Long). Các bị đơn Thị Ngọc H Thị Ngọc T1 không đồng ý theo yêu cầu
của nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N cho rằng đất khi mua lại của ông Phạm Văn
Bé N2 là đã có sẵn hàng rào và các bên đã thống nhất với các trụ ranh trước đây.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Quỳnh N, thấy rằng:
Trước đây bà Phạm Thị T4 chủ sử dụng đối với thửa đất s320, tờ bản
đồ số 14, diện tích 1.236,4m² là thửa đất nguyên đơn đang đứng tên quyền sử dụng
đất, tọa lạc tại B; ông Phạm Văn N2 chủ sử dụng đối với các thửa đất
số 505, 506, 507, 508, tờ bản đồ số 141 hiện do các bị đơn đang đứng tên quyền sử
dụng đất, giữa bà Bé T4ông Bé N2 xây dựng hàng rào và hai bên chủ đất cũ
cũng thống nhất đối với ranh giới (bút lục số 291- 293). Đối với các thửa đất s
505, 506, 507, 508, tờ bản đồ số 141, tọa lạc tại B do các bị đơn nhận chuyển
nhượng của ông Phạm Văn Bé N2, khi mua các thửa đất này hàng rào đã có sẵn do
ông N2 xây dựng và sự chứng kiến của ông Nguyễn Tấn T (chồng N)
cũng người môi giới đnhận hoa hồng từ việc chuyển nhượng các thửa đất này
là 100.000.000 đồng.
Nguyên đơn bị đơn khi nhận chuyển nhượng quyền sdụng đất từ chủ đất
đều không tiến hành đo đạc lại đất, chỉ sang sổ theo hđịa chính.
Nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Phạm Thị T4, khi
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nguyên đơn không ý kiến hay tranh
chấp với ông N2 về việc hàng cột trụ ranh. Ngoài ra, tại phiên tòa thẩm
nguyên đơn cũng thừa nhận rằng lúc môi giới việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa bị đơn và ông Phạm Văn N2 thì sự chứng kiến của nguyên đơn
giữa các n đều thống nhất sử dụng trụ ranh hàng rào ranh (bút lục số 333 -
336). Qua xác minh các chủ đất (bút lục số 190, 191, 293) cũng cho rằng thửa
đất các chủ chuyển nhượng đều sự thống nhất của các bên vhàng rào,
trụ ranh, lúc đó cũng sự chứng kiến của ông T nhưng ông T cũng không ý
kiến gì về ranh đất nên mặc nhiên các bên đã thống nhất sử dụng ranh giới thửa đất
theo hiện trạng các bên đã sử dụng.
Đối với người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu dừng phiên t
để thu thập thêm chứng cứ bảo đảm n cứ giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử
6
phúc thẩm xét thấy là không cần thiết nên không chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy Tòa án cấp thẩm không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ, đúng pháp luật. vậy, kháng cáo
của nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N không sở chấp nhận nên Tòa án cấp
phúc thẩm giữ nguyên Bản án thẩm số: 281/2025/DS-ST ngày 15/12/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên
đơn Bùi Thị Quỳnh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của
pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 148; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Quỳnh N;
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 281/2025/DS-ST ngày 15/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 26, Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Thị Quỳnh N đối
với các bị đơn Thị Ngọc H, Tô Thị Ngọc T1 về việc yêu cầu các bđơn trả lại
phần đất đã lấn chiếm diện tích 8.1m
2
, thuộc thửa đất số 320-2, tờ bản đồ số
12, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long).
2. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh ranh đất giữa thửa đất 320 của
nguyên đơn với thửa 505, 506, 507, 508 của các bị đơn cùng tờ bản đồ số 141, tọa
lạc tại B, tỉnh Vĩnh Long theo đúng hiện trạng sử dụng từ điểm C, C1, C2, C3,
C4, C5, C6, C7, C8, C9, C10, C11, C12, C13, C14, C15, C16, C17, C18, C19,
C20, H (Có họa đồ kèm theo).
3. Về chi phí tố tụng: Buộc nguyên đơn phải chịu số tiền chi phí tố tụng
14.787.000 (mười bốn triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn) đồng, nguyên đơn đã
nộp 7.547.000 (bảy triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng nên buộc nguyên
đơn hoàn trả lại cho bị đơn số tiền 7.760.000 (bảy triệu bảy trăm sáu mươi
nghìn) đồng.
7
4. Ván phí dân sự thẩm: Buộc nguyên đơn phải chịu số tiền án phí
thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào Biên lai thu số
0006333 ngày 30/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến
Tre (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Vĩnh Long).
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc nguyên đơn phải chịu số tiền án phí dân s
phúc thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào Biên lai thu
số 0012549 ngày 19/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
6. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật
Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 8 – Vĩnh Long;
- Phòng THADS KV 8 Vĩnh Long;
- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tôn Văn Thông
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 634/2026/DS-PT Bản án số 634/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 634/2026/DS-PT Bản án số 634/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất