Bản án số 177/2026/DS-PT ngày 29/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 177/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 177/2026/DS-PT ngày 29/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 177/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn H - Nguyễn T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 177/2026/DS-PT Bản án số 177/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 177/2026/DS-PT Bản án số 177/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 177/2026/DS-PT
Ngày 29 - 6 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Phi Yến
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Thúy Năng
Ông Ngô Hà Nam
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Tuyết Mai, Thư Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Chung, Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2025/DS-PT ngày 17 tháng 11 năm
2025 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”; Do Bản án dân sự thẩm số
107/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà
Nẵng) bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
48/2026/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn L, Đ,
thành phố Đà Nẵng (có mặt);
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn là Nguyễn Hoàng P, sinh năm: 1996;
Địa chỉ: Tổ D, phường C, thành phố Đà Nẵng (có mặt);
Bị đơn: Ông Nguyễn T (tên gọi khác Nguyễn Văn T), sinh năm: 1965; Địa
chỉ: Thôn L, xã Đ, thành phố Đà Nẵng (có mặt);
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thành H1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn L, Đ, thành phố
Đà Nẵng (có mặt);
Ông Nguyễn Thành H1 uquyền cho ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng (có mặt).
2
2. Phạm Thị H2, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn L, Đ, thành phố Đà
Nẵng.
3. Nguyễn Thị Hoàng C, sinh năm 1988; Địa chỉ: 1 Khối C, Chung O,
đường số B khu phố D, phường T, thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn Đ, phường H,
thành phố Đà Nẵng.
5. Ông Nguyễn Đại Q, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn L, Đ, thành phố Đà
Nẵng.
6. Ông Nguyễn Phạm Hoàng L1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, thành
phố Đà Nẵng.
Phạm Thị H2, Nguyễn Thị Hoàng C, Nguyễn Thị Khánh L, ông
Nguyễn Đại Q, ông Nguyễn Phạm Hoàng L1 ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T, sinh
năm: 1965; Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng (có mặt).
7. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn L, Đ, thành phố Đà
Nẵng (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Trinh .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn H trình bày:
Cha ông là ông Nguyễn Đức H3, sinh năm 1936 (chết năm 2008) mẹ là
Nhan Thị M, sinh năm 1948 (chết năm 2016). Cha mẹ ông 02 người con
Nguyễn Tấn HNguyễn Thành H1. Ngoài ra, cha mẹ ông không có con riêng, con
nuôi nào khác. Ông nội của ông Nguyễn Văn Q1 nội ĐThị Q2 (ông
nội chết trước cha ông); ông ngoại là Nhan N ngoại Thị Đ1 (ông ngoại
chết trước mẹ ông).
Sau giải phóng, cha mẹ ông sống trên thửa đất của ông để lại, đến năm
1996 được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn
Đức H3, thửa đất số 917, tờ bản đồ số 07, diện tích 851m
2
tại thôn L, Đ, huyện
Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ). Vào năm 1993, ông Nguyễn T mua thửa đất của ông
Trường S sát với thửa đất của cha ông. Giữa hai nhà (nhà ông T nhà cha ông)
một con đường đất để đi vào nhà ông Nguyễn Đ. Khoảng năm 1995, nhà ông
Nguyễn Đ làm nhà mới theo hướng khác và đi theo lối đi khác ra bờ mương nên cha
ông đã trục con đường này để làm đất vườn.
Đến năm 2000, ông Nguyễn T xây tường rào lấn chiếm sang phần đất
của gia đình ông, lúc đó cha ông nói ông T xây dựng sai mốc giới, nhưng do cha
ông tuổi già sức yếu không làm được cũng không báo cáo chính quyền địa
phương giải quyết. Lúc đó anh em ông còn đi học nên không hiểu gì về đất đai. Sau
3
khi cha mẹ ông chết tanh em ông vẫn sử dụng thửa đất trên. Thời gian gần đây,
hai anh em ông làm thủ tục sang tên đất cho các con thì nhờ chính quyền địa
phương lên đo đạc, cắm mốc giới thửa đất kiểm tra các hộ liền kề thì thấy diện
tích đo đạc của hộ ông Nguyễn Đức H3 thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, bên cạnh đó diện ch đất nhà ông Nguyễn T tăng. Qua kết quả đo đạc của Chi
nhánh Công ty cổ phần Đ3 bản đồ kiến trúc quy hoạch Việt Nam tại Quảng Nam
thì thửa đất số 917, tờ bản đồ số 07 của cha ông diện tích 786,3m
2
, thiếu 64,7m
2
so với giấy chứng nhận.
Thửa đất số 918, tbản đồ số 07 của hộ ông Nguyễn T diện ch 370,7m
2
,
tăng 54,7m
2
so với giấy chứng nhận. Nguyên nhân diện tích đất ông T tăng là do đã
xây dựng tường rào lấn chiếm sang đất nhà ông 27m
2
. Trên diện tích đất lần
chiếm có tường rào gạch xây theo hiện trạng hiện nay.
Theo Biên bản giao đất của Ủy ban nhân dân xã Đ (cũ) ngày 04/5/1993 thì hộ
ông Nguyễn T được giao diện tích đất cụ thể: Đông 14m; Tây: 14m; Nam 23m; Bắc
23m, diện tích 322m
2
. Tuy nhiên, kết quả đo đạc của Chi nhánh Công ty Cổ phần
Đ3 tại Quảng Nam theo hiện trạng hiện nay hộ ông Nguyễn T sử dụng thì diện tích
tăng lên 370,7m
2
. Trong đó cạnh phía Tây dài 15,14m tăng 1,14m; cạnh phía đông
dài 15,10m tăng 1,10m.
Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn T trả lại đất lấn chiếm
cho gia đình ông phía Tây 1,14m, phía đông 1,10m, diện tích là 27m
2
theo pháp
luật.
Ông đồng ý với kết quả đo đạc của Chi nhánh Công ty Cổ phần Đ3 tại Quảng
Nam và kết quả thẩm định giá của Công ty Cổ phần T3.
Về chi ptố tụng 12.700.000 đồng, ông đã nộp tạm ứng, đề nghị Toà án giải
quyết theo quy định pháp luật.
Đây cũng ý kiến của ông Nguyễn Thành H1 ông làm đại diện theo uỷ
quyền.
Bị đơn ông Nguyễn T trình bày:
Vào năm 1991, ông nhận chuyển nhượng của ông Trường S thửa đất
lúa và ông có đắp lên làm nhà ở từ năm 1991 cho đến nay. Năm 1993, ông được Ủy
ban nhân dân huyện Đ đất theo Quyết định số 151/QĐ-UB ngày 04/5/1993 với diện
tích 14m x 23m = 322m
2
. Ông đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông Nguyễn T thửa đất số 918, tờ bản đồ số 07 diện tích 316m
2
cấp vào ngày 17/01/1996. Liền kề hướng Bắc đồng thời ranh giới giữa vườn nhà
ông và vườn nhà ông Nguyễn Đức H3 (cha ông Nguyễn Tấn H) là đường đi vào nhà
ông Nguyễn Đ. Sau khi ông Nguyễn Đ làm lại nhà đi lối đi khác (lối đi đường
mương thủy lợi như hiện nay) nên không đi đường cạnh vườn nhà ông. Sau khi ông
Nguyễn Đ không đi đường nữa, ông Nguyễn Tấn H4 đã đào hết con đường đó
làm ao nuôi cá. Đến khoảng năm 1995, ông đã làm bờ rào ranh giới giữa vườn nhà
4
ông và nhà ông H4 như hiện nay. Từ khi ông xây dựng tường rào làm ranh giới giữa
02 hộ cho đến khi ông Nguyễn Đức H3 chết không xảy ra tranh chấp. Hiện nay ao
đó đã được con ông H3 san lấp làm đất nền để đổ vật liệu xây dựng sử dụng
với mục đích nhân. Cuối năm 2022, ông Nguyễn Tấn H nhờ địa chính lên đo
đất sau đó nói gia đình ông lấn chiếm đất thì ông không đồng ý với yêu cầu của
ông H.
Diện tích đất ông được nhà nước cấp theo Quyết định 151/QĐ-UB ngày
04/5/1993 đồ cấp đất với diện tích 14m x 23m = 322m
2
, nhưng khi cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì không ông không để ý chỉ 316m
2
. Ông đề
nghị Tòa án xác định diện tích đất được cấp cho hộ của ông theo Quyết định cấp đất
322m
2
. Đối với diện tích đất thừa 48,7m
2
của ông do khi nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của ông S thì phía Nam vườn nhà ông một mương nước chiều
rộng khoảng 01m để tưới ruộng phía sau vườn nhà ông. Sau khi các thửa ruộng này
không còn sử dụng thì ông đã san lấp mương nước này để mở rộng khu vườn nên
diện tích vườn nhà ông tăng lên 370,7m
2
như hiện nay.
Theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Công ty Cổ phần Đ3 tại Quảng Nam thì
cạnh phía Tây dài 15,14m tăng 1,14m; cạnh phía đông dài 15,10m tăng 1,10m là do
ông khai phá con mương nhỏ cạnh phía Nam nên tăng lên. Bản thân ông không lấn
ranh giới của hộ ông Nguyễn Đức H3 nên ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông Nguyễn Tấn H. Diện tích đất của hộ ông tăng lên so với Giấy
chứng nhận là đất của Nhà nước nên nếu nhà nước thu hồi diện tích tăng này thì ông
đồng ý trả lại cho Nhà nước khi được yêu cầu hoặc ông đóng thuế cho nhà nước để
tiếp tục sử dụng diện tích tăng thêm này.
Ông đồng ý với kết quả đo đạc của Chi nhánh Công ty Cổ phần Đ3 tại Quảng
Nam và kết quả thẩm định giá của Công ty Cổ phần T3.
Về chi phí tố tụng với tổng số tiền 12.700.000 đồng, ông đề nghị Toà án giải
quyết theo quy định pháp luật.
Đây cũng ý kiến của Phạm Thị H2 ông làm đại diện. Ngoài ra, ông
không có ý kiến gì thêm.
Quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
Căn cứ vào các Điều 26; 35; 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 5, 6, 166,
170 Điều 203 của Luật Đất đai; Điều 245 Điều 246 Bộ luật Dân sự Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa
án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn H đối với hộ
ông Nguyễn T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
5
Buộc hộ ông Nguyễn T (gồm ông Nguyễn T, Phạm Thị H2, Nguyễn
Thị Hoàng C, Nguyễn Thị Khánh L, ông Nguyễn Đại Q, ông Nguyễn Phạm
Hoàng L1 phải nghĩa vụ tháo dỡ hàng rào, di chuyển 01 cây mận 01 cây bưởi
để trả cho hộ ông Nguyễn Đức H3 (do ông Nguyễn Tấn H ông Nguyễn Thành
H1 làm đại diện) diện tích 25,7m
2
trị giá 95.550.921 đồng. tứ cận: Đông dài
1,1m; Nam dài 23m; Tây dài 1,14m và B dài 23m (có sơ đồ kèm theo).
Chi phí ttụng: Buộc hộ ông Nguyễn T (gồm ông Nguyễn T, Phạm Thị
H2, Nguyễn Thị Hoàng C, bà Nguyễn Thị Khánh L, ông Nguyễn Đại Q, ông
Nguyễn Phạm Hoàng L1) phải có nghĩa vụ trả cho ông Ngô Tấn H5 số tiền
12.700.000 đồng.
Về án phí:
Hộ ông Nguyễn T (gồm ông Nguyễn T, bà Phạm Thị H2, Nguyễn Thị
Hoàng C, Nguyễn Thị Khánh L, ông Nguyễn Đại Q, ông Nguyễn Phạm Hoàng
L1) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.778.000 đồng.
Hộ ông Nguyễn Tấn H không chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Tấn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.600.000
đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001631 ngày 24/02/2023 của Chi cục Thi hành án
dân sự thị xã Điện Bàn (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Đà Nẵng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
* Sau khi xét xử thẩm: Ngày 08/9/2025, ông Nguyễn T kháng cáo đề nghị
cấp phúc thẩm xem xét lại bản án thẩm, ông cho rằng ông không lấn chiếm đất
của hộ ông Nguyễn Đức H3 nên không đồng ý trả lại đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi thảo luận nghị án, Hội
đồng xét nhận định:
Về tố tụng:
[1] Ngày 08/9/2025, ông Nguyễn T nộp đơn kháng cáo bản án thẩm trong
thời hạn luật định, xét thấy đơn kháng cáo hợp lệ theo quy định tại Điều 272 Bộ luật
Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét kháng cáo.
Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Nguyễn T thì thấy:
[2] Về nguồn gốc thửa đất của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn H: Thửa đất số
917, tờ bản đồ số 7, diện tích 851m
2
tại thôn L, Đ, thành phố Đà Nẵng được Ủy
ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho hộ ông Nguyễn Đức H3 (đã chết) vào ngày 17/01/1996, khai theo Nghị
6
định 64/CP của Chính phủ. Đăng khai theo Chỉ thị 299/TTg thì diện tích đất
nêu trên thuộc thửa 525, tbản đồ số 1, diện tích 750m
2
do Nhan Thị M (vợ ông
Nguyễn Đức H3) đăng ký.
[3] Đối với hộ ông Nguyễn T được Nhà nước giao đất theo Quyết định số
151/QĐ-UB ngày 04/5/1993 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Tại
Biên bản bàn giao đất ngày 10/7/1993 của Ủy ban nhân dân xã Đ (cũ) thể hiện: cạnh
Đ2 dài 14m; cạnh Nam dài 23m; cạnh Tây dài 14m; cạnh Bắc dài 23m; diện tích sử
dụng 322m
2
. Theo Công văn số 90/CV-UBND ngày 13/8/2024 của Ủy ban nhân
dân xã Đ thì diện tích đất này có nguồn gốc của ông Vũ Trường S, sau đó thu hồi và
giao cho ông Nguyễn T sử dụng. Sau khi được giao đất thì ông Nguyễn T đăng ký
khai theo Nghị định 64/CP thuộc thửa đất số 918, tờ bản đồ số 7, diện tích
316m
2
được Ủy ban nhân dân huyện Đ (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho hộ ông Nguyễn T số B183064 ngày 17/01/1996.
[4] Theo kết quả đo đạc thực tế ngày 25/5/2023 của Chi nhánh Công ty Cổ
phần Đ3 tại Quảng Nam thể hiện:
- Thửa số 917, tờ bản đồ số 7, của hộ ông Nguyễn Đức H3 diện tích
786,3m
2
,
thiếu 64,7m
2
so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thửa số 918, tờ bản đồ số 7 của hộ ông Nguyễn T, diện tích 370,7m
2
,
thừa 54,7m
2
so Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thừa 48,7m
2
so với Biên bản
bàn giao đất ngày 10/7/1993. Cụ thể: cạnh T1 dài 15,14m, tăng 1,14m; cạnh Đông
dài 15,1m, tăng 1,1m; tổng diện tích đất tranh chấp là 25,7m
2
.
[5] Quá trình giải quyết vụ án cấp thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm hôm
nay, ông T cho rằng, diện tích đất của ông tăng lên 48,7m
2
so với diện tích đất được
giao do ông khai hoang mương nước thủy lợi phía nam. Tuy nhiên, theo Công
văn số 90/CV-UBND ngày 13/9/2024 của Ủy ban nhân dân Đ (cũ) cũng như lời
khai của ông Phạm M1, ông Nguyễn T2 và bà Lê Thị H6 (những người dân sống lâu
năm tại khu vực của ông H3, ông T) xác định từ trước đến nay không diện tích
đất hoang hoặc mương nước thuỷ lợi nào chạy dọc theo chiều dài vườn ông Nguyễn
T để ông T khai hoang, chỉ mương nước chạy dọc theo chiều rộng của vườn
ông H3, ông T. Hơn nữa, theo Bản đ299 Bản đ64 thì khu vực xung quanh
vườn nhà ông H3 ông T, không đất nông nghiệp chỉ đất thổ của
người dân.
[6] Tại giai đoạn phúc thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng văn bản
yêu cầu Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai cung cấp thông tin về thửa đất tranh
chấp. Ngày 26/6/2026, Chi nhánh Văn phòng Đ4 Công văn số 1466/CNKVVII
trả lời: Hiện nay Bản đđịa chính lập năm 1995 theo Nghị định 64/CP của Chính
phủ được lưu trữ tại chi nhánh V dạng giấy không thể hiện kích thước các cạnh
thửa đất nên Chi nhánh Văn phòng không sở để cung cấp thông tin về số đo
các cạnh thửa đất số 817, tbản đồ số 7, diện tích 815m
2
tại L, Đ, thị Đ, tỉnh
7
Quảng Nam (nay thuộc xã Đ, thành phố Đà Nẵng). Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã
căn cứ vào kết quả đo đạc hiện trạng đất các bên đang sử dụng, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được cấp cho hai hộ, lời khai của những người làm chứng và các
chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án để giải quyết đúng pháp luật.
[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của ông T đối với nội dung vụ án như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa.
[8] Về án phí dân sự thẩm phúc thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
đúng quy định pháp luật. Đồng thời, Hội đồng xét xcấp phúc thẩm không chp
nhận kháng cáo của ông T nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên
tại giai đoạn phúc thẩm, ông T trên 60 tuổi, thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin
miễn án phí nên căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xmiễn án phí dân sơ thẩm phúc
thẩm cho ông T, do đó sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 31 Luật Đất
đai năm 2024; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
I. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trinh .
II. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng về án phí như sau:
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn H đối với hộ
ông Nguyễn T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc hộ ông Nguyễn T (gồm ông Nguyễn T, Phạm Thị H2, Nguyễn
Thị Hoàng C, Nguyễn Thị Khánh L, ông Nguyễn Đại Q, ông Nguyễn Phạm
Hoàng L1) phải có nghĩa vụ tháo dỡ hàng rào, di chuyển 01 cây mận và 01 cây bưởi
để trả cho hộ ông Nguyễn Đức H3 (do ông Nguyễn Tấn H ông Nguyễn Thành
H1 làm đại diện) diện tích đất 25,7m
2
, tứ cận: cạnh Đông dài 1,1m; cạnh Tây
dài 1,14m; cạnh Nam dài 23m; cạnh Bắc dài 23m (có sơ đồ kèm theo).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn T thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí.
8
Hoàn trả cho ông Nguyễn Tấn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.600.000
đồng theo Biên lai thu số 0001631 ngày 24/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân s
thị xã Điện Bàn (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10).
3. Chi phí tố tụng: Buộc hộ ông Nguyễn T (gồm ông Nguyễn T, Phạm Thị
H2, Nguyễn Thị Hoàng C, bà Nguyễn Thị Khánh L, ông Nguyễn Đại Q, ông
Nguyễn Phạm Hoàng L1) nghĩa vụ trả cho ông Ngô Tấn H5 số tiền 12.700.000
đồng.
III. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn T thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc
thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc
thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0003245 ngày 09/10/2025 tại Thi hành án dân s
thành phố Đà Nẵng.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Đà Nẵng;
- TAND khu vực 10 - Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 10 - Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ.
Thái Thị Phi Yến
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 177/2026/DS-PT Bản án số 177/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 177/2026/DS-PT Bản án số 177/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất