Bản án số 59/2026/DS-PT ngày 06/07/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 59/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 59/2026/DS-PT ngày 06/07/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 59/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: V/v “Tr/ch quyền sử dụng đất”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 59/2026/DS-PT Bản án số 59/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 59/2026/DS-PT Bản án số 59/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

- Thành phn Hi đồng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến và bà Lê Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà nguyễn Tú Anh -Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Hoàng Phương Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 43/2026/TLPT-DS
ngày 11tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số: 25/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Thanh Hóa có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:46/2026/QĐ-PT ngày
01 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bùi Thị C, sinh năm 1960; Số CCCD:
Địa chỉ: Phố C, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa (nay phường H, tỉnh
Thanh Hóa).
2.Bị đơn:
2.1. Bà Vũ Thị P, sinh năm 1962; Số CCCD:
Địa chỉ: SN D D, phường N, TP ., tỉnh Thanh Hóa Hóa (nay SN D D,
phường H, tỉnh Thanh Hóa).
2.2. Bà Vũ Thị H, sinh năm 1957; Số CCCD:
Địa chỉ: SN A A, phường N, TP ., tỉnh Thanh Hóa Hóa (nay SN A A,
phường H, tỉnh Thanh Hóa).
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Vũ Đức H1, sinh năm 1961; Số CCCD:
TA N NHÂN DÂN CNG HA X HI CH NGHA VIT NAM
TỈNH THANH HÓA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 59 /2026/DS- PT
Ngày 06 tháng 7 năm 2026
V/v “Tr/ch quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CNG HOÀ X HI CH NGHA VIT NAM
TOÀ N NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
2
Địa chỉ: S H, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa(nay là S H, phường H, tỉnh
Thanh Hóa).
3.2. Ông Vũ Đức D, sinh năm 1968; Số CCCD:
Địa chỉ: S H, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa(nay là S H, phường H, tỉnh
Thanh Hóa).
3.3. Bà Vũ Thị D1, sinh năm 1959; Số CCCD:
Địa chỉ: Lô G, MBQH I phố L, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa(nay là
G, MBQH I phố L, phường H, tỉnh Thanh Hóa)
NI DUNG VỤ N:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình giải quyết vụ án theo bản án
sơ thẩm nguyên đơn Bùi Thị C trình bày:
Cụ Nguyễn Thị L ruột của Bùi Thị C, chồng cụ L cụ Đức
H2 (Cụ Nguyễn Thị L Vũ Đức H2 đều đã chết). Cụ L cụ H2 5 người con
là: Bà Vũ Thị P, Vũ Thị H, ông Vũ Đức H1, ông Vũ Đức D, Vũ Thị D1).
Tháng 3 năm 1987 cụ H2, cụ L đơn xin đất, được thôn C xác nhận
hoàn cảnh được UBND Đ chấp nhận “Cho dựng quán trên thửa đất bờ
sông từ B đến B Phiên 6m x 8m = 48m
2
” (theo bản đồ địa chính phường Đ 1994
thửa 19 tờ bản đồ 11). Sau đó cụ H2, cụ L dựng 01 nhà quán tranh tre trên
thửa đất này để bán hàng; Các cụ là người nộp thuế đất hàng năm cho Nhà N.
Tháng 12/1994 cụ H2 cụ L đã nhượng lại quán hàng (nêu trên) cho C
với giá 12.000.000đ. Các cụ đã lập “Giấy nhượng quán hàng” nội dung giấy
bán nhà quán trên thửa đất 48m
2
cho chị ruột là cụ Nguyễn Thị C1 (mẹ bà C) giá
5.000.000đ. Cụ H2 cụ L và 02 con trai (H1, D) cùng ký giấy nhượng quán.
Ngày 10/3/1995, bà C đã trả đủ số tiền mua quán cho cụ H2 cụ L. Cụ Huy
đã viết “Giấy nhận đủ tiền” nhượng lại quán là 12.000.000đ của bà C.
Năm 1996 C nhu cầu hoàn thiện giấy tờ chuyển nhượng để làm hồ
đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất. Do đó ngày
08/6/1996 cụ H2 cụ L đã viết “Đơn xin bán nhà ở” nội dung: Cụ H2 cụ L xin
bán cho C 03 gian ntranh tre nứa lá, móng đá xây xung quanh, tại thửa
đất 48m
2
, phía Đông giáp Bến Ông P, phía Tây giáp B, phía Nam giáp đường đi,
phía Bắc giáp sông B. Giấy do cụ H2 cụ L tên, xác nhận của thôn C,
đượcUỷ ban nhân dân Đ xác nhận đồng ý và chuyển đnghị Ủy ban nhân
dân thành phố T “Cho làm thủ tục mua bán nhà và đất ở cho Bùi Thị C”.
Trong “Giấy nhượng quán hàng” năm 1994 cụ H2 cụ L ghi nhượng quán
cho cụ C1 (mẹ C) g5.000.000đ để giảm tiền thuế cho C cho
rằng cụ L cụ C1 là chem ruột sẽ được miễn giảm thuế chuyển nhượng, thực
tế bà C là người mua đất và thanh toán tiền 12.000.000đ. Vì vậy, năm 1996 bà C
nhu cầu hoàn thiện giấy tờ chuyển nhượng để làm hồ đề nghị cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất, cụ H2 cụ L đã làm “Đơn xin
bán nhà ở” và ghi thông tin đúng là bán nhà cho bà C.
3
Sau khi nhận đủ tiền bán nhà quán trên thửa đất, cụ H2 cụ L đã giao giấy
tờ đất (gồm đơn xin đất của cụ H2 cụ L; các biên lai thu thuế nhà đất) cho C
đồng thời giao nhà đất cho bà C quản lý sử dụng.
Năm 1995 bà C đã phá bỏ nhà tranh tre và xây dựng trên nền móng đá
của cụ H2 cụ L làm 01 nhà cấp 4 tường gạch, rui bằng luồng, mái lợp
ngói. Việc xây dựng công khai, thời gian dài; cụ H2 cụ L các con của cụ H2
cụ L đều biết (vì nhà cụ H2 cụ L chỉ cách thửa đất khoảng 200 mét, 2 cụ các
con thường xuyên đi qua lại thửa đất) nhưng không ai tranh chấp hay thắc
mắc gì. Sau khi xây xong ngôi nhà này C cho Bùi Thị P1 (chị gái bà C)
nhờ 02 năm, sau đó lần lượt cho vợ chồng ông Nguyễn T Lê Thị L1; vợ
chồng anh Nguyễn T1 (con ông T L1) sau cùng ông Nguyễn Đình L2
thuê. Đến năm 2017 ngôi nhà hỏng dột nát nên C khóa cửa không cho ai
thuê nữa. Trong suốt quá trình sử dụng từ năm 1996 đến năm 2022 (khi xảy ra
tranh chấp) bà C là người nộp thuế đất. Theo bản đồ địa chính năm 2010 phường
Đ thửa đất l88 tờ bản đồ 03 mang tên bà Bùi Thị C.
Tháng 4/2022 bà i Thị C phá căn nhà ngói cũ để xây lại thì bà Vũ Thị P
Thị H tranh chấp, cho rằng đây đất của cụ H2 cụ L. Ủy ban nhân
dân phường Đ giải quyết và yêu cầu dừng xây dựng vì bà C đang xây lấn ra lòng
sông B. chung đã tháo dỡ phần xây lấn đồng thời đơn đề nghị và được
công ty TNHH Một thành viên S - Chi nhánh T2 thành phố T đồng ý “cho xây
dựng nhà cấp 4 nguyên trạng trên nền móng nhà cũ”.
Thị P và Thị H tiếp tục tranh chấp không cho xây dựng do
đó C khởi kiện đến Toà án với nội dung: yêu cầu Tòa án xác lập quyền sở
hữu của đối với tài sản thửa đất 88 tờ bản đồ 03 Bản đồ địa chính năm
2010 phường Đ.
Quá trình giải quyết vụ án bà C xác định: Thửa đất số 88 tờ bản đồ 03 bản
đố 2010 phường Đ, nguồn gốc của cụ H2 cụ L được UBND Đ giao sử
dụng cho phép xây dựng nhà quán, từ khi được giao đất cụ H2 cụ L đã thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế đất hàng năm cho Nhà N. Năm 1994 cụ H2 cụ L đã bán
cho bà, bà đã trả đủ tiền cho cụ H2 cụ L và sdụng thửa đất đồng thời nộp thuế
cho Nhà nước liên tục từ khi mua đến nay nên thửa đất thuộc quyền sử dụng của
bà. Mặc đất chưa được cáp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất song cụ H2
cụ L quyền đối với thửa đất thì người được hưởng quyền đó. Việc
thửa đất có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay bị thu hồi hoàn
toàn chấp hành theo quy định của chung của Nhà N. vậy yêu cầu Tòa án
công nhận người được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng đối với thửa đất 88
tờ bản đồ 03 Bản đồ địa chính năm 2010 phường Đ (trong phạm vi quyền mà cụ
H2 cụ L được phép) chứ không phải P H hay những người thừa kế khác
của cụ H2 cụ L. Việc Nhà Nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay thu
hồi thửa đất bà chấp hành theo quy định của pháp luật.
Về phía bị đơn: Thị P, Thị H trình bày thống nhất: Bố mẹ
các cụ Đức H2 (chết năm 2019) cụ Nguyễn Thị L (chết năm 2016).
4
Cụ H2 cụ L 5 người con là: Bà Thị H, bà Thị P, ông Đức H1, ông
Vũ Đức D, bà Thị D1.
Tháng 01 năm 1987 cụ H2 cụ L đơn xin đất, đến tháng 3 năm 1987
được Ủy ban nhân dân Đ đồng ý cho dựng quán bán hàng trên thửa đất. Sau
khi được UBND xã Đ đồng ý cho thửa đất thì cụ H2 cụ L cho bà P (việc cho đất
cụ H2 cụ L chỉ nói với các con trong gia đình biết, không lập biên bản).
Năm 1987 P làm móng đá và dựng 01 căn nhà xây tường, mái tranh để
bán hàng. Việc xây móng và làm quán đều do cụ H2 trực tiếp gọi bạn thợ của cụ
làm (vì khi đó cụ H2 làm thầu xây dựng) nhưng P người trả tiền vật liệu.
Sau khi xây quán xong P vừa tại quán để bán hàng vừa sống nhà chồng
(đi về giữa 2 nơi). Một thời gian sau P không đây nữa thì cụ L đây bán
hàng xén khoảng 3 năm. Do ốm đau nên cụ L về nhà chính bán hàng vặt; cụ H2
ra đây mở quán sửa xe đạp. Khoảng năm 1989 hoặc 1990 thì cụ H2 không mở
quán sửa xe nữa nên các cụ cho cụ C1 (mẹ đẻ C) để bán hàng; Sau đó P
thấy một số người khác tại nhà quán nên đã hỏi cụ H2 cụ L thì các cụ nói
đã cho cụ C1 mượn, cụ C1 cho ai mượn các cụ không biết. CH2 cụ L không có
lần nào nói đã bán thửa đất quán cho cụ C1 hay C, P H tin tưởng nên
không có ý kiến gì.
Đối với các tài liệu C cung cấp cho Tòa án (gồm: Giấy nhượng
quán hàng; Giấy nhận đủ tiền; Đơn xin bán nhà ở) P H không công nhận
giá trị pháp lý của các tài liệu này vì các lý do như: Giữa các tài liệu không khớp
về tên người mua (giấy năm 1994 ghi bán cho cụ C1; Giấy năm 1996 ghi bán
cho bà C); Số tiền bán không khớp nhau (Giấy bán thì ghi 5.000.000đ, giấy nhận
tiền lại ghi 12.000.000đ); Hình thức giấy tờ mua bán không đảm bảo quy định
của pháp luật về chuyển nhượng đất (như: Giấy chuyển nhượng không chữ
ký bên mua, không có công chứng, không có người làm chứng); Chữ ký chữ viết
không biết phải của cụ H2 cụ L hay không (Tuy nhiên các không yêu cầu
giám định chữ ký chữ viết của cụ H2 cụ L trong các tài liệu trên). Bà P bà H cho
rằng: Thực tế cụ H2 cụ L không bán nhà đất cho C; Việc C các giấy tờ
(gồm: Đơn xin đất các Biên lai nộp thuế đất của cụ H2 cụ L) để nộp cho Tòa
án có thể là do cụ H2 cụ L đưa cho bà C xem rồi bà C không đưa lại; hoặc cụ H2
đã đưa cho bà C giữ để làm tin khi cH2 vay tiền của bà C.
P, H xác định: Việc mua bán nhà quán thửa đất giữa cụ H2 cụ L
với C không thật. Trường hợp Tòa án xác định việc mua bán thì
việc mua bán hiệu (vì nội dung hình thức của hợp đồng không đảm bảo quy
định của pháp luật). Nvậy thửa đất số 19 tờ bản đồ 11, bản đ1994 phường
Đ vẫn thuộc quyền sử dụng của cụ H2 cụ L. Nay các cụ đã chết, quyền sử dụng
thửa đất thuộc về các con của cụ H2 cL; Gia đình đều thống nhất các cụ đã cho
P nên bà P người có quyền sử dụng thửa đất. Buộc bà C tháo dỡ tài sản trả
lại thửa đất cho bà P.
Những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đức H1, ông
Đức D, Thị D1 khai thống nhất với lời khai P, H về người thừa
kế của cụ H2 cụ L và việc cụ H2 cụ L được UBND xã Đ giao đất(như nêu trên).
5
Năm 1994 cụ H2 cụ L nói ông H1, ông D vào “Giấy nhượng quán hàng”
nội dung nhượng quán cho C, các cụ trao đổi với ông H1 việc bán
nhà quán ông H1 đồng ý. Ông H1, ông D đã ký vào giấy này, còn việc thực tế có
nhượng quán không thì cụ H2 cụ L không nói lại với ông H1, ông D.
D1 cho rằng thửa đất (nêu trên) năm 1987 UBND Đ cấp cho cụ L,
không cấp cho cụ H2; Giấy tờ mua bán, nhận tiền không chữ cụ L nên
không thể hiện việc cụ L đồng ý nhượng quán. Giấy nhận tiền là cụ H2 có thể đã
vay tiền của C nên viết giấy nhận 12.000.000đ.
Ông H1, ông D, D1 đề nghị Tòa án không công nhận giá trị của các
giấy tờ gồm: Giấy nhượng quán hàng; Đơn xin bán nhà; Giấy nhận tiền cụ
H2 đã viết vì không có đầy đủ chữ ký của cụ H2 cụ L và 5 người con của cụ H2
cụ L; cũng không chữ của C (người mua đất giao tiền); không
người làm chứng. Do giấy tờ mua bán không đảm bảo tính pháp lý, không đúng
hình thức về hợp đồng chuyển nhượng đất theo quy định của pháp luật. vậy,
yêu cầu Tòa án không công nhận việc mua bán nhà đất; xác định thửa đất của
cụ H2 cụ L và buộc C phải trả lại nhà quán của cụ H2 cụ L cho bà P.
Lời khai của những người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn P2 khai: năm 1995 ông được bà C thuê quét vôi ve
ngôi nhà cấp 4 bờ sông T- Đ, ông đã thực hiện công việc trong 2 đến 3 ngày
thì xong. Bà C là người thuê và trả tiền công cho ông.
Bùi Thị P1 (chị gái bà C) khai: Khoảng năm 1994 bà P1 chứng kiến bà
C đóng cọc tre, đổ đá và xây nhà quán tại xóm B sông C- Đ, sau khi làm xong
nhà bà C cho P1 nhờ 02 đến 03 năm thì P1 mua được đất chỗ khác nên
trả nhà cho C; Việc mua bán giữa ông H2 bà L với C thế nào bà P1 không
rõ nhưng bà P1nghe nói là bà C mua lại của ông H2 bà L.
Ông Nguyễn Bá T1 (con trai ông Nguyễn Bá TLê Thị L1) khai: Ông T
L1 thuê nhà quán địa chỉ xóm B sông C - Đ của C, thời gian thuê
ông T1 không nhớ rõ. Đến năm 2000 ông TL1 không ở đây nữa thì vợ chồng
ông T1 ra ở đây ở đến 2001.
Ông Nguyễn Đình L2 khai: Ông hàng xóm với vchồng ông N1 K
(chị gái C) ông thuê nhà quán tại đường H - C- Đ để sửa xe từ tháng
3/2015 đến tháng 3/2017, ông hỏi thuê và trả tiền thuê nhà cho bà K chị bà C.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định: Thửa đất hiện tại là thửa 88,
tờ bản đồ số 3, diện tích 32,6m
2
; địa chỉ phố C, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Tài
sản gắn liền với đất hiện 01 nhà cấp 4 đang trong quá trình xây dựng (đã xây
thô 04 bức tường gạch đỏ, cao 3,5m, chưa lợp mái) do bà C xây.
Tại công văn số 19/CNTLTP-KT ngày 29/01/2024 của Chi nhánh thủy lợi
thành phố T2 xác định:Hiện tại thửa đất nhà C thuộc K1+420H sông B đang
nằm toàn bộ trong phạm vi bảo vệ công trình sông B thuộc quy hoạch dự án
tiêu úng Đ.
6
Tại bản án thẩm số 25/2026/DSST ngày 31/3/2026 Tán nhân dân
khu vực 1 – Thanh Hoá đã quyết định như sau:
Xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị C.
Bùi Thị C được tiếp tục quản lý, sdụng thửa đất tài sản gắn liền
với đất (trong phạm vi quyền quản sử dụng cụ H2 cụ L được UBND
phường Đ cho phép năm 1987) đối với thửa đất 88 tbản đồ số 03 bản đồ địa
chính phường Đ đo vẽ năm 2010; địa chỉ thửa đất: Phố C, phường Đ, thành phố
T, tỉnh Thanh Hóa (nay là C, phường H, tỉnh Thanh Hóa)
(Việc xác định Bùi Thị C được tiếp tục quản sử dụng đối với thửa
đất trong bản án này không thay thế quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai).
Việc quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc
thu hồi đất đối với thửa đất bà C phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, nghĩa vụ thi hành án quyền kháng
cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 13/4/2026 bị đơn (Bà Vũ Thị P và bà Thị
H) kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm:sửa bản án
sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.( Huỷ bản án
sơ thẩm để xét xử lại)
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự, tại cấp
phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự:Không chấp nhận kháng cáo
của bị đơn.Giữ nguyên quyết định của bản án Dân sự sơ thẩm số:25/2026/DSST
ngày 31/3/2026 Toà án nhân dân khu vực 1 – Thanh Hoá
Về án phí: Bị đơn là người cao tuổi tại phiên toà đơn xin miễn tiền án
phí phúc thẩm nên áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 miễn tiền án phí DSPT đối với Thị P và Thị
H.
NHẬN ĐỊNH CA TA N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại
phiên tòa, ý kiến, tranh luận của các đương sự quan điểm của Đại diện Viện
kiểm sát về việc giải quyết vụ án Hi đồng xét x nhận định như sau
7
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Bùi Thị C khởi kiện tranh chấp QSDĐ đối với thửa đất tại
địa chỉ: C, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa (nay C, phường H, tỉnh Thanh
Hóa).yêu cầu Toà án
Do đó Tòa án nhân dân khu vực 1 -Thanh Hóa xác định quan hệ tranh
chấp quyền sử dụng đất thụ giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định
tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 - Bộ luật
TTDS; Khoản 2 Điều 1 - Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS; Khoản
1 Điều 4 - Nghị quyết 81/2025/UBTVQH 15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội.
Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn theo đúng quy định tại Điều
172; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo
thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn thấy rằng:
[2.1].Về nguồn gốc: Theo các đương sự trình bày và các tài liệu đương sự
cung cấp thể hiện: Thửa đất theo bản đồ địa chính phường Đ năm 1994 thửa
số 19 tờ bản đố 11 đứng tên chủ sử dụng: Nguyễn Thị H3 (Lưỡng), theo bản đồ
địa chính phường Đ năm 2010 thửa đất s88 tờ bản đố 03 đứng tên chủ s
dụng Bùi Thị C nguồn gốc được UBND xã Đ, thị xã T, tỉnh Thanh Hóa đồng
ý cho cụ H2 cụ L sử dụng để dựng quán bán hàng vào tháng 03 năm 1987.
Sau khi được UBND xã Đ cho phép xây dựng quán, cụ H2 cụ L đã xây 01
móng nhà bằng đá làm 01 ngôi nhà tranh tre trên thửa đất, các cụ quản lý, sử
dụng đất ổn định, công khai, liên tục và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất
cho Nhà N theo quy định.
Việc Ủy ban nhân dân Đ cho phép cụ H2 cụ L xây dựng nhà trên đất
năm 1987 không phải quyết định giao đất theo đúng thẩm quyền, song căn
cứ xác định cụ H2 cụ L sdụng thửa đất scho phép của chính quyền địa
phương, không phải hành vi lấn chiếm, trái phép. Quá trình sử dụng đất các
cụ thực hiện đúng mục đích xây dựng đúng phạm vi Ủy ban cho phép,
đồng thời các cụ đã thực hiện nghĩa vụ đóng thuế sử dụng đất hàng năm, đã
được đứng tên trong bản đồ địa chính của xã. Đây chính là những căn cứ để xem
xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ (theo Điều 100 Luật đất đai 2013; Điều 18 Nghị
định 43/2014/NĐ-CP). Do đó, việc cụ H2 cụ L quản lý, sử dụng thửa đất không
coi là vi phạm pháp luật.
[2.2].Về việc chuyển nhượng:
Ngày 28/12/1994, c Đức H2 và cụ Nguyễn Thị L lập “Giấy nhượng
quán hàng” nội dung giấy thể hiện: điều kiện gia đình kkhăn nên các cụ
nhượng lại quán hàng nằm trên miếng đất bờ sông, diện tích 8m x 6m = 48m
2
cho chị ruột là Nguyễn Thị C1 với số tiền 5.000.000đ.
Ngày 10/3/1995 cụ H2 viết “Giấy nhận đủ tiền”, nội dung giấy thể hiện:
Đã nhận đủ số tiền nhượng lại quán như đã thống nhất với bà C là 12.000.000đ.
8
Ngày 08/6/1996 cụ H2 cụ L “Đơn xin bán nhà ở” gửi UBND thành
phố T UBND phường Đ. Nội dung đơn thể hiện: Cụ H2 cụ L diện tích
48m
2
đất, hiện trạng nhà cửa gồm: Ba gian nhà tranh tre nứa móng đá xây
xung quanh. Các cụ xin được bán cho Bùi Thị C con của chruột (Nguyễn
Thị C1). Đơn xác nhận của thôn C được Ủy ban nhân dân phường C2, đề
nghị Ủy ban nhân dân thành phố “cho làm thủ tục mua bán nhà và đất ở”.
Từ năm 1995 cho đến khi cụ H2 chết (năm 2019) và cụ L chết (năm 2016)
thời gian dài hơn 20 năm, các cụ không có bất cứ hoạt động nào trong việc quản
lý sử dụng thửa đất.
P H những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị Tòa
án: Không công nhận giá trị pháp của các giấy tờ mua bán vì: Các giấy tờ
không thống nhất, mâu thuẫn vtên người mua, mâu thuẫn về số tiền mua bán,
không chữ của người mua và người giao tiền; không người làm chứng,
không công chứng chứng thực theo quy định và đề nghị xác định việc chuyển
nhượng vô hiệu.
Thấy rằng từ năm 1995 đến nay, bà C đã trực tiếp quản lý, sdụng thửa
đất. Việc sử dụng là công khai, ổn định, liên tục trong thời gian dài. Quá trình sử
dụng đất, bà C phá nhà quán tranh tre để xây nhà cấp 4 (tường ghạch, mái ngói)
sau đó cho chị gái mượn, lần lượt cho nhiều người thuê ngôi nhà không
bất kỳ sự phản đối, tranh chấp, thắc mắc của cụ H2 cụ L; mặc các cụ
biết việc C sử dụng thửa đất (vì các cụ sống trong cùng khu vực, cách thửa
đất này khoảng 200m, các cụ con cái vẫn thường xuyên đi qua vị trí thửa
đất). Từ năm 1996 (sau khi UBND xác nhận “Đơn xin bán nhà ở” của cụ H2 cụ
L thì bà C là người nộp thuế sử dụng đất đối với thửa đất, C đã trả đủ
tiền, cụ H2 cụ L đã giao giấy tờ đất và giao nhà đất cho C.
Các loại giấy tờ liên quan đến thửa đất như “Đơn xin đất”; “B lại thu thuế
nhà đất” của cụ H2 cụ L đều do bà C quản lý. Lời khai của người làm chứng đều
khẳng định họ nhận sửa nhà, mượn nhà, thuê nhà của bà C. Bà P, bà H và những
người thừa kế khác của cụ H2 cụ L không xuất trình được bất kỳ loại tài liệu,
chứng cứ nào liên quan đến thửa đất và quá trình thực hiện các quyền nghĩa
vụ với thửa đất.
Việc cụ H2 cụ L không bất kỳ hoạt động nào trong việc thực hiện
quyền nghĩa vụ của mình với thửa đất (không khai thác sdụng, không nộp
thuế, không tranh chấp khi người khác sử dụng) trong thời gian dài hơn 20 năm
việc các cụ nhiều lần làm văn bản với nội dung chuyển nhượng, nhận tiền
chuyển nhượng nhà đất, yêu cầu hai con trai vảo “giấy nhượng quán”, giao
giấy tờ đất cho bà C đã thể hiện ý chí của của các cụ tự nguyện, không bị
lừa dối, không bị ép buộc trong giao dịch. Giao dịch đã được các bên tự nguyện
thực hiện xong; Bên bán đã nhận đủ tiền; bên mua đã nhận tài sản; Bên mua bên
bán không có tranh chấp về việc mua bán. Việc mâu thuẫn trong các giấy tờ mua
bán bà C trình bày: Thực tế bà C người mua song ban đầu ghi tên cụ C1 (chị
gái cụ L) ghi số tiền mua bán 5.000.000đ nhằm mục đích miễn giảm thuế
9
chuyển nhượng sở để chấp nhận. Việc C không vào các văn bản
(nêu trên) không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cH2 cụ L.
Như vậy, cụ H2 cụ L người sdụng đất thực tế được chính quyền địa
phương cho phép; Các cụ đã tự nguyện chuyển giao nhà quyền quản sử
dụng thửa đất trên thực tế cho C. Việc chuyển giao giữa các bên chuyển
giao quyền quản lý, sử dụng trong phạm vi quyền cụ H2 cụ L có, không m
phát sinh quyền vượt quá quy định của pháp luật đất đai. vậy, mặc việc
chuyển nhượng giữa các bên không tuân thủ về hình thức; các văn bản về
chuyển nhượng do hai bên lập không được công chứng hoặc xác nhận của
quan thẩm quyền; song các bên đã tự nguyện thực hiện xong giao dịch và không
tranh chấp. Do đó giao dịch hiệu lực (Theo quy định tại Điều 117, 129,
401 - BLDS).
P bà H những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng thửa
đất cụ H2 cụ L đã cho P nhưng P, H cũng không xuất trình cũng
không có chứng cứ nào khẳng định cụ H2 cụ L đã cho bà P.
Bị đơn cho rằng thực tế cụ H2 cụ L không bán nhà đất cho bà C, việc mua
bán (nếu có) cũng không hợp lệ, vì thửa đất đứng tên cụ L là tài sản của cụ L, cụ
H2 không quyền bán cho C, các giấy tờ mua bán đều do một mình cụ H2
ký tên và ký hộ cho cụ L là ảnh hưởng đến quyền lợi của cụ L.
Thấy rằng đất mặc dù đứng tên cL nhưng là tài sản hình thành trong thời
kỳ hôn nhân của cụ H2 cụ L. vậy đây là tài sản chung của cụ H2 cụ L các
cụ đều có quyền định đoạt.
- Về chký, bị đơn khẳng định cụ L tuy làm công tác phụ nữ của phố,
được mọi người tín nhiệm, nhưng cụ không biết viết, chỉ viết được chữ “Lưỡng”
tên của cụ; chữ chviết trong các giấy tờ mua bán “Đơn xin đất” năm
1987 đều là chữ của cụ H2 và cụ H2 ký thay cụ L3 trình giải quyết vụ án Tòa án
cấp thẩm đã hướng dẫn nhưng bị đơn không yêu cầu giám định chữ chữ
viết, cũng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh việc cụ H2
hộ. Mặt khác, bị đơn cho rằng chữ “Lưỡng” phần chữ của người làm
đơn tại “Đơn xin bán nhà ở” tháng 6/1996 chữ cụ L. Xét, “Đơn xin bán
nhà ở” tháng 6/1996, tài liệu sau cùng thể hiện ý chí của cụ H2 cụ L về việc
định đoạt tài sản của mình; Đơn xác nhận của thôn C UBND phường Đ,
đảm bảo tính khách quan của sự việc; bị đơn xác nhận chữ trong đơn của cụ
L. Như vậy, các giấy tờ trước đó (như: Đơn xin đất; Giấy nhượng quán; Giấy
nhận tiền) nếu có việc cụ H2 là người viết và ký tên cụ L (như ý kiến bị đơn) thì
cũng đều phù hợp với ý chí, nguyện vọng của cL.
Bị đơn cho rằng cụ H2 cụ L chỉ bán công trình (chỉ bán nhà quán T3)
không bán đất.Công trình xây dựng gắn liền với đất không thể tồn tại độc lập
nếu không quyền sử dụng đất; Tại “Đơn xin bán nhà ở” cụ H2 cụ L xin bán
“Ba gian nhà tranh tre nứa móng đá xây xung quanh”. Phần “Diện tích đất
kèm theo” ghi giáp ranh tcận; Sau khi chuyển nhượng, cụ H2 cụ L đã
chấm dứt toàn bộ việc quản lý, sdụng hưởng lợi từ thửa đất; Không phản
đối khi C phá nhà tranh tre xây nhà mới. Hành vi của các bên thể hiện ý
10
chí của cụ H2 cụ L chuyển giao toàn bộ quyền quản lý, sử dụng (trong phạm
vi các cụ được phép) đối với thửa đất cho bà C. Do đó, bị đơn cho rằng cụ H2 cụ
L chỉ bán công trình là không có căn cứ chấp nhận.
Bị đơn cho rằng cụ H2 cụ L viết các giấy tờ mua bán, nhận tiền với C
trong tình trạng tuổi cao sức yếu, đầu óc không bình thường. Tại phiên hoà giải
ngày 16/11/2023 ông H1 ý kiến: Cụ H2 cụ L trao đổi với ông H1 về việc
bán nhà quán, ông H1 đồng ý và ký vào giấy nhượng quán; Ông D có ý kiến: Cụ
H2 nói vào giấy nhượng quán ông D đã giấy này. Các giấy tờ chuyển
nhượng được lập vào năm 1994 năm 1996; Đến năm 2015 cụ H2 chết, năm
2019 cụ L chết. Từ khi lập giấy tờ trên đến khi các cụ chết thời gian hơn 20
năm, các cụ sinh sống bình thường. vậy không căn cứ để khẳng định khi
lập giấy cụ H2 cụ L trong tình trạng tuổi cao sức yếu, đầu óc không bình
thường.
- Bị đơn người QLNVLQ cho rằng việc C các giấy tờ liên
quan đến thửa đất (Giấy xin đât bờ sông; Các biên lai nộp thuế) do cụ H2 vay
tiền bà C và đưa giấy tờ đất cho bà C giữ làm tin; Hoặc cụ H2 cụ L đưa cho bà C
xem rồi bà C không trả lại.
Bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không xuất trình được bất
cứ tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho quan điểm này của mình, do đó không
có căn cứ chấp nhận.
Bị đơn cho rằng việc C khai cụ H2 cụ L đã nhượng nhà đất cho C
năm 1995, nhưng năm 1996 cụ H2 cụ L vẫn người nộp thuế đất. Tháng
12/1994 cụ H2 cụ L lập “Giấy nhượng quán”; Tháng 3/1995 viết “Giấy nhận đủ
tiền”; năm 1995 C đã phá nhà tranh tre xây nhà cấp 4; Tuy nhiên tháng
9/1996, khi viết “Giấy xin bán nhà ở” thì các bên mới xin xác nhận của UBND
phường. C khai hai bên nhượng nhà đất xong năm 1995 nhưng sau khi
xác nhận của phường về việc cụ H2 cụ L nhượng nhà đất cho C (tháng
9/1996) thì phường mới thu thuế từ C, do đó tháng 01/1996 cụ H2 cụ L vẫn
nộp thuế nhà đất là có cơ sở.
Đối với việc P, H những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
thống nhất khẳng định cụ H2 cụ L đã cho P thửa đất, thửa đất thuộc quyền
của P tuy nhiên, bị đơn những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
anh chị em ruột, cùng đối kháng vlợi ích với nguyên đơn; Ngoài lời khai, họ
không xuất trình được bất cứ tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh cụ H2 cụ L
đã cho bà P thửa đất.
Như vậy,việc bị đơn người quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng
việc cụ H2 cụ L chuyển nhượng nhà quán quyền quản sử dụng thửa đất
cho bà C vô hiệu và buộc bà C trả lại thửa đất là không có căn cứ.
Mặc dù thửa đất các bên tranh chấp “đang nằm toàn bộ trong phạm vi
bảo vệ công trình sông B thuộc quy hoạch dự án tiêu úng Đ”; Đất chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đủ điều kiện để giao dịch chuyển
nhượng theo quy định của pháp luật đất đai. Tuy nhiên, cụ H2 cụ L đã đã tự
11
nguyện chuyển giao cho C từ năm 1995, các cụ đã nhận đủ tiền chuyển
nhượng; các cụ không có tranh chấp về việc chuyển nhượng; Bà C đã quản lý sử
dụng ổn định, liên tục từ năm 1995 đến nay, đã có tên trong bản đồ địa chính, đã
thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Do đó cần ghi nhận thực tế quản
sử dụng này của C.
vậy, C yêu cầu Tòa án xác định C là người được quyền tiếp tục
quản lý, sử dụng đối với thửa đất sở hữu tài sản gắn liền với đất (trong phạm
vi quyền sdụng cụ H2 cụ L được quan thẩm quyền công nhận) là phù
hợp, có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên thì kháng cáo ca bà P và bà H kháng cáo huỷ
toàn bộ bản án thẩm không căn cứ nên không được Hội đồng xét xử
phúc thẩm chấp nhận. ý kiến đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng
xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự: Không chấp nhận
kháng cáo cuả Thị P và bà Thị H. Ginguyên quyết định của bản án
Dân sự sơ thẩm số 25/2026/DSST ngày 31/3/2026 Toà án nhân dân khu vực 1
Thanh Hoá là có n cứ nên được chp nhn.
[3] Về án phí:Kháng cáo của bà Thị P và bà Vũ Thị H không được
chấp nhận do đó căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1Điều
29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án phải nộp 300.000 đồng án phí dân
sự phúc thẩm. nhưng tại phiên toà phúc thẩm xuất trình tài liệu chứng cứ tại
giai đoạn phúc thẩm đã hơn 60 tuổi và bà đơn xin miễn án phí phúc thẩm.
Do vậy căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14
miễn án phí DSPT cho bà Vũ Thị H và Thị P
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:Khoản 1 Điều 308, của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị P và bà Vũ Thị H
Giữ nguyên bản án thẩm số 25/2026/DSST ngày 31/3/2026 Toà án
nhân dân khu vực 1 – Thanh Hoá
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều
39; khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 129 Bộ luật dân
sự;
Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 14 -NQ 326/2016/UBTVQH 14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí
Tòa án
Xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị C.
12
Bùi Thị C được tiếp tục quản lý, sdụng thửa đất tài sản gắn liền
với đất (trong phạm vi quyền quản sử dụng cụ H2 cụ L được UBND
phường Đ cho phép năm 1987) đối với thửa đất 88 tbản đồ số 03 bản đồ địa
chính phường Đ đo vẽ năm 2010; địa chỉ thửa đất: Phố C, phường Đ, thành phố
T, tỉnh Thanh Hóa (nay là C, phường H, tỉnh Thanh Hóa)
(Việc xác định Bùi Thị C được tiếp tục quản sử dụng đối với thửa
đất trong bản án này không thay thế quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai).
Việc quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc
thu hồi đất đối với thửa đất nêu trên C phải thực hiện theo quy định của pháp
luật.
Người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật thi hành án Dân
sự. Thời hiệu thi hành án Dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 34 Luật
thi hành án dân sự.
Về án phí phúc thẩm: Min án phí phúc thm cho bà Thị P và bà
Thị H.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-TAND Ti cao; THẨM PHN – CH TỌA PHIÊN TA
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- TAND khu vc 1- Thanh Hóa;
-VKSND khu vc 1- Thanh Hóa;
- THADS tnh Thanh Hóa;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ./.
Hoàng Thị Nguyệt
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 59/2026/DS-PT Bản án số 59/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 59/2026/DS-PT Bản án số 59/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất