Bản án số 633/2026/DS-PT ngày 13/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 633/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 633/2026/DS-PT ngày 13/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 633/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tòa án cấp phúc thẩm y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 633/2026/DS-PT Bản án số 633/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 633/2026/DS-PT Bản án số 633/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 633/2026/DS-PT
Ngày 13-7-2026
V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Văn Thông
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị
Bà Phạm Thị Thu Trang
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thư Linh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Trần Thị P - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 251/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng 4 năm
2026 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 16/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 536/2026/QĐ-PT ngày 22
tháng 5 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà số: 701/2026/QĐ-HPT ngày 23
tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1950; địa chỉ: ấp C, P, tỉnh
Vĩnh Long; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn T: Ông Phạm Trọng P1,
sinh năm 1981; địa chỉ: khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Khóm E, phường
N, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Trung T1: Ông Trung D,
sinh năm 1973; địa chỉ: khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngô Thị Mỹ T2, sinh năm 1955; địa chỉ: ấp C, xã P, tỉnh Vĩnh Long;
vắng mặt.
Người đại diện theo y quyền của Ngô Thị Mỹ T2: Ông Phạm Trọng P1,
sinh năm 1981; địa chỉ: khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
3.2. Ông Nguyễn Thành T3, sinh năm 1985; địa chỉ: Số C, Khóm C, phường
2
H, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
3.3. Ông Phạm Trọng N, sinh năm 1979; địa chỉ: khóm Đ, phường H, tỉnh
Vĩnh Long; vắng mặt.
Người đại diện theo y quyền của ông Phạm Trọng N: Ông Nguyễn Thành
T3, sinh năm 1985; địa chỉ: Số C, Khóm C, phường H, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
4. Người kháng cáo: B đơn ông Nguyn Trung T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong hồ tại phiên
tòa, nguyên đơn Phạm Văn T trình bày:
Vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Ngô Thị Mỹ T2 có thửa đất số 3271, tờ bản đồ
số 54, diện tích 1.005m
2
, loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại khóm Đ,
phường H, tỉnh Vĩnh Long do bà Ngô Thị Mỹ T2 đứng tên quyền sử dụng đất. Vào
ngày 30/12/2022, vợ chồng ông, làm hợp đồng chuyển nhượng thửa đất này
cho ông Nguyễn Trung T1 với giá 500.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận
miệng sau khi vợ chồng ông T, T2 tách thửa giấy đất thông báo nộp
thuế sẽ báo cho ông T1 hay ông T1 sẽ thanh toán đủ số tiền 500.000.000
đồng cho ông T, T2.
Tuy nhiên đến năm 2023, vợ chồng ông T đã thông báo với ông T1 về việc đã
thông báo nộp thuế tách thửa để ông T1 thực hiện nghĩa vụ vhợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 3271, nhưng ông T1 không trả lời cho vợ
chồng ông T biết khi nào thanh toán tiền chuyển nhượng đất số tiền theo hợp đồng
chuyển nhượng 500.000.000 đồng cho vợ chồng ông T, T2 mặc phía ông
T đã nhiều lần nhắc nhở ông T1, thấy rằng phía ông T1 đã xâm phạm đến quyền và
lợi ích của vợ chồng ông T, T2 nên ông T khởi kiện yêu cầu đối với ông T1:
Yêu cầu Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông T, T2 với
ông T1 đối với thửa đất số 3271, tờ bản đồ số 54, diện tích 1.005m
2
, tại khóm Đ,
phường H, tỉnh Vĩnh Long.
Đối với việc yêu cầu ông T1 phải trả lại cho ông T, T2 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa đất số 3271 do T2 đứng tên quyền sử dụng đất, nay ông
T tự nguyện xin rút lại yêu cầu này. Ông T chỉ yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
* Theo bản khai, biên bản hòa giải, các lời khai trong hồ tại phiên
tòà, bị đơn Nguyễn Trung T1 trình bày:
Vào ngày 30/12/2022, ông Nguyễn Trung T1 được ông Phạm Trọng N đứng
ra bán khu đất gồm 25 nền không liền kề nhau, trong này thửa đất số 3271, tờ
bản đồ số 54, diện tích 1.005m
2
, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long ông T,
T2 đã bán cho ông T1. Ngoài ra, còn các thửa đất khác ông N bán cho ông T1
cụ thể: Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn Thanh L, Thị Thanh T4, ông Lê
Văn Đ, ông Lưu Minh T5 mục đích là để ông N vay tiền của ông T1, số tiền ông N
còn nợ ông T1 tổng cộng là 9.800.000.000 đồng là các thửa đất khác. Riêng ông T,
3
T2 với ông T1 có làm hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất số 3271, tờ bản
đồ số 54, diện tích 1.005m
2
, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long với giá ghi
trong hợp đồng chuyển nhượng 500.000.000 đồng thật, ông T T2 đã
giao cho ông T1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất này, hiện ông T1
đang giữ giấy đỏ, người nhận tiền của ông T1 là ông Phạm Trọng N con của ông T,
T2;
Khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên làm hợp đồng chuyển
nhượng, cụ thể: Ông T, T2 làm hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 3271,
tờ bản đồ số 54, diện tích 1.005m
2
, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long cho ông
T1 với giá trong hợp đồng chuyển nhượng 500.000.000 đồng ông T giao cho
ông T1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện tại ông T1 giữ giấy nhưng đất thì
chưa giao cho ông T1;
Nay ông T1 yêu cầu ông T, T2 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông T, T2 đối với thửa đất số 3271, tờ bản đồ số 54,
diện tích 1.005m
2
, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long cho ông T1 theo giao
dịch mà các bên đã cam kết.
* Theo bản tự khai của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm
Trọng N có ý kiến trình bày như sau:
Từ tháng 12/2022 đến tháng 3/2023, ông mượn giấy đỏ của thửa đất số
3271, tờ bản đồ số 54, diện tích 1.005m
2
, tại ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh do
mẹ của ông Ngô Thị Mỹ T2 đứng tên quyền sử dụng đất để thế chấp vay tiền
của ông Nguyễn Trung T1, tổng stiền vay 500.000.000 đồng. Ngoài ra, ông
còn mượn giấy đỏ của các thửa đất khác của Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn
Thanh L, Thị Thanh T4, ông Lê Văn Đ, ông Lưu Minh T5 đvay tiền của
ông Nguyễn Trung T1. Tổng số tiền ông thực nhận của ông T1 4.800.000.000
đồng trong này có tiền lãi;
Việc ông biết ông T1 do ông Nguyễn Thành T3 Phường E, thành phố T,
tỉnh Trà Vinh (cũ) giới thiệu nên việc đóng lãi ông có nhờ ông T3 trả cho vợ chồng
ông T1 tổng cộng 1.000.000.000 đồng một lần chuyển khoản vào tài khoản
của người khác số tiền là 200.000.000 đồng, số tài khoản này do bà X là vợ ông T1
cung cấp ông chuyển vào ngày 28/9/2023. Ngoài ra ông cũng đóng lãi cho
ông T1 một vài lần ngoài quán phê nhưng việc đóng lãi hai bên không biên
nhận;
Phần số tiền 5.000.000.000 đồng phía ông T1 yêu cầu ông trả (trong số tiền
9.800.000.000 đồng) phần tiền nhận riêng giữa ông T3 với vợ chồng ông T1,
biên nhận hay không thì ông không biết, còn phần tiền gốc 4.800.000.000 đồng
do ông viết biên nhận với ông T1.
* Theo bản tự khai của của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Thành T3 có ý kiến trình bày như sau:
Vào năm 2021, ông quen với ông Nguyễn Trung T1 ông cùng với
ông Phạm Trọng N đến nhà ông T1 vay tiền làm ăn, có đóng lãi cho ông T1. Theo
ông biết thì ông N vay tiền của T1 số tiền chỉ 4.800.000.000 đồng, khi ông N
4
đóng tiền lãi cho ông T1 thì ông cũng đóng tiền lãi. Đến khoảng năm 2024 thì
vợ chồng ông T1 có kêu ông N qua để viết biên nhận là 9.800.000.000 đồng lúc đó
mặt ông tại đó, biên nhận này do vchồng ông T1 ép ông N ghi tên.
Trong biên nhận ngày 16/4/2024 ông N ghi số tiền 9.800.000.000 đồng,
nhưng thực tế ông N chỉ nợ ông T1 số tiền 4.800.000.000 đồng, còn lại tiền
của ông nợ ông T1 tiền lãi. Từ tháng 4/2024 đến nay thì ông và ông N không có
đóng tiền lãi cho ông T1. Còn việc Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông T1 với ông T, T2 mục đích làm niềm tin cho việc vay tiền của ông
N, việc gia đình ông N đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số
3271 cho ông T1 thì ông không biết.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đã đưa vụ
án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 16/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 157;
Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271 Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 124; Điều 440; Điều 502 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ vào Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T;
Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Phạm Văn T, Ngô Thị Mỹ T2 với ông Nguyễn Trung T1 đối với thửa đất số
3271, tờ bản đồ số 54, diện tích 1.005m
2
, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long
do Phòng công chứng Nguyễn Thanh B ký ngày 30/12/2022;
[2] Đình chỉ phần yêu cầu của ông Phạm Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn
Trung T1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 3271 do Ngô Thị
Mỹ T2 đứng tên quyền sử dụng đất;
[3] Dành cho ông Nguyễn Trung T1 một vụ kiện đối với ông Phạm Trọng N
về số tiền vay gốc, lãi khi có yêu cầu;
[4] Để đảm bảo cho việc thi hành án, khi án hiệu lực pháp luật các đương
sự nghĩa vụ giữ nguyên hiện trạng đất, không được thay đổi hoặc xây cất trồng
thêm trong diện tích đất tranh chấp dưới bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự
đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Trung T1 phải chịu án phí dân ssơ thẩm với stiền
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng);
Ông Phạm Văn T Ngô Thị Mỹ T2 không phải nộp án phí do ông,
thuộc diện được miễn án phí (người cao tuổi) theo quy định tại điểm đ khoản 1
5
Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên chấp nhận cho ông, bà được miễn án phí;
[6] Về chi pthẩm định, định giá i sản: Tổng số tiền 5.363.000 đồng
(Năm triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn đồng). Buộc ông Nguyễn Trung T1 phải
chịu toàn bộ số tiền này, số tiền này ông Phạm Văn T đã nộp đủ. Phòng thi hành án
dân sự khu vực 10 - Vĩnh Long thu hoàn lại cho ông Phạm Văn T nhận số tiền
này;
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 13/02/2026, bị đơn ông Nguyễn Trung T1 kháng cáo Bản án thẩm.
Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn; chấp nhận kháng cáo của bị đơn, công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 3271, tờ bản đồ s54, tọa
lạc tại ấp Đ, H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (cũ) giữa Nguyễn Trung T1 Phạm
Văn T, Ngô Thị Mỹ T2.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người được nguyên đơn ông Phạm Văn Thành ủy Q1 là ông Phạm Trọng P1
trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung T1.
Yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Bị đơn ông Nguyễn Trung T1 người được ông T1 uỷ quyền ông
Trung D trình bày: Không đồng ý với Bản án thẩm. Giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo; yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông Phạm Văn T, chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung
T1, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất đối với thửa đất số
3271, tờ bản đồ số 54, tọa lạc tại ấp Đ, H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là khóm
Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long) giữa ông Nguyễn Trung T1 với ông Phạm Văn T
Ngô Thị Mỹ T2.
- Người được người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Mỹ T2 u
quyền ông Phạm Trọng P1 trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của
bị đơn ông Nguyễn Trung T1. Yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản
án sơ thẩm.
- Người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành T3 đồng thời
người được người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Trọng N ủy
quyền trình bày: Ông Phạm Trọng N chỉ nợ ông Nguyễn Trung T1 số tiền
4.800.000.000 đồng, chứ không phải nợ số tiền 9.800.000.000 đồng như ông T1 và
ông Trung D trình bày. Số tiền 5.000.000.000 đồng chênh lệch này do ông
T1 tính lãi đối với ông N một khoản tiền do ông vay của ông T1 khoản
1.000.000.000 đồng, ông ông N vẫn thừa nhận nợ tiền của ông T1. Việc ông N
vay tiền của ông T1 là mối quan hệ độc lập, không liên quan đến việc ký Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn T, NThị Mỹ T2 với
ông T1.
6
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật t tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư
phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc
xét xử phúc thẩm vụ án;
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy
đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật;
Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo và thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn
Trung T1 đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
do đó Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thụ vụ án để xét xử phúc thẩm đúng
theo quy định tại Điều 285 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Về nội dung:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1
Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trung T1;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long;
Tuyên xử:
Hủy toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn
T, Ngô Thị Mỹ T2 với ông Nguyễn Trung T1 đối với thửa đất số 3271, tờ bản
đồ số 54, diện ch 1.005m
2
, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long do Phòng
công chứng Nguyễn Thanh B ký ngày 30/12/2022.
Giữ nguyên những phần còn lại của Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST
ngày 04/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Trung T1 phải chịu 300.000
đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ đã được thẩm tra công khai
tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét
kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung T1; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Trung T1 trong hạn 15 ngày theo quy định
tại Điều 273 của Bộ luật Ttụng dân sự, hình thức và nội dung đơn kháng cáo
đúng theo quy định tại Điều 272 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Toà án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long thụ vụ án theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
7
- Tại phiên tòa phúc thẩm; người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Phạm Trọng N đã được triệu hợp lệ lần thứ hai vắng mặt. Căn cứ quy định tại
Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N.
[2] Về nội dung:
2.1. Về nội dung vụ án:
Vào ngày 30/12/2022, ông Phạm Văn T, Ngô Thị Mỹ T2 làm hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Trung T1 thửa đất số 3271, tờ
bản đồ số 54, diện tích 1.005m
2
, loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại khóm
Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long với giá chuyển nhượng 500.000.000 đồng nhưng
ông T1 chưa thực hiện nghĩa vụ giao tiền; nên ông T yêu cầu hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và bà T2 với ông T1 đối với thửa đất số 3271,
tờ bản đồ số 54, diện tích 1.005m2, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long;
Phía ông T1 thì cho rằng giữa ông với ông T T2 làm hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 3271, tờ bản đsố 54, diện tích
1.005m
2
, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long với giá ghi trong hợp đồng
chuyển nhượng 500.000.000 đồng ông T giao cho ông giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, hiện ông đang giữ giấy chứng nhận quyền sdụng đất đối với
thửa đất này; ông T1 yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông với ông T T2 đối với thửa đất số 3271, tờ bản đồ số 54,
diện tích 1.005m
2
, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long theo giao dịch các
bên đã cam kết.
2.2. Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung T1, nhận thấy:
Nguyên đơn ông Phạm Văn T, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Ngô Thị Mỹ T2 bị đơn ông Nguyễn Trung T1 đều thừa nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trực tiếp giữa ông T, T2 với ông T1.
Đối với quan hệ vay mượn tiền giữa ông Phạm Trọng N và ông Nguyễn Trung T1,
quá trình giải quyết vụ án cấp thẩm ông T1 chỉ thừa nhận phát sinh việc
ông cho ông N vay tiền nhưng là đối với các khoản nợ và các thửa đất khác, không
thừa nhận liên quan đến việc chuyển nhượng thửa đất số 3271. Mặt khác,
nguyên đơn ông T cũng xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được kết giữa ông T, bà T2 với ông T1; không tài liệu, chứng cứ nào thể
hiện ông N chủ thể tham gia giao kết hoặc người nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất.
Hồ vụ án không tài liệu, chứng cứ nào chứng minh các bên đã thống
nhất xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm che giấu quan hệ
vay tài sản giữa ông N và ông T1. Việc tồn tại quan hệ vay mượn tài sản giữa ông
N và ông T1 quan hệ pháp luật độc lập, khác với chủ thể của hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đang tranh chấp. Do đó, không có căn cứ pháp lý để xác
định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/12/2022 là giao dịch giả
tạo theo Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 như nhận định của cấp sơ thẩm.
Mặt khác, tài liệu chứng cứ trong hồ thể hiện ông Nguyễn Trung T1
8
không giao tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất trực tiếp cho ông T T2
bên chuyển nhượng theo hợp đồng. Qtrình giải quyết vụ án, ông T1 người
đại diện theo ủy quyền của ông T1 đều thống nhất trình bày rằng số tiền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đã được giao cho ông Phạm Trọng N. Tuy nhiên, ông
T1 không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh ông T, bà T2 đã đồng ý
hoặc ủy quyền cho ông N nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất thay mình.
Do đó, việc ông T1 giao tiền cho ông N không làm phát sinh giá trị thanh toán đối
với ông T và bà T2.
Theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bên mua nghĩa
vụ thanh toán đầy đủ cho bên bán theo thỏa thuận. Nghĩa vụ thanh toán chỉ được
xem hoàn thành khi bên nghĩa vụ giao tiền cho đúng chủ thể quyền nhận
hoặc người được ủy quyền hợp pháp. Trong vụ án này, ông T1 không chứng minh
được việc đã hoàn thành nghĩa v thanh toán đối với ông T bà T2. Không
những vậy, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông T1 không đồng ý tiếp tục
thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T, T2 vẫn giữ
quan điểm cho rằng nghĩa vụ thanh toán đã hoàn thành thông qua việc giao tiền
cho ông N. Điều này thể hiện ông T1 không tiếp tục thực hiện nghĩa vthanh toán
theo hợp đồng mặc chưa chứng minh được việc thanh toán cho đúng chủ thể
theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, mục đích giao kết hợp đồng của ông T T2 là chuyển nhượng
quyền sdụng đất để nhận tiền chuyển nhượng nhưng thực tế không nhận được
khoản tiền này tông T1. Việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã làm cho
mục đích giao kết hợp đồng của bên chuyển nhượng không đạt được, thuộc trường
hợp vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ theo khoản 2 Điều 423 của Bộ luật Dân sự
năm 2015. vậy, yêu cầu khởi kiện của ông T, T2 về việc chấm dứt hiệu lực
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/12/2022 căn cứ chấp
nhận.
Việc giải quyết theo hướng hủy bỏ hợp đồng còn bảo đảm tách bạch giữa
quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang tranh chấp với các quan hvay
nợ, giao dịch tài chính khác giữa ông Phạm Trọng N và ông Nguyễn Trung T1. Xét
về hậu quả pháp của việc hủy bỏ hợp đồng, theo khoản 1 khoản 2 Điều 427
của Bộ luật Dân sự năm 2015, khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu
lực từ thời điểm giao kết, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trong vụ án này, ông T T2 xác định chưa nhận tiền chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tông T1; ông T1 cũng không chứng minh được việc đã giao
tiền cho ông T, T2 hoặc người được ông T, T2 ủy quyền nhận tiền. Đồng
thời, nguyên đơn ông T đã rút yêu cầu buộc ông T1 giao trả Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nên không yêu cầu xem xét, giải quyết đối với nội dung này. Do
các bên thực tế không nhận của nhau tài sản, tiền thuộc đối tượng của hợp đồng
không còn tranh chấp về việc giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cấp
9
sơ thẩm không đặt ra việc giải quyết hậu quả hoàn trả giữa các bên trong vụ án này
căn cứ. Đối với các khoản tiền ông T1 cho rằng đã giao cho ông Phạm
Trọng N hoặc các tranh chấp dân sự khác giữa ông T1 và ông N, nếu có thì các bên
có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, đủ căn cứ xác định ông Nguyễn Trung T1 đã
vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 440 khoản 2
Điều 423 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, kháng cáo của ông Nguyễn Trung
T1 yêu cầu công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
30/12/2022 là không có căn cứ chấp nhận.
Việc cấpthẩm xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
30/12/2022 là giao dịch giả tạo và tuyên vô hiệu theo Điều 124 của Bộ luật Dân sự
năm 2015 chưa phù hợp. vậy, mặc không căn cứ chấp nhận nội dung
kháng cáo của ông Nguyễn Trung T1 về việc công nhận hiệu lực hợp đồng, nhưng
căn cứ sửa Bản án thẩm về căn cứ pháp luật áp dụng hậu quả pháp của
giao dịch. Theo đó, cần sửa Bản án thẩm theo hướng hủy bỏ Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/12/2022 do ông Nguyễn Trung T1 vi phạm
nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 423 Điều 440 của Bộ
luật Dân sự năm 2015, thay cho việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu do giả tạo như cấp
sơ thẩm đã xác định.
[3] Đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù
hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T1
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trung T1;
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số: 16/2026/DS-ST ngày 04/02/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 157;
Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271 Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 124; Điều 440; Điều 502 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ vào Điều 26; Điều 27; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án;
10
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T.
Hủy toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn
T, Ngô Thị Mỹ T2 với ông Nguyễn Trung T1 đối với thửa đất số 3271, tbản
đồ số 54, diện tích 1.005m
2
, tại khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long do Phòng
công chứng Nguyễn Thanh B ký ngày 30/12/2022.
[2] Đình chỉ phần yêu cầu của ông Phạm Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn
Trung T1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 3271 do Ngô Thị
Mỹ T2 đứng tên quyền sử dụng đất.
[3] Dành cho ông Nguyễn Trung T1 một vụ kiện đối với ông Phạm Trọng N
về số tiền vay gốc, lãi khi có yêu cầu.
[4] Để đảm bảo cho việc thi hành án, khi án hiệu lực pháp luật, các đương
sự nghĩa vụ giữ nguyên hiện trạng đất, không được thay đổi hoặc xây cất trồng
thêm trong diện tích đất tranh chấp dưới bất khình thức nào khi chưa được sự
đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
[5] Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Trung T1 phải chịu án pdân sthẩm với số tiền là
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Ông Phạm Văn T Ngô Thị Mỹ T2 không phải nộp án phí thuộc
trường hợp là người cao tuổi.
- Về án phí dân sphúc thẩm: Ông Nguyễn Trung T1 phải chịu 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004571 ngày
13/3/2026 của Thi hành án dân sự tinh V.
[6] Về chi pthẩm định, định giá i sản: Tổng số tiền 5.363.000 đồng
(năm triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn đồng) buộc ông Nguyễn Trung T1 phải chịu
toàn bộ số tiền này; số tiền này ông Phạm Văn T đã nộp đủ, Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 10 - Vĩnh Long thu hoàn lại cho ông Phạm Văn T nhận số tiền
này.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo qui định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo qui định Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
11
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 10 – Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 10 - Vĩnh
Long;
- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tôn Văn Thông
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 633/2026/DS-PT Bản án số 633/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 633/2026/DS-PT Bản án số 633/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất